Quản lý dự án đầu tư nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 12

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, hoạt động đầu tư trực tiếp của của
nước ngoài ở Việt Nam những năm qua diễn ra rất sôi động và đã thu được
những thành quả đáng khích lệ. Đầu tư nước ngoài đã thể hiện vai trò quan
trọng chiến lược phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế đối ngaọi
nói riêng ,góp phần tích cực bổ sung nguồn vốn đầu tư, đổi mới công nghệ,
mở mang thị trường, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tạo nhiều việc
làm cho xã hội , thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng chức năng
hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên đây là lĩnh vực còn mới mẻ đối với Việt Nam và
trong khi ta chưa có kinh nghiệm trong hoạt động này thì những thiếu sót hay
hạn chế trong quản lý chắc chắn sẽ không tránh khỏi, gây những thiệt hại cho
nhà nước Việt Nam nói riêng và các đối tác Việt Nam. Do vậy việc nghiên
cứu một cách toàn diện các vấn đề về lý luận, tổng kết thực tiễn, nhằm đúc rút
những bài học kinh nghiệm, hoàn thiện chính sách, cơ chế của Nhà nước đối
với hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là vấn đề cấp bách hiện nay.
Báo cáo thực tập: “Quản lý dự án đầu tư nước ngoài ở Việt Nam’ nhằm góp
phần vào những cố gắng chung, nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư với nước
ngoài của nước ta trong giai đoạn mới.
Mục đích của báo cáo này là phân tích về thực trạng cơ chế quản lý tổ
chức, về tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
trong những năm qua, từ đó đề xuất một số quan điểm tăng cường công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam.
Kết cấu của báo cáo thực tập gồm 3 chương:
Ch ương I: Nêu lên những vấn đè chung về đầu tư trực tiếp nước
ngoài, vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế quốc dân và tình
hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Ch ương II: Nêu lên vấn đề quản lý dự án đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam
Ch ương III: Đề cập đến các giải pháp tăng cường quản lý hoạt động
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
Đàu tư nước ngoài đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh
tế, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Tất cả các nước trên thế giới đều phải
tham gia vào xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, biến mỗi nền kinh tế quốc gia
thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới. Các quôc gia
tuy độc lập về mặt chính trị nhưng về mặt kinh tế lại phụ thuộc lẫn nhau, các
nước cùng hợp tác phát triển để cùng nhau đi đến cái đích đó là sự thinh
vượng của thế giới . Với ỹ nghĩa đó đầu tư nước ngaòi là một mắt xích quan
trọng trong quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau.
Đối với Việt Nam, từ khi nước ta thực hiện chính sách mở cửa đến
nay, đầu tư nước ngoài trong đó gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA) và
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang đóng một vai trò quan trọng
trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước.
Trong hơn một thập kỷ qua, nguồn vốn ODA đã giúp Việt Nam xây
dựng và nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng đáng kể, đây là một yêú tố quan
trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư , bởi vì theo kinh nghiệm của một
số nước trong khiu vực và trên thế giới, một trong những tiêu chí hàng đầu
trong việc lựa chọn nước đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài là cơ sở vật
chất hạ tầng, trong đó cơ sở hạ tầng về giao thông, thông tin liên lạc là quan
trọng nhất.
Với chính sách cởi mở, thông thoáng và vị trí của Việt Nam trên các
diễn đàn quốc tế cả về kinh tế lẫn chính trị ngày càng được khẳng định, cộng
đồng quốc tế đã thực sự tin tưởng vào tương lai của Việt Nam, vào chính sách
mở cửa, sự cam kết tiếp tục đổi mới kinh tế của Đảng và nhà nước ta, và do
đó tiếp tục cho vay những khoản vốn ODA lớn hơn.
Tuy nhiên, việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA này lại là một
vấn đề lớn đối với Việt Nam hiện nay. Nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ
tầng được thực hiện một cách thiếu hiệu quả, nhiều dự án bị thất thoát vốn
với tỷ lệ lớn... Điều này không những làm thiệt hại cho nền kinh tế đất nước
khi phải bỏ ra một khoản vốn lớn để sửa chữa, nâng cấp những dự án ODA

