Những thành tựu và đóng góp
của SEMLA trong Phát triển
Chính sách và Pháp luật
Bảo vệ Môi trường tại Việt Nam
môi trường (Chương trình SEMLA) nhằm xác nhận những kết quả đạt được và sự
đóng góp của Chương trình đối với các hoạt động tăng cường năng lực trong quản lý
đất đai và môi trường nói chung, trong phát triển chính sách và pháp luật về môi
trường nói riêng.
Tiến sỹ Vũ Thu Hạnh- Phó Chủ nhiệm Khoa Pháp luật Kinh tế (Trường Đại học Luật
Hà Nội) là chuyên gia trong nước được lựa chọn để tiến hành các hoạt động:
Rà soát các hoạt động hỗ trợ của SEMLA đối với công tác xây dựng và phát
triển chính sách và pháp luật liên quan đến quản lý tài nguyên và bảo vệ môi
trường tại Việt Nam trong thời gian qua;
Đánh giá mức độ tiếp thu của Việt Nam trước sự hỗ trợ của SEMLA trong
những lĩnh vực nêu trên;
Kiến nghị những nội dung cần được tiến hành trong thời gian tới.
Báo cáo được tiến hành trên cơ sở tổng hợp các báo cáo kết quả cụ thể của từng
hoạt động được Chương trình SEMLA hỗ trợ và được cung cấp bởi các cơ quan, đơn vị
trực tiếp triển khai các hoạt động phát triển chính sách và pháp luật môi trường, tập
trung vào một số nội dung: Tăng cường hiệu lực pháp luật bảo vệ môi trường, rà
soát và xây dựng các dự thảo hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường năm
2005, phát triển các công cụ kinh tế, kỹ thuật phục vụ quản lý và bảo vệ môi trường
(Thuế, phí môi trường, tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, đánh giá môi
trường chiến lược,...), các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển dịch vụ môi
trường, mô hình cộng đồng tự quản bảo vệ môi trường, hỗ trợ xây dựng chính sách
quản lý chất thải nguy hại... 2. ĐÁNH GIÁ THÔNG QUA CÁC ĐÓNG
GÓP CỤ THỂ 2.1. Hỗ trợ việc thực thi Luật Bảo vệ Môi trường 2005
vệ môi trường nhằm thu hút đầu tư khi Việt nam là thành viên của tổ chức
Thương mại thế giới;
Hỗ trợ xây dựng các cơ chế, chính sách nhằm duy trì, nhân rộng các mô hình
cộng đồng dân cư tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường;
Hỗ trợ xây dựng và ban hành một số quy chuẩn kỹ thuật về môi trường: Bộ
TNMT đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 quy
định các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, chất lượng nước ngầm,
chất lượng nước vùng đới bờ, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các quá trình
nuôi trồng thủy sản, nước thải từ ngành dệt...
Hỗ trợ xây dựng các định mức phục vụ cho thu phí bảo vệ môi trường; phí
bảo vệ môi trường đối vớ khí thải, mô hình thu hồi sản phẩm đã qua sử
dụng hoặc thải bỏ;
Hỗ trợ việc hình thành cơ chế bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi
trường;
Tăng cường năng lực cho các cán bộ làm công tác quản lý môi trường về
thực thi các tiêu chuẩn môi trường/quy chuẩn kỹ thuật về môi trường và
kiểm tra, đánh giá tình hình tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường trên thực tế
tại một số điểm nóng về môi trường thuộc các vùng phát triển kinh tế trọng
điểm...).
Hỗ trợ xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về phục hồi môi trường sau khi khai
thác khoáng sản.
2.3. Hỗ trợ việc xây dựng các quy định về Đánh giá Môi trường
chiến lược (ĐMC)
[1]. Đánh giá môi trường chiến lược được phát triển trên cơ sở các quy định về đánh
giá tác động môi trường đối với các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch được quy
định từ Luật Bảo vệ môi trường 1993. Tuy là vấn đề pháp lý không mới nhưng đây lại
là nội dung rất khó hình dung và áp dụng trên thực tế so với hoạt động đánh giá tác
động môi trường đối với một dự án đầu tư cụ thể.
