ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA: KINH TẾ
- - - - - -
ĐỀ ÁN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mô hình kinh tế Harrod – Domar. Ứng dụng mô hình này trong việc
ban hành chính sách ở Việt Nam.
GVHD: Th.S Nguyễn Thành Long
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn
Lớp: 36K04.1
MSSV: 101121018072
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU 2
KẾT LUẬN
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu đầu tiên, hàng đầu của tất cả các nước trên
thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Điều này
càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam; đặc biệt
là trong quá trình xây dựng phát triển đất nước và theo đuổi mục tiêu tiến kịp hội nhập với
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 2 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
các nước khác trên thế giới. Để làm được điều đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu kinh tế
học. Có ba lý do khiến chúng ta phải làm điều đó. Lý do thứ nhất nghiên cứu kinh tế học
giúp chúng ta hiểu được thế giới mà chúng ta đang sống. Lý do thứ hai là nó giúp cho chúng
ta trở nên khôn khéo hơn trong nền kinh tế. Và lý do cuối cùng để nghiên cứu kinh tế học là
nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn khả năng và những giới hạn của một chính sách kinh tế. Việc
nghiên cứu kinh tế học tự nó không làm cho chúng ta trở lên giàu có nhưng nó cung cấp cho
chúng ta một số công cụ giúp chúng ta đạt tới mục tiêu đó. Ngày nay, một trong những
Vốn sản xuất và vốn đầu tư:
Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại. Nó có thể tồn
tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính. Công nghiệp hoá hiện đại hóa của nước ta hiện nay
đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn
ngoài nước đóng vai trò chủ đạo.
Vốn sản xuất:
Về mặt hiện vật, vốn sản xuất là một bộ phận của tài sản quốc gia được sử dụng vào
quá trình sản xuất của xã hội, gồm: nhà máy, công xưởng, trụ sở cơ quan, trang thiết bị, máy
móc, phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng và vốn tồn kho. Ngoài ra khối lượng tài nguyên
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 4 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
thiên nhiên đã được thăm dò và có thể khai thác cũng được coi là một loại hình của vốn sản
xuất.
Xét về công dụng, vốn sản xuất gồm 2 loại:
- Vốn sản xuất cố định gồm: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, cơ
sở hạ tầng cho sản xuất. Vốn cố định tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất chuyển dần
giá trị vào sản phẩm.
- Vốn sản xuất lưu động: Nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm, dụng cụ, phụ tùng
và các tài sản khác. Vốn lưu động được sử dụng một lần vào quá trình sản xuất, chuyển
toàn bộ giá trị vào sản phẩm.
Như vậy, vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực
tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ.
Vốn đầu tư:
Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất cụ thể , nhất thiết phải sử dụng vốn đầu tư
thông qua hoạt động đầu tư. Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, các cơ sở sản xuất kinh
doanh, tiền tiết kiệm của nhân dân và các nguồn khác được đư vào sử dụng trong quá trình
tái sản xuất xã hội nhằm duy trì năng lực sản xuất hiện có và làm tăng năng lực sản xuất
kinh doanh hoặc cải thiện điều kiện sinh hoạt.
Vốn đầu tư có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhưng chúng đều có nguồn gốc
từ tiết kiệm. Giai đoạn thực hiện vốn đầu tư chính là biến vốn đầu tư thành vốn sản xuất.
X: xuất khẩu
IM: nhập khẩu.
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm
chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 6 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân
đầu người. Hơn thế nữa quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định
là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế:
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển
kinh tế là một khái niệm rộng hơn tăng trưởng. Nếu tăng trưởng được xem là quá trình biến
đổi về lượng thì phát triển là quá trình biến đổi cả về lượng và chất của nền kinh tế. Đó là sự
kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của cả hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi
quốc gia. Phát triển kinh tế bao gồm có tăng trưởng, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
chiều hướng tiến bộ (thường xét đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành: sự gia tăng tỉ trọng
ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp), sự biến đổi ngày càng tốt
hơn trong các vấn đề xã hội (xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân,
tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch của người dân, đảm bảo phúc lợi xã hội,
giảm thiểu bất bình đẳng trong xã hội…).