gia vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp
và dịch vụ , tạo thêm năng lực mới về sản xuất và xuất khẩu trong một số
ngành quan trọng, đóng góp vào ngân sách, giải quyết một phần công ăn, việc
làm cho người lao động, khơi dậy nguồn vốn trong nước, phục hồi một số
ngành nghề và doanh nghiệp đã từng đứng trước nguy cơ phá sản hoặc mai
một do biến động của thị trường trong và ngoài nước ...
Tuy vậy, những mặt trái vốn có của FDI cũng đã bộc lộ trong nhiều
khía cạnh: Sở hữu, chuyển giao công nghệ lạc hậu, cơ cấu khoong phù
hợp,...Sự không hoàn hảo của thị trường đòi hỏi phải có sự điều tiết và quản
lý của Nhà nước, giúp FDI phục vụ tốt hơn cho công cuộc phát triển của nền
kinh tế nước nhà.
3. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc Hội thông
qua ngày 29 tháng 12 năm 1987 đến nay, tình hình đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam đã phát triển rất nhanh. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thu hút đầu tư cả về số
lượng và chất lượng cũng như về mặt du nhập công nghệ và phương pháp
quản lý.
Theo thống kê của vụ quản lý dự án. Đến hết tháng 6 năm 2002 đã có
4283 dự án được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký khoảng gần 49
tỷ USD , vốn thực hiện hơn 19 tỷ USD.
Trong số các dự án nói trên, có 827 dự án bị rút giấy phép hoặc giải
thể trước thời hạn (chiếm 19,3 %) tổng số dự án với số vốn đầu tư 8,286 tỷ
USD (chiếm 13,9% tổng vốn đầu tư) do vậy tính đến nay còn 3456 dự án có
giấy phép đầu tư với gần 41 tỷ USD. Các dự án quy mô nhỏ (dưới 5 triệu
USD) tuy chiếm tỷ lệ lớn về số dự án (77%) nhưng lại chiếm tỷ lệ nhỏ về vốn
đầu tư (14%). Bên cạnh việc xây dựng một số công trình quy mô lớn, ý nghĩa
then chốt đối với nền kinh tế quốc dân, việc phát triển hàng loạt các xí nghiệp
có quy mô vừa và nhỏ trong một số lĩnh vực là hướng đi thích hợp, vừa tận
dụng hiệu quả các cơ sở sản xuất hiện có, sử dụng nhiều lao động , vừa phù

tư nước ngoài vẫn chủ yếu tập trung vào một số địa phương như TP. HCM,
Hà Nội, Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rỵa Vũng Tàu... Đây là những địa phương
thuộc các vùng trọng điểm kinh tế của cả nước, có nhiều cơ sở sản xuất hiện
có, có cơ sở hạ tầng tốt hơn so với những địa phương khác
Luật đầu tư nước ngoài quy định 3 hình thức đầu tư chủ yếu là: Doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100 % vốn nước ngoài và hợp tác kinh
doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ngoài ra còn có quy định hình
thức xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất và hình thức BOT (xây
dựng - kinh doanh - chuyển giao). Tính đến nay, dự án thực hiện theo hình
thức liên doanh chiếm 64,6 % dự án và 65,3 % số vốn, theo hình thức 1000
vốn nước ngoài , chiếm 27,1 % số dự án và 17,8 % vốn đầu tư và theo hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 8,3 % số dự án và 16,9 % số vốn
đầu tư. Trong số các dự án được cấp phép mới chỉ có một số dự án được
thực hiện theo hình thức BOT.
Việc đa số các dự án được thực hiện theo hình thức liên doanh trong
thời gian qua là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế cũng như chủ trương
của nhà nước ta. Một mặt các công ty nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam
cũng muốn chia sẻ bớt rủi ro có thể xảy ra, nhưng mặt khác cũng muốn gắn
trách nhiệm bên Việt Nam vào sự thành công của dự án, dậ vào bên Việt Nam
trong quan hệ cũng như giải quyết các thủ tục cần thiết với cơ quan quản lý
nhà nước và các tổ chức kinh tế. Trong khi đó dựa vào khả năng tài chính,
khả năng về công nghệ, kinh nghiệm quản lý và khả năng tìm kiếm thị trường
của phía nước ngoài, phía Việt Nam lại mong muốn tận dụng mọi khả năng
có thể góp vốn, tạo cơ hội tiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nhgiệm
quản lý và chia sẻ lợi nhuận có thể tạo ra. Tuy nhiên những năm gần đây, các
nhà đầu tư nước ngoài đã có xu hướng giảm dần sự quan tâm đến hình thức
xí nghiệp liên doanh, số dự án 100% số vốn nước ngoài tăng lên đặc biệt là
trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Đồng Nai trong một số lĩnh vực nhữ hàng
hoá cơ bản, may mặc, dày dép. Xu hướng hình thành và phát triển do một số
nguyên nhân nhưng chủ yếu do thực tiễn phát sinh nhiều tranh chấp trong

