TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA DU LỊCH
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề tài: Phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi
trường tại Đà Nẵng
MỤC LỤC
ĐÀ NẴNG, 2012
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ DU LỊCH –
MÔI TRƯỜNG 4
KẾT LUẬN 27
Trang 2
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LỜI MỞ ĐẦU
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị trí quan
trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia. Việt nam là một nước được biết đến với danh
lam thắng cảnh nổi tiếng được thế giới công nhận là di sản văn hóa thế giới: Vịnh Hạ Long,
Phong Nha Kẻ Bàng, Thánh địa Mỹ Sơn, Cố Đô Huế, Phố Cổ Hội An,… cùng với điều kiện
tự nhiên phong phú và đa dạng. Nằm trên bán đảo Đông Dương ở Đông Nam Á, về đường
thủy Việt Nam thuận tiện về địa lý là điểm gặp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Về
đường bộ phía Bắc Việt Nam tiếp giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; phía Tây tiếp
giáp hai nước Lào và Campuchia; phía Đông và Nam tiếp giáp biển Đông và vịnh Thái Lan.
Tổng chiều dài đường biển trên đất liền của Việt Nam là trên 3.730 km, thuận lợi cho phát
triển du lịch nghỉ biển và du lịch sinh thái. Việt Nam đã và đang là điểm đến lý tưởng của
bạn bè du khách quốc tế, tiêu biểu là Thành phố Đà nẵng. Thành phố Đà Nẵng đã và đang
trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút ngày càng đông du khách trong nước và quốc tế. Việc
phát triển du lịch nhanh chóng như vậy cũng nhờ vào những thế mạnh về nguồn tài nguyên
hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam
(1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.
Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ
dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải
trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, …
Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có
hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn
hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình
Trang 4
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doah mang lại hiệu quả
rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc
đẩy sự phát triển du lịch. Cho đến nay, không ít người chỉ cho rằng du lịch là một ngành
kinh tế. Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó cũng
có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh
doanh. Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí,
phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết, … Chính vì vậy, toàn
xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo
dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác.
Theo Luật Du Lịch Của Quốc Hội Nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa
XI, kỳ họp thứ 7 (Số 44/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005): Du lịch là hoạt động của
con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải
trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), Du lịch bao gồm tất cả
mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và
tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích
hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm,
ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là
Trong thành phần cấu trúc của môi trường du lịch tự nhiên, môi trường địa chất được biểu
thị qua các chỉ số cụ thể như các chỉ số về độ bền vững của đất đá, các chỉ số địa chất công
trình cho việc xây dựng các quần thể du lịch, mức độ, khả năng xảy ra các chấn động địa
chất, hiện tượng trượt lở ở những khu vực có các hoạt động du lịch; độ phóng xạ và khả
năng khai thác lãnh thổ cho mục đích du lịch; các chỉ số về đặc điểm địa hình…
- Môi trường nước: là bộ phận cấu thành quan trọng của môi trường tự nhiên, có ý
nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của sự sống, và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên
trái đất. Những biến động của môi trường nước thường dẫn đến những biến động về chất
lượng sống toàn cầu hoặc từng khu vực cụ thể.
Trang 6
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Trong nghiên cứu môi trường du lịch, môi trường nước được đánh giá nhiều ở góc độ liên
quan đến khả năng cấp và chất lượng nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, vui chơi giải trí và
tắm biển, nghỉ dưỡng và chữa bệnh của du khách.
- Môi trường không khí: Môi trường không khí là bộ phận của môi trường tự nhiên tồn
tại dưới dạng thể khí. Trong môi trường du lịch, môi trường không khí có ảnh hưởng lớn đến
việc hoạch định các khu du lịch nghỉ dưỡng, đến tổ chức mùa vụ khai thác du lịch… Các
yếu tố của môi trường không khí có vai trò khá lớn trong việc xem xét quyết định hướng quy
hoạch khu du lịch, bố trí không gian và phác đồ kiến trúc quần thể du lịch. Đánh giá chất
lượng môi trường cho hoạt động du lịch qua nghiên cứu mức độ ô nhiễm của không khí,
mức độ thuận lợi và thích hợp của thời tiết và khí hậu đối với việc tổ chức hoạt động du lịch,
nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ của du khách.
- Môi trường sinh học: được xem là bộ phận sống (hữu cơ) của môi trường tự nhiên.