Một mặt trái của đầu tư phát triển, bên cạnh việc làm tăng sản lượng của nền kinh tế,
đầu tư phát triển còn gây nên một số tác động tiêu cực như ô nhiễm, suy thoái môi trường,
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Hiện nay, ở nhiều
quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, người ta đã chú ý tới những ảnh hưởng tiêu cực
đến tương lai do tăng trưởng nhanh gây ra. Trên thế giới đã xuất hiện khái niệm mới về phát
triển, đó là phát triển bền vững. Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới WB: “Phát triển
bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Nói cách khác, phát triển bền vững là sự kết hợp
hài hòa, chặt chẽ, hợp lý cả về ba mặt: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và
0
đến P
1
.
Hình 1:
Đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy , thiết bị, phương
tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế. Trong
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 8 Lớp 36K04.1
AS0 AS1
AD
E0
E1
Y0
Y1
P0
P1
P
Y
AS
AD1
AD0
P
P1
P0
Y0 Y1
Y
E1
E0
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
Hình 2 mô tả khi vốn sản xuất tăng sẽ làm cho đường tổng cung dịch chuyển từ AS
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
cùng đư ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước
phát triển và được gọi là mô hình tăng trưởng Harrod-Domar. Mô hình này cũng được sử
dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các
nhu cầu về vốn. Xây dựng trên một khuôn khổ phân tích của Keynes, Harrod và Domar đã
nhấn mạnh vai trò của đầu tư trong tăng trưởng kinh tế. Họ xác định rằng ở một bên, đầu tư
mở rộng năng lực sản xuất. Ở phía bên kia, nó cũng tạo ra nhu cầu cho đầu ra. Cân bằng sự
tăng trưởng (được định nghĩa như là tốc độ tăng trưởng tương thích với toàn dụng lao động
dài hạn) xảy ra khi sự thay đổi trong năng lực sản xuất bằng sự thay đổi trong nhu cầu do
đầu tư. Trong khi họ đã xác định các điều kiện đó sẽ tạo ra sự tăng trưởng cân bằng, Harrod
và Domar không được thuyết phục rằng nền kinh tế sẽ tự động di chuyển về hướng điều
kiện.
Lý thuyết cổ điển được xây dựng trên cơ sở giả định nền kinh tế luôn luôn đạt tới trình
độ cân bằng trong điều kiện toàn dụng lao động; do đó quá trình tăng trưởng kinh tế phụ
thuộc hoàn toàn vào tích luỹ vốn và gia tăng lực lượng lao động. Học thuyết Keynes sơ
khai lại cho rằng toàn dụng lao động không phải tự nhiên đạt được mà cần những điều kiện
nhất định; tuy nhiên những phân tích của Keynes chỉ nhằm vào các điều kiện để toàn dụng
lao động trong tầm ngắn hạn. Để xem xét các nhân tố tạo ra quá trình tăng trưởng bền
vững, các nhà kinh tế tân cổ điển, mở đầu là R. F. Harrod (1939) và E. D. Domar (1947),
đã đề ra một phương cách tiếp cận mới.
Mô hình tăng trưởng của Harrod – domar được đưa ra trong giai đoạn khủng hoảng
kinh tế xảy ra trầm trọng trên thế giới dẫn đến tình trạng thất nghiệp liên miên, theo lý luận
của phái Keyness sản xuất luôn luôn cân bằng ở dưới mức sản lượng tiềm năng và do dó
luôn luôn tồn tại một khoảng suy thoái ∆Y. Cần phải tác động làm tăng tổng cầu để giảm
khoảng ∆Y và thúc đẩy đầu tư là biện pháp kích cầu tốt nhất. Nhưng tiết kiệm là nguồn gốc
của đầu tư, do dó, theo Harrod – Domar thì chính tiết kiệm là yếu tố tạo nên tăng trưởng
kinh tế.
Vào giữa thế kỷ XX, trong khi các nhà kinh tế cổ điển chỉ xem xét duy nhất khía cạnh
cung của vốn đầu tư và Keynes chỉ tập trung nhấn mạnh vào khía cạnh cầu trong bối cảnh
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 10 Lớp 36K04.1
1. Mức độ tiết kiệm
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 11 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
2. Năng suất của đầu tư, tức là tỷ lệ sản lượng vốn.
Mô hình này coi đầu ra của bất kì một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một
ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó.