Đến nay, có hơn 700 công ty thuộc 60 nước và vùng lãnh thổ có dự án
đầu tư tại nước ta, trong đó có nhiều tập đoàn lớn, có năng lực về vốn, công
nghệ và quản lý. Trong khi các nước Tây Âu sớm vào Việt Nam với trọng
tâm là lĩnh vực dầu khí thì các nước châu Á , đặc biệt là Nhật Bản và Hàn
Quốc và gần đây là Mỹ, tuy có sự xuất hiện muộn hơn nhưng tốc độ ngày
càng tăng nhanh, quy mô sản xuất ngày càng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, từ
khai thác dầu khí, sản xuất xi măng, sắt thép, điện tử, xây dựng cơ sở hạ tầng
khu công nghiệp, xây dựng khách sạn đến sản xuất hàng hoá tiêu dùng, chế
biến thực phẩm và bắt đầu xuất hiện các dự án công nghệ cao (các bộ phận
mánh tính, quang học, viễn thông...). Với xu hướng này, đã đánh dấu kết quả
tích cực của phương châm đa dạng hoá quan hệ hợp tác đầu tư , tranh thủ vốn
và công nghệ của các tập đoàn, công ty lớn của các nước công nghiệp phát
triển.
Từ năm 1998 đến hết tháng 6/2002, vốn đầu tư thực hiện khoảng 19 tỷ
USD ( Trong số này, vốn góp của phía Việt Nam khoảng 2,5 tỷ USD chiếm
13 % chủ yếu bằng quyền sử dụng đất, phần góp vốn của bên nước ngoài
chiếm khoảng 9,1 tỷ USD, chiếm 48 %, phần vốn vay doanh nghiệp khoảng
trên 7,4 tỷ USD chiếm 39 % tổng vốn thực hiện (theo số liệu thống kê của vụ
quản lý dự án).
Tính đến nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo vcv
làm cho trên 180.000 lao động trực tiếp người Việt Nam. Ngoài ra đầu tư
nước ngoài còn tạo việc làm và thu nhập cho hàng chục vạn lao động gián
tiếp khác bao gồm công nhân xây dựng, các lao động liên quan đến cung cấp
vật liệu xây dựng và các dịch vụ khác. Trong số lao động trực tiếp nói trên,
phần lớn đã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ hoặc ngoại ngữ, có khả
năng nắm bắt kỹ thuật, hoàn thành các công việc được giao. Điều đó đã tạo
cho lao động Việt Nam một tác phong công nghiệp trong lao động, một ý thức
kỷ luật và một ý thức trách nhiệm cao hơn đối với công việc.
Trong quá trình hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam
đã tiếp nhận được phương thức quản lý tiên tiến, những kinh nghiệm quý báu

1. Bộ Kế hoạch Đầu tư
Bộ Kế hoạch Đầu tư được thành lập theo nghị định 75 /CP của Chính
phủ ngày 1/11/1995 trên cơ sở sáp nhập giữa UB Nhà nước về hợp tác đầu
tư và UB Kế hoạch Nhà nước
a. Chức năng
Đây là một cơ quan của Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp
và xây dựng chiếnlược, sách lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước; về cơ chế chính sách quản lý kinh tế; quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu
tư trong và ngoài nước, giúp Chính phủ điều hành phối hợp thực hiện các mục
tiêu và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân.
Bộ Kế hoạch Đầu tư thực hiện nhiệm vụ , quyền hạn và trách nhiệm
quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang bộ quy định tại chương IV luật tổ
chức Chính phủ và tại nghị định 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ. Bộ có
các quyền hạn và nghĩa vụ sau đây:
1 - Tổ chức nghiên cứu, xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội của cả nước và quy hoạch phát triển kinh tế theo
ngành, vùng, lãnh thổ. Xác định phương hướng và cơ cấu gọi vốn đầu tư của
nước ngoài vào Việt Nam, đảm bảo sự cân đối giữa đầu tư trong và ngoài
nước để trình Chính phủ quyết định.
2- Trình Chính phủ các dự án luật, Pháp lệnh, văn bản pháp quy cso
liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong
và ngaòi nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Nghiên cứu và xây dựng các quy chế về phương pháp kế hoạch hoá,
hướng dẫn các bên nước ngoài và Việt Nam trong việc đầu tư vào Việt Nam
và từ Việt Nam ra nước ngoài.
3- Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể cả các nguồn lực từ nước
ngoài để xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
về phát triển kinh tế xã hội của cả nước và các cân đối chủ yếu của nền kinh
tế quốc dân; giữa tích luỹ và tiêu dùng, tài chính, tiền tệ, hàng hoá vật tư chủ