Môi trường sinh học là cơ sở duy trì và phát triển cuộc sống trên hành tinh, điều hòa cán cân
nước, làm sạch bầu khí quyển, cung cấp lương thực thực phẩm cho xã hội do đó môi trường
sinh học có vai trò rất to lớn trong việc thiết lập và bảo vệ cân bằng sinh thái của tự nhiên.
Những biến đổi của môi trường sinh học cả về lượng và chất có ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống và hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch trên hành tinh.
Một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sinh học là đa dạng sinh học. Đa dạng
sinh học là một đặc tính quan trọng của môi trường sinh học, có ảnh hưởng lớn đến tổ chức
Phát triển du lịch là hoạt động dựa việc khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh
thái, truyền thống văn hoá, lịch sử để đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và du lịch quốc tế.
1.1.4 Bảo vệ môi trường du lịch
Bảo vệ môi trường du lịch là những hoạt động góp phần giữ cho môi trường du lịch
xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn, lành mạnh và văn minh; ngăn chặn, khắc phục các hậu quả
xấu do con người tác động đến môi trường du lịch; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên.
Trang 8
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
1.2 Các nội dung trong phát triển du lịch
1.2.1 Nguyên tắc phát triển du lịch
- Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa kinh tế,
xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá - lịch
sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch.
- Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn
cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch.
- Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát
triển du lịch.
- Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất
nước, con người Việt Nam.
- Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày
càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam.
1.2.2 Chính sách phát triển du lịch
- Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du
lịch để bảo đảm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
- Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ
chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực sau đây:
• Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch;
• Tuyên truyền, quảng bá du lịch;
hàng hoá của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của người dân địa phương.
Trang 10
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
1.3 Các nội dung bảo vệ môi trường du lịch
Những nội dung QLNN cơ bản về bảo vệ môi trường du lịch sẽ bao gồm :
- Xây dựng chính sách, quy chế về bảo vệ môi trường du lịch.
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du
lịch.
- Xây dựng và ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch.
- Tổ chức hoạt động phòng chống ô nhiễm môi trường :
Đây là một trong những nội dung quan trọng cơ bản của công tác bảo vệ môi trường du
lịch. Những hoạt động chính của nội dung bảo vệ môi trường du lịch này bao gồm :
+ Thu gom và xử lý chất thải từ hoạt động du lịch (rác thải, nước thải).
+ Hạn chế và xử lý chất thải khí từ các hoạt động du lịch như vận chuyển khách du
lịch, vận hành hệ thống làm lạnh tại các cơ sở dịch vụ du lịch, v.v.
- Thực hiện đảm bảo vệ sinh môi trường ở các khu, điểm thăm quan du lịch.
- Thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển du lịch.
- Sử dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch nhằm hạn chế chất thải từ hoạt động
du lịch ra môi trường.
- Tổ chức hoạt động phòng chống, hạn chế tác động sự cố môi trường :
+ Phối hợp với các ngành chức năng bảo vệ các công trình phòng chống sự cố môi
trường; không vận chuyển, sử dụng, cất giữ các chất độc hại, chất dễ gây cháy nổ có
khả năng gây sự cố môi trường.
+ Phối hợp với các ngành chức năng thu gom, xử lý các chất độc hại đến môi trường do
hậu quả của các sự cố như tràn dầu, rò rỉ hoá chất, phóng xạ, v.v. ở những khu vực diễn
ra hoạt động du lịch.
- Tổ chức hoạt động phòng chống, hạn chế tai biến môi trường :
+ Phối hợp với các ngành chức năng, các địa phương bảo vệ các công trình BVMT,
công trình có liên quan đến BVMT.
Sự tồn tại và phát triển của du lịch với tư cách là một ngành kinh tế gắn liền với khả
năng khai thác tài nguyên, khai thác đặc tính của môi trường xung quanh. Chính vì vậy hoạt
động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường. Các cảnh đẹp của thiên nhiên như
núi, sông, biển , các giá trị văn hoá như các di tích, công trình kiến trúc nghệ thuật hay
những đặc điểm và tình trạng của môi trường xung quanh là những tiềm năng và điều kiện
cho phát triển du lịch. Ngược lại, ở chừng mực nhất định, hoạt động du lịch tạo nên môi
trường mới hay góp phần cải thiện môi trường như việc xây dựng các công viên vui chơi
giải trí, các công viên cây xanh, hồ nước nhân tạo, các làng văn hoá du lịch Như vậy, rõ
ràng rằng hoạt động du lịch và môi trường có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau và nếu
khai thác, phát triển hoạt động du lịch không hợp lý có thể sẽ là nguyên nhân làm suy giảm
giá trị của các nguồn tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường và cũng có nghĩa là làm
suy giảm hiệu quả của chính hoạt động du lịch.