Nếu gọi đầu ra là Y và tốc độ tăng trưởng của đầu ra là g, có nghĩa là:
g =
Y
Y
∆
Nếu gọi S là mức tích lũy của nền kinh tế thì tỷ lệ tích lũy (s) trong GDP sẽ là:
s =
Y
S
t
Vì tiết kiệm là nguồn đầu tư, nên về mặt lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết kiệm (S
t
=I
t
),
do đó cũng có thể viết:
s =
Y
Y
t
Mục đích của đầu tư là để tạo ra vốn sản xuất, nên I
t
= ∆K
t
I
I
t
t
∗
∆∗
=
Y
I
t
:
Y
I
t
∆
Do đó chúng ta có:
g =
k
s
Từ quan hệ trên ta, chúng ta có thể rút ra được hai điểm cơ bản sau:
Một là: Xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế cho thời kỳ mới khi xác định được khả
năng tiết kiệm của nền kinh tế thời kỳ gốc và dự báo hệ số ICOR thời kỳ kế hoạch là một
trong những căn cứ quan trọng đối với các nhà hoạch định trong xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội.
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 12 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
Hai là: Khi đứng trước một mục tiêu tăng trưởng do yêu cầu của các cấp lãnh đạo
đặt ra, mô hình cho phép chúng ta xác định được nhu cầu tích luỹ cần có để đạt được mục
tiêu đó. Là căn cứ để đánh giá khả năng đạt mục tiêu đã đề ra
Hệ số ICOR nói lên rằng, vốn sản xuất được tạo ra bằng đầu tư dưới dạng nhà máy,
những căn cứ quan trọng đối với các nhà hoạch định trong xây dựng chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội.
- Khi đứng trước một mục tiêu tăng trưởng do yêu cầu của các cấp lãnh đạo đặt ra, mô
hình cho phép chúng ta xác định được nhu cầu tích lũy cần có để đạt được mục tiêu đó. Là
căn cứ để đánh giá khả năng đạt mục tiêu đẫ đề ra.
Hạn chế:
Mặc dù mô hình Harrod-Domar có một bước tiến mạnh mẽ so với mô hình cổ điển,
nhưng nó vẫn còn một yếu điểm quan trọng là về dài hạn, cân bằng trong tăng trưởng kinh
tế kém bền vững do những điều kiện giả định của nó quá chặt (ví dụ tỷ lệ giữa các nhân tố
sản xuất như vốn và lao động không đổi; tỷ lệ tiết kiệm và hệ số vốn - sản phẩm cố định
nếu muốn duy trì tình trạng tăng trưởng bền vững; mức giá cả và lãi suất cũng không đổi
theo thời gian ). Nếu các tham số cơ bản trong mô hình thay đổi thì tỷ lệ tăng trưởng thực
tế sẽ chệch xa khỏi tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng, và quá trình tăng trưởng dài hạn, bền vững
có nguy cơ không đạt.
Mô hình Harrod-Domar chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quả tương tác giữa tiết kiệm
với đầu tư và đầu tư là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế thì
tăng trưởng kinh tế có thể xảy ra không phải vì lý do táng đầu tư, hoặc ngược lại, nếu đầu
tư không có hiệu quả vẫn có thể dẫn đến không có sự tăng trưởng. Kể cả trong trường hợp
đầu tư có hiệu quả thì sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm cũng chỉ có thể tạo nên gia tăng tôc độ
tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn chứ không thể đạt được trong dài hạn.
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 14 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế là không giống nhau. Tăng trưởng
kinh tế là một điều kiện đủ cần thiết nhưng không phải cho phát triển
- Thực tế nó là khó khăn để kích thích mức độ tiết kiệm trong nước, đặc biệt là trong
trường hợp của các nước kém phát triển, nơi thu nhập thấp.
+ Tạo ra mất cân đối giữa tích luỹ - tiêu dùng
+ Tạo ra sự phụ thuộc bởi các nguồn vốn vay
+ Chính phủ trở thành con nợ lớn và nguy cơ phá sản cận kề.
- Vay từ nước ngoài để lấp đầy khoảng trống do tiết kiệm không đủ gây ra vấn đề trả
kiệm khác nhau, thì không thể xảy ra sự hội tụ nếu tỷ lê tiết kiệm của hai nền kinh tế này
không thay đổi.
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 16 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
Chương 2: Ứng dụng mô hình Harrod-domar
trong việc ban hành các chính sách ở Việt Nam.