2- Vụ quản lý dự án đầu tư nước ngoài
3 - Vụ quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp
4 - Vụ đầu tư nước ngoài
5- Vụ tổng hợp kinh tế quốc dân
6- Vụ kinh tế đối ngoại
7- Vụ kinh tế địa phương và lãnh thổ
8 - Vụ doanh nghiệp
9- Vụ tài chính - tiền tệ
10 - Vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn
11- Vụ công nghiệp
12 - Vụ thương mại và dịch vụ
13 - Vụ cơ sở hạ tầng
14 - Vụ lao động và văn hoá xã hội
15 - Vụ khoa học và giáo dục môi trường
16 - Vụ quan hệ Lào và Campuchia
17 - Vụ quốc phòng an ninh
18 - Vụ tổ chức cán bộ
19 - Văn phòng thẩm định dự án đầu tư
20- Cơ quan đại diện phía nam
* Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc bộ
1 - Viện quản lý kinh tế Trung ương
2 - Viện chiến lược phát triển
3- Trung tâm nghiên cứu kinh tế phía nam
4 - Trung tâm thông tin (Gồm cả tạp chí kinh tế dự báo)
5- Trường nghiệp vụ kế hoạch
6 - Báo đầu tư nước ngoài
2. Vụ quản lý dự án
Vụ quản lý dự án là đơn vị trực thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư giúp bộ
trưởng làm chức năng theo dõi và quản lý nhà nước về các dự án đầu tư nước
ngoài sau khi đã được cấp giấy phép với các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

nghiệp mới, các bên tham gia BCC vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của
mình. Theo các quy định trên mặt pháp luật, cộng với nội dung hoạt động của
mỗi hình thức đầu tư có nhiều điểm khác nhau, dẫn đến việc quản lý nỗi hình
thức đầu tư sẽ có những đặc thù riêng cần được đi sâu phân tích kỹ trên cơ
sở các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn quản lý của các doanh
nghiệp có vốn FDI thời gian qua
2. Các nguyên tắc cơ bản
Trước khi phân tích đặc thù riêng trong quản lý đối với từng hình thức
đầu tư ( hay loại hình doanh nghiệp có vốn FDI), chúng ta cần khẳng định lại
mốt số nguyên tắc cơ bản sau đây trong quản lý doanh nghiệp nói chung và
trong đó có các doanh nghiệp có vốn FDI cần tuân thủ:
- Quản lý theo đúng quy định của pháp luật, có tính đến thông lệ quốc
tế trong quản lý các doanh nghiệp nói chung và trong việc xử lý từng vụ việc
cụ thể đối với doanh nghiệp có vốn FDI nói riêng.
- Quản lý doanh nghiệp là để hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp phát triển theo đúng mục tiêu nhà nước mong
muốn.
- Quản lý một doanh nghiệp tốt cần phải xử lý thoả đáng hai vấn đề chủ
yếu sau đối với doanh nghiệp, đó là xử lý các mối quan hệ bên trong doanh
nghiệp và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường
- Xây dựng được mô hình quản lý tối ưu
- Có đội ngũ cán bộ quản lý giỏi
3. Đặc thù riêng của doanh nghiệp có vốn FDI
Trong quản lý các doanh nghiệp có vốn FDI, cần lưu ý đặc thù riêng
của hai đối tượng (hoặc hai mục tiêu) chịu sự quản lý là VỐN và CON NGƯỜI .
Có thể nêu ra một số đặc thù riêng của từng đối tượng, (mục tiêu) quản
lý đó như sau:
a. Về vốn
Một số đặc thù riêng của vốn FDI (So với vốn khác đang sử dụng hiện
nay như nguồn vốn ngân sách của Nhà nước, Vốn ODA, vốn viện trợ không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status