1.4.1 Ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động phát triển du lịch
Trang 12
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Sự phát triển của bất kỳ ngành kinh tế nào cũng gắn liền với vấn đề môi trường. Điều
này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với sự phát triển của ngành kinh tế tổng hợp có tính liên
ngành, liên vùng, và xã hội hoá cao như du lịch. Môi trường được xem là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch, qua đó ảnh
hưởng đến khả năng thu hút khách, đến sự tồn tại của hoạt động du lịch.
Những ảnh hưởng chủ yếu của môi trường đến hoạt động phát triển du lịch được thể
hiện trên Sơ đồ :
Sơ đồ 2.1: Tác động của môi trường đến du lịch
Như vậy có thể thấy trạng thái môi trường (chất lượng, điều kiện, sự cố - tai biến) ở
những mức độ và khía cạnh khác nhau sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động phát
triển du lịch.
1.4.2 Tác động của hoạt động phát triển du lịch đến môi trường
1.4.2.1 Ảnh hưởng tích cực từ hoạt động du lịch lên môi trường
Sự phát triển nhanh chóng của du lịch thời gian qua đã góp phần tích cực vào phát triển
các vùng miền khác cùng tham gia.
1.4.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực từ hoạt động du lịch lên môi trường
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch đã có những tác động tiêu cực
nhất định đến môi trường do tốc độ phát triển quá nhanh trong điều kiện còn thiếu phương
Trang 14
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
tiện xử lý môi trường, nhận thức và công cụ quản lý nhà nước về môi trường còn hạn chế…,
từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực đến môi trường. Tại nhiều khu vực, do tốc độ phát triển quá
nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài khả năng và nhận thức về quản lý nên đã tạo sức ép
lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy
thoái lâu dài.
* Đối với môi trường tự nhiên
- Hoạt động du lịch làm tăng áp lực về chất thải sinh hoạt, đặc biệt ở các trung tâm du
lịch, góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước. Theo tính toán của Tổ chức
Du lịch Thế giới (WTO) và số liệu điều tra ban đầu, lượng chất thải trung bình từ sinh hoạt
của du khách là khoảng 0,67kg chất thải rắn/khách/ngày và 100 lít nước thải/khách/ngày.
Đây là những nguồn chính có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động du lịch.
- Khách du lịch, đặc biệt khách từ các nước phát triển thường sử dụng nhiều nước và
những tài nguyên khác, đồng thời lượng chất thải tính theo đầu người thường lớn hơn đối
với người dân địa phương.
- Cùng với việc tăng số lượng khách, nhu cầu nước cho sinh hoạt của khách du lịch
tăng nhanh (trung bình khoảng 100 - 150 lít /ngày đối với khách du lịch nội địa, 200 - 250 lít
/ngày đối với khách quốc tế). Điều này sẽ làm tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm các nguồn
nước ngầm hiện đang khai thác, đặc biệt ở vùng ven biển do khả năng xâm nhập mặn cao
khi áp lực các bể chứa giảm mạnh vì bị khai thác quá mức cho phép. Hiện tượng này đã
quan sát thấy ở nhiều khu vực có hoạt động du lịch tập trung như Đà Nẵng Vấn đề này sẽ
càng trở nên nghiêm trọng vào mùa du lịch.
- Tăng thêm sức ép lên quỹ đất tại các vùng ven biển vốn đã rất hạn chế tại vùng ven
biển, miền núi trung du… do bị khai thác sử dụng cho mục đích xây dựng các bến bãi, hải
cảng, nuôi trồng thủy sản và phát triển đô thị.
là ách tắc giao thông, các nhu cầu về cung cấp nước, năng lượng của hệ thống xử lý nước
thải, xử lý chất thải rắn vượt quá khả năng của địa phương.
- Các hoạt động du lịch chuyên đề như khảo cổ học có thể nảy sinh mâu thuẫn với các
hoạt động tín ngưỡng truyền thống ở địa phương.
Trang 16
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
- Mâu thuẫn nảy sinh giữa những người làm du lịch với dân cư địa phương do việc
phân bố lợi ích và chi phí của du lịch trong nhiều trường hợp chưa được công bằng.