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên
thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặc biệt là từ sau
năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt mục
tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên thì đầu tư là một yếu tố cực kỳ
quan trọng vì đầu tư, nói rõ hơn là đầu tư phát triển, không những làm gia tăng tài sản của
cá nhân nhà đầu tư, mà còn trực tiếp làm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế, có tác
động rất mạnh mẽ đến phát triển kinh tế. Đã có nhiều lý thuyết về đầu tư được nêu ra nhằm
phân tích tác động của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển dưới nhiều khía cạnh khác nhau
như lý thuyết số nhân đầu tư, lý thuyết gia tốc đầu tư, mô hình Harrod – Domar
Chính phủ Việt Nam với vai trò của mình đã luôn nỗ lực tạo điều kiện tốt nhất cho
mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và kết quả là Việt Nam đã trở thành thành viên chính
thức của tổ chức kinh tế thế giới WTO từ ngày 1/1/2007. Đây vừa là cơ hội vừa là thách
thức lớn đặt ra đối với Việt Nam khi nền kinh tế còn non trẻ, khả năng kiểm soát các luồng
vốn đầu tư ( trong nước và từ bên ngoài vào) còn hạn chế. Nếu không có một cái nhìn đúng
đắn về đầu tư thì nền kinh tế Việt Nam sẽ rất khó đứng vững trước làn sóng vốn tràn vào
Việt Nam và luôn biến động một cách mạnh mẽ như hiện nay.
Vận dụng mô hình Harod-Domar trong lập kế hoạch tăng trưởng kinh tế.
Để lập kế hoạch tăng trưởng cần phải triển khai công tác dự báo tốc độ tăng trưởng
kinh tế, trên cơ sở đó để đưa ra những kế hoạch, chính sách định hướng cho sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế.
g =
k
s
tư nước ngoài. Trong các nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế (lao động, vốn, tài
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 18 Lớp 36K04.1
Đề án môn: Kinh tế phát triển GVHD: Th.S: Nguyễn Thành Long
nguyên thiên nhiên, công nghệ,…) ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay thì yếu tố vốn
được coi là nhân tố quan trọng nhất.
Trong kinh tế học, hệ số ICOR được tính toán làm cơ sở tham chiếu, xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế trong ngắn hạn (theo quý, nửa năm hoặc một năm). ICOR giúp các
nhà lập kế hoạch tăng trưởng kinh tế xác định để kinh tế kỳ này cứ tăng 1% so với kỳ trước
thì cần tăng vốn đầu tư trong kỳ này lên bao nhiêu phần trăm so với kỳ trước.
Hệ số ICOR còn được sử dụng để so sánh vai trò của vốn với các yếu tố tăng trưởng
khác như: công nghệ, hoặc so sánh hiệu quả sử dụng vốn (hay hiệu quả đầu tư) giữa các
thời kỳ hoặc giữa các nền kinh tế. Hệ ICOR cao hơn chứng tỏ thời kỳ đó hoặc nền kinh tế
đó sử dụng vốn kém hơn.
Với nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, theo khuyến cáo của các định chế tài
chính có uy tín như Ngân hàng Thế giới, ICOR ở mức 3 là đầu tư có hiệu quả và nền kinh
tế phát triển theo hướng bền vững.
Theo con số thống kê qua từng giai đoạn, từ năm 1995, hệ số ICOR của Việt Nam
liên tục tăng: từ mức 3,5 giai đoạn 1991 – 1995, tăng đến 5,24 giai đoạn 2001 – 2003. Năm
2008, hệ số ICOR của nền kinh tế là 6,6 – đã gấp hơn 2 lần mức khuyến nghị, và đến năm
2012, ICOR là 6.7. Nói nôm na là phải bỏ ra 6.7 đồng vốn đầu tư mới được một đồng tăng
trưởng!
Hệ số ICOR cao chứng tỏ tăng trưởng kinh tế không dựa nhiều vào yếu tố công nghệ.
So sánh với các nước trong khu vực, ICOR của Việt Nam gần gấp đôi, có nghĩa là hiệu
suất đầu tư của nước ta chỉ bằng một nửa.
Một số chuyên gia kinh tế ví von việc này cũng giống như một lực sĩ cử tạ phải tốn
sức gấp đôi mới nâng được quả tạ cùng cân mục-tiêu-tăng-trưởng. Tính cạnh tranh của nền
kinh tế, vì vậy mà cũng bị giảm đi. ICOR cao phản ánh hiệu quả đầu tư ngày càng thấp đi.
Điều đáng nói ở khu vực đầu tư công, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước, thành
phần chủ đạo của nền kinh tế, thì hệ số ICOR lại cao vọt. Nếu hệ số ICOR chung của nền
kinh tế là 6.7, ICOR của khu vực kinh tế Nhà nước lên tới 7.5.
trưởng ổn định tự nhiên, tương tự với Keynes niềm tin.
SVTH: Nguyễn Anh Tuấn Trang 21 Lớp 36K04.1