[2]. Sự hỗ trợ của SEMLA góp phần làm sáng tỏ những vấn đề kỹ thuật trong việc áp
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường; Hai là, tham
khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc xác định thiệt hại và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường; Ba là, khảo sát thực tiễn bồi
thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại một số địa phương; Bốn là, xây
dựng các quy định về xác định thiệt hại do làm ô nhiễm, suy thoái môi trường; Năm
là, tổ chức nhiều cuộc hội thảo về tham vấn chuyên gia về cách thức xác định thiệt
hại đối với môi trường.
[3]. Đến thời điểm này, Dự thảo Nghị định quy định về xác định thiệt hại do ô nhiễm,
suy thoái môi trường gây ra đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo và trình
Chính phủ để ban hành trong thời gian tới. Theo đó, những nội dung chính được đề
cập như sau:
Thu thập số liệu ô nhiễm, suy thoái môi trường, gồm các nội dung cụ thể: i)
Thu thập và lưu giữ số liệu, chứng cứ về ô nhiễm, suy thoái môi trường; ii)
Thu thập số liệu, chứng cứ về ô nhiễm, suy thoái môi trường để tính toán
thiệt hại; iii) Hồ sơ lưu giữ số liệu, chứng cứ về ô nhiễm, suy thoái môi
trường.
Tính toán thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra, gồm các nội
dung cụ thể: i) Nguyên tắc tính toán thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi
trường gây ra; ii) Cơ sở tính toán thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường
gây ra; iii) Tính toán thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây ra theo công thức:
HDHSTĐN
TTTTT
(Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây ra đối với một
khu vực địa lý được tính bằng tổng các thiệt hại: Thiệt hại do ô nhiễm, suy
thoái gây ra đối với môi trường nước với thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây
ra đối với môi trường đất với thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây ra đối với
hệ sinh thái tự nhiên với thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây ra đối với loài
hoang dã).
Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, gồm các nội dung cụ thể: Xác
định đối tượng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và trách nhiệm bồi thường
cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn.
[3]. Đến thời điểm này, Dự thảo Phí bảo vệ môi trường đối với khí thải đã được hoàn
chỉnh, với những nội dung chính như sau:
Đối tượng chịu phí là bụi lơ lửng (TSP), khí lưu huỳnh đioxit (SO2), khí các
oxit nitơ (NOx) và khí cacbon oxit (CO) phát tán ra môi trường từ việc chế
biến nguyên vật liệu, đốt nhiên liệu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và giao thông vận tải là đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với
khí thải.
Đối tượng nộp phí, gồm: tổ chức, cá nhân là chủ các phương tiện giao thông
cơ giới sử dụng xăng dầu; tổ chức, cá nhân là chủ các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ sử dụng máy móc, thiết bị, phương tiện để chế biến nguyên
vật liệu, đốt cháy nhiên liệu phát tán ra môi trường các chất gây ô nhiễm.
Miễn trừ trách nhiệm nộp phí đối với các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiên
liệu đốt cháy phục vụ mục đích sinh hoạt hàng ngày.
Mức phí bảo vệ môi trường đối với khí thải là khoản tiền tổ chức, cá nhân
phải nộp khi chế biến nguyên vật liệu, đốt cháy nhiên liệu phát tán ra môi
trường 1 (một) kg chất gây ô nhiễm quy định. Mức phí bảo vệ môi trường
đối với khí thải cao nhất dự tính áp dụng là 7000đồng/kg đối với các chất
gây ô nhiễm là SO2 (lưu huỳnh dioxit) và CO (cacbon oxit); mức thấp nhất
dự kiến áp dụng là 1.000đồng/kg đối với bụi lơ lửng.
[4]. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã xây dựng Dự thảo Thông tư hướng dẫn
Nghị định của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với khí thải.