Trên phạm vi toàn cầu cũng như khu vực, du lịch tất yếu có những tác động quan trọng
đối với môi trường. Những tác động này liên quan đến sự tiêu thụ tài nguyên, cũng như sự ô
nhiễm do các chất thải phát sinh từ các hoạt động du lịch như tổ chức tham quan, phục vụ ăn
ở, đi lại của du khách
Trang 17
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐÀ NẴNG TRONG YÊU
CÀU BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
2.1 Tình hình phát triển du lịch Đà Nẵng
Đà Nẵng là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ của miền Trung -
Tây Nguyên; là thành phố cảng, đầu mối giao thông quan trọng (cảng biển, sân bay quốc tế,
giao thông xuyên Việt, xuyên Á) về trung chuyển và vận tải quốc tế của miền Trung - Tây
Nguyên và các nước khu vực sông MêKông; là trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính
- ngân hàng; là một trong những trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục - đào tạo, trung tâm
khoa học công nghệ của miền Trung. Đà Nẵng còn giữ một vị trí chiến lược quan trọng về
an ninh quốc phòng khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước.
Trong những năm qua, du lịch Đà Nẵng có những bước phát triển nhanh và khá toàn
diện, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng về vấn đề sử dụng các nguồn lực, chưa đáp ứng
được đầy đủ các nhu cầu của khách du lịch trong nước cũng như quốc tế.
Trong 6 tháng đầu năm 2012, Đà Nẵng đã đón trên 1,3 triệu lượt du khách, tăng 9% so
với cùng kỳ năm 2011, đạt 51% kế hoạch năm 2012 với gần 3.000 tỷ đồng doanh thu từ hoạt
động du lịch. Trong đó khách quốc tế ước đạt 351.545 lượt, tăng 18% so với cùng kỳ năm
khoảng gấp 8 lần các mô hình du lịch thuần túy.
Thành phố hiện có 15 di tích cấp quốc gia, trong đó nhiều di tích lịch sử, công trình văn
hoá đã được đầu tư, tôn tạo, xây dựng mới, góp phần phát triển văn hoá và du lịch thành
phố. Hàng năm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đều tổ chức Chương trình Liên hoan biển
“Đà Nẵng - Điểm hẹn mùa hè” với các hoạt động du lịch biển sôi động. Bên cạnh đó, sự ra
đời của nhiều khách sạn, khu du lịch, resort ven biển như hiện nay, du lịch biển Đà Nẵng
đang ngày càng phát triển. Cùng với nghỉ dưỡng, các loại hình thể thao, giải trí biển cũng
bước đầu được các đơn vị quan tâm khai thác.
Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch được tăng cường; đã xúc tiến mở các đường bay
trực tiếp từ Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hồng Kông… đến Đà Nẵng; triển khai xây dựng
phòng thông tin du lịch đặt tại Sân bay quốc tế Đà Nẵng, đặt các ki-ốt thông tin du lịch, tổ
chức nhiều chương trình du lịch làm quen dành cho các hãng lữ hành và báo chí quốc tế.
Công tác xúc tiến du lịch đường biển cũng được đẩy mạnh, hàng năm đón hơn 40 tàu du lịch
cập Cảng Đà Nẵng với hơn 28.000 khách. Thành phố khai thác khá tốt lợi thế tuyến hành
lang kinh tế Đông Tây, tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá tại thị trường Thái Lan để
Trang 19
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
khai thác mạnh khách đường bộ, đặc biệt là loại hình du lịch caravan; đa dạng hóa các loại
hình tuyên truyền quảng bá như: panô du lịch, DVD phim du lịch, bản đồ, bản tin du lịch,
sách cẩm nang du lịch, trang web du lịch, Tạp chí Văn hoá - Du lịch Đà Nẵng… Công tác
liên kết, hợp tác quốc tế về du lịch ngày càng được chú trọng, như: Đà Nẵng là thành viên
Tổ chức xúc tiến du lịch các thành phố khu vực châu Á – Thái Bình Dương (TPO); tranh thủ
sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như JICA (Nhật), EU thực hiện quy hoạch phát triển du
lịch, đào tạo nguồn nhân lực du lịch…
Đà Nẵng đang từng bước khẳng định được thế và lực để phát triển du lịch trong những
năm tới. Tuy nhiên, sự đầu tư và phát triển vẫn chưa tương xứng với những tiềm năng Đà
Nẵng vốn có. Biển là thế mạnh của du lịch Đà Nẵng, những năm qua, tuy đã có sự đầu tư
cho cơ sở hạ tầng song cũng chỉ ở mức cơ bản (điện, đường) mà chưa tạo được sự đồng bộ.
Con đường ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc vẫn đang trong quá trình từng bước hoàn thiện.
Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt vẫn đổ hết ra biển gây ô nhiễm môi trường và mất vẻ mỹ
Nước chảy ra biển là nước thải có nguồn gốc từ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh dịch vụ và
du lịch, vì thế việc ô nhiễm bãi biển là đương nhiên. Thành phố đang thực hiện đề án "Xây
dựng TP. Đà Nẵng thành thành phố môi trường đến năm 2020". Do đó, để làm được điều
này, ngoài sự ra tay quyết liệt của chính quyền, còn cần ý thức của người dân thành phố, chủ
các nhà hàng khách sạn, khu du lịch.
2.3. Phân tích quan hệ phát triển du lịch và bảo vệ môi trường
Việc khai thác hợp lý, phục hồi, cải tạo và tái tạo tài nguyên du lịch sẽ làm tốt lên chất
lượng môi trường du lịch, làm tăng sức hấp dẫn tại các điểm, khu du lịch. Ngược lại, việc
khai thác không đồng bộ, không có các biện pháp phục hồi, tái tạo tài nguyên du lịch sẽ dẫn
đến việc phá vỡ cân bằng sinh thái, gây nên sự giảm sút chất lượng môi trường, sự đi xuống
của hoạt động du lịch cũng như chất lượng của môi trường du lịch ở khu vực đó.
Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lượng khách du lịch, tăng
cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên , từ đó dẫn
đến sự gia tăng áp lực của du lịch đến môi trường. Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát
triển quá nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo
sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy
cơ suy thoái lâu dài.
Trang 21
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Trong những năm gần đây, phát triển du lịch Đà Nẵng có những bước tiến mạnh mẽ.
Sự phát triển các khu du lịch trong thời gian qua, đặc biệt là có rất nhiều dự án phát triển du
lịch ven biển, ven sông; một mặt góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách du
lịch nhưng một mặt cũng tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và cảnh quan.
Tính đến năm 2009, Đà Nẵng có 29 dự án du lịch ven biển, chiếm diện tích tổng số
1.234,5 ha. Tất cả các dự án phát triển du lịch ven biển đều tác động đến môi trường. Tuy
nhiên, quá trình xây dựng của các dự án ven biển đã ảnh hưởng đến quá trình bồi lấp, cuốn
đi cát biển ven bờ, làm gia tăng lượng bùn lắng đọng ở các khu vực ven bờ, ảnh hưởng đến
các loài sinh vật sống vốn rất ngạy cảm với môi trường. Mặc dù các dự án du lịch ven sông
đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, một số dự án ven biển vẫn chưa nối vào hệ
thống thoát nước đô thị, lượng nước thải này chủ yếu là tự thấm và thải ra môi trường xung
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN LIỀN VỚI BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1 Các căn cứ, tiền đề
* Căn cứ Luật Bảo Vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005.
* Các văn bản quy phạm pháp luật, đề án và dự án được về môi trường ở Thành phố Đà
nẵng:
- Đề án “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường”.
- Đề án sử dụng năng lượng tiết kiệm và Ứng dụng năng lượng tái tạo trên địa bàn
Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011- 2015.
- Đề án thu gom rác theo giờ” theo Quyết định số 2838/QĐ-UBND ngày 13/4/2012 của
UBND thành phố Đà Nẵng.
3.2 Phương hướng
Đà Nẵng đang phấn đấu hoàn thành xây dựng đề án “Thành phố môi trường vào năm
2020” để đem lại lợi ích cho con người, thu hút đầu tư chất lượng và du khách trong và
ngoài nước đến với Đà Nẵng. Các giải pháp phát triển du lịch gắn liền với bảo vệ môi trường
du lịch Đà Nẵng cũng là một hình thức để Đà Nẵng nhanh tiến đến hoàn thành đề án “Thành
phố môi trường”.
3.3 Các biện pháp
Một số biện pháp để bảo vệ và cải thiện môi trường du lịch:
* Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục cộng đồng, du khách tham gia bảo vệ môi trường
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp
hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt
động bảo vệ môi trường.
- Nâng cao nhận thức về việc bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch cho khách du lịch
và cộng đồng dân cư thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, banner, áp phích.
* Giải pháp về đào tạo
- Tổ chức các lớp tập huấn về du lịch
Trang 24
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
- Hình thành đội ngũ hướng dẫn viên du lịch sinh thái thông thạo địa hình, có kiến thức