Đề án môn học
LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư là một hoạt động kinh tế, là bộ phận không thể thiếu trong họat
động sản xuất kinh doanh ở mọi lĩnh vực. Đầu tư phát triển là một hình
thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp tới tăng tiềm lực kinh tế nói chung và
tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở nói riêng, nó là điều kiện chủ
đạo để tạo việc làm nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đối với các nước đang phát triển như nước ta, khi cơ sở vật chất hạ
tầng còn thiếu thốn, chưa đảm bảo, nhu cầu vốn sản xuất của các ngành rất
lớn thì đầu tư là điều kiện bắt buộc phải có trong chiến lược phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước, đặc biệt đầu tư càng cần thiết hơn trong xu hướng
toàn cầu hóa hiện nay. Đầu tư bao gồm rất nhiều bộ phận: đầu tư trong
nước, đầu tư nước ngoài. Trong đầu tư nội địa bao gồm: đầu tư từ NSNN,
đầu tư từ vốn tự có của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân,
… Đầu tư nước ngoài như là ODA,FDI,…
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dựa nhiều vào
đầu tư, và qua số liệu thống kê, Việt Nam đang dựa ngày càng nhiều vào
đầu tư nước ngoài để chi trả cho đầu tư trong nước. Mô hình tăng trưởng
dựa trên đầu tư, nhất là dựa trên FDI tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là khi FDI
sụt giảm. Vì thế cần nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước, bên
cạnh việc khuyến khích luồng vốn đầu tư tư nhân để đảm bảo tính bền
vững của tăng trưởng.
Đầu tư nhà nước có vai trò quan trọng trong thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là các lĩnh vực cần cho quốc tế, dân sinh mà
cơ chế thị trường ít phát huy tác dụng hoặc tư nhân không đủ sức, ít quan
tâm vì rủi ro và lợi nhuận thấp. Nhưng nếu nguồn tài lực không được quản
lý, sử dụng hiệu quả thì không đạt được mục đích mong muốn, còn có thể
là nguyên nhân làm đất nước lâm cảnh nợ nần. Trước tầm quan trọng của
đầu tư từ NSNN, em xin được nghiên cứu và phân tích những tác động của
vốn đầu tư từ NSNN tới tăng trưởng.
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
2
Đề án môn học
1- Nguồn vốn đầu tư trong nước:
a- Tiết kiệm của chính phủ (Sg):
Tiết kiệm của chính phủ, theo tính chất sở hữu bao gồm tiết kiệm từ
NSNN (Sg.h) và tiết kiệm của các công ty Nhà nước (Sg.c). Theo tổ chức
kinh tế thì tiết kiệm của các công ty Nhà nước và tiết kiệm của các công ty
tư nhân được kết hợp chung là tiết kiệm của các công ty. Do vậy trong
phạm vi xem xét ở đây, tiết kiệm cuả chính phủ được giới hạn trong phạm
vi tiết kiệm của Ngân sách Nhà nước. Về nguyên tắc, tiết kiệm được tính
bằng cách lấy tổng số thu nhập trừ đi các khoản chi tiêu.
Tức là: Sg = = ∑thu Ngân sách - ∑ chi Ngân sách
Nhưng đối với chính phủ, đặc biệt là chính phủ của các nước đang
phát triển, chi cho đầu tư phát triển là một nhiệm vụ chi quan trọng, do vậy
tình trạng phổ biến là bội chi Ngân sách, nhưng đầu tư vẫn được coi là một
nội dung chi tiêu quan trọng. Các khoản chi của chính phủ qua NSNN bao
gồm:
- Chi mua hang hóa và dịch vụ
- Chi các khoản trợ cấp
- Chi trả lãi suất và các khoản vay
Thu Ngân sách chủ yếu là thuế và một phần các khoản lệ phí.
b- Tiết kiệm của các công ty (Sc):
Tiết kiệm của các công ty được xác định trên cơ sở doanh thu của
công ty và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Doanh thu của công ty là các khoản thu nhập của công ty do tiêu
thụ hang hóa hoặc các dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí trung
gian trong quá trình sản xuất. Tổng doanh thu được kí hiệu là TR.
- Tổng chi phí (TC) thường bao gồm các khoản: trả tiền công, trả
tiền thuê đất đai, trả lãi suất tiền vay và thuế kinh doanh.
Khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí được gọi là lợi
- Chi trả lãi suất các khoản tiền vay
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
4
Đề án môn học
2- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
a- Viện trợ phát triển chính thức (ODA)
ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II cùng với kế hoạch Marshall
để giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh
tàn phá. ODA được gọi là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (chính
quyền Nhà nước hay địa phương) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế
viện trợ cho các nứơc đang phát triển nhằm thúc đâỷ sự phát triển kinh tế
và phúc lợi xã hội của các nước này.
Ngày nay nguồn vốn ODA không chỉ từ các nước OECD mặc dù các
nước này vẫn chiếm đại bộ phận (85%), ngoài ra còn từ Nga và các nước
Đông Âu (10%) và các nước Ả rập có dầu mỏ (5%), ODA được thực hiện
trên cơ sở song phương hoặc đa phương. Viện trợ đa phương thông qua các
tổ chức quốc tế. Ví dụ như: Các tổ chức Liên hợp quốc (UNDP, UNICFF,
UNESCO,…); IMF, WB, ADB, OPEC. Viện trợ đa phương thường chiếm
20% trong tổng nguồn vốn ODA, còn lại là viện trợ song phương. Nội
dung viện trợ ODA bao gồm:
- Viện trợ không hoàn lại thường chiếm 25% tổng vốn ODA
- Hợp tác kĩ thuật
- Cho vay ưu đãi
b- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nứơc ngoài đối với các nước đang
phát triển, là nguồn vốn lớn có ý nghĩa quan trọng với phát triển kinh tế.
FDI không chỉ cung cấp nguồn vốn mà nó còn thực hiện quá trình chuyển
giao công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật và tìm thị trường tiêu thụ ổn định.
Mặt khác vốn FDI còn gắn với trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn. Do
đó thu hút được nguồn vốn này sẽ giảm được gánh nợ nước ngoài đối với
t
GDP
I
Đầu tư là cơ sở tạo ra vốn sản xuất do đó I
t
=
∆
K
t+n
.
Nếu gọi k là tỷ số gia tăng giữa vốn và đầu ra ta có:
GDP
K
k
nt
∆
=
+
hay
GDP
I
k
t
∆
=
Vì :
t
GDP
GDP∆
với mục tiêu phát triển kinh tế.
Tóm lại mô hình chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quả tương tác giữa tiết
kiệm và đầu tư, đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế, là tiền
đề của sự phát sinh lợi nhuận và gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế.
IV- VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
Đầu tư phát triển từ NSNN tác động tới tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh
và chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo định hướng của chính phủ. Đối với
nền kinh tế nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa như nước ta nói riêng thì đầu tư từ NSNN có tác dụng kích thích các
thành phần kinh tế phát triển có hiệu quả hơn và đồng đều hơn. Trong điều
kiện hiện nay thì đầu tư của tư nhân và nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung
vào các ngành nghề, khu vực có khả năng sinh lời cao, mức độ an toàn lớn,
vốn nhỏ, dẫn đến mất cân đối trong các ngành kinh tế và vùng kinh tế. Để
nền kinh tế phát triển một cách đồng bộ thì chính phủ sẽ dùng vốn đầu tư
phát triển từ Ngân sách để đầu tư vào một số lĩnh vực mà có vốn đầu tư
lớn, khả năng thu hồi vốn chậm như các công trình phúc lợi, mặt bằng cơ
sở hạ tầng, chi cho đầu tư phát triển giáo dục…
1- Vai trò của vốn đầu tư từ NSNN tới cơ sở hạ tầng:
Vốn đầu tư từ NSNN là nguồn vốn đầu tư cơ bản và quan trọng nhất
để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng như: hệ thống giao thông, bưu điện,
thông tin liên lạc, giao thông, bưu điện, thông tin liên lạc…Các công trình
này là những công trình công cộng đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn nhưng
thời gian thu hồi vốn dài, lợi nhuận thấp. Do đó, các nhà đầu tư thường
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
7
Đề án môn học
không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Hiện nay việc tham gia đầu tư từ các
nguồn vốn ngoài NSNN là quá ít, để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu
phát triển đất nước, Nhà nước phải sử dụng vốn đầu tư từ NSNN đầu tư
thấp kém và chưa phát triển đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khoảng cách về thu nhập giữa nông dân giàu và
nghèo, giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng. Nguyên nhân của tình
trạng này một phần do thiếu những điều kiện và tiền đề cần thiết để phát
triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó quan trọng nhất là lực lượng sản
xuất, một phần do việc đầu tư của Nhà nước chưa thỏa đáng. Vốn tích lũy
của khu vực này rất thấp vì vậy việc tăng cường đầu tư vào phát triển nông
nghiệp nông thôn từ NSNN và các nguồn khác trong điều kiện hiện nay là
hết sức cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại nêu trên, điều đó sẽ thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
9
Đề án môn học
CHƯƠNG II- PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ TỪ
NSNN TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM.
I- THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM:
1- Tình hình kinh tế Việt Nam:
Nền kinh tế Việt Nam bước vào năm 2008 với nhiều yếu tố không
thuận lợi. Về bối cảnh kinh tế thế giới, kể từ cuối năm 2007, giá dầu thô và
nhiều loại vật tư, lương thực trên thị trường thế giới tăng đột biến, kinh tế
tăng trưởng châm lại trên phạm vi toàn cầu, tình hình lạm phát trên phạm vi
toàn cầu có dấu hiệu tăng lên. Những diễn biến trên đã tác động không nhỏ
đến kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Về
bối cảnh trong nước, xu hướng gia tăng mạnh của giá cả, nhập siêu, thiên
tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp ảnh hưởng xấu đến sản xuât và đời sống
nhân dân. Bên cạnh những hạn chế, bất cập và thách thức không nhỏ đó, thì
đầu tư nước ngoài (FDI) lại là điểm sáng nhất. Tính riêng tháng 5/2008 đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã đạt 7,5 tỉ USD, đưa tổng số 5 tháng lên 14,7 tỉ
USD, cao gấp trên 2,6 lần cùng kỳ năm trước. Nếu kể cả 0,6 tỉ USD của
các dự án tăng vốn thì tổng lượng vốn đang ký mới và bổ sung đạt trên 15,3
tỷ USD, chiếm 53,7% về số dự án và 55,7% về vốn đăng ký. Lĩnh vực dịch
vụ có 400 dự án với tổng vốn đăng ký 25,5 tỷ USD, chiếm 42% về số dự án
và 44% về vốn đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp.
* Xét về cơ cấu nhà đầu tư, Malaysia nổi lên dẫn đầu trong số 44
quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam về vốn đăng ký trong 10
tháng với 40 dự án được cấp phép, tổng vốn đăng ký 14,8 tỷ USD, chiếm
25,5% về vốn tổng đầu tư đăng ký của cả nước. Đài Loan đứng vị trí thứ
hai với 122 dự án, vốn đầu tư 8,6 tỷ USD, chiếm 14,8% về vốn đăng ký.
Nhật Bản đứng thứ ba với 90 dự án, vốn đầu tư 7,2 tỷ USD, chiếm gần
13% của tổng vốn đăng ký.
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
11
Đề án môn học
" Tính đến tháng 9-2008, Hà Nội đã thu hút tổng cộng 1.400 dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đăng ký đạt hơn 18 tỷ USD. Cơ cấu
vốn đầu tư vào Hà Nội có sự chuyển biến mạnh mẽ từ lĩnh vực công nghiệp
sản xuất và kinh doanh sang lĩnh vực dịch vụ, tài chính ngân hàng và đặc
biệt là các dự án bất động sản lớn.
b- Tình hình sử dụng:
Tồn tại quá nhiều vấn đề trong sử dụng vốn, xảy ra tình trạng lãng phí
kép, và “bệnh hình thức”
“Lãng phí kép” trong sử dụng vốn: với một nước đang phát triển như
Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn. Tuy nhiên, thực tế hiệu quả sử dụng vốn
gây lãng phí, tiền tiêu không hợp lý. Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ về
việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn vốn
đầu tư trong nước cũng như nước ngoài và ODA.
Việc thất thoát ngân sách đã được Chính phủ thừa nhận, tiền ngân
sách là gì khác ngoài tiền thuế của dân đóng góp. Đầu tư trong nước là một
nguồn lực tốt, thậm chí, trong năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn
quay lưng lại với cơ hội, nhất là khi chúng ta đã có hệ thống pháp lí quốc tế
để soi chiếu, có kinh nghiệm hợp tác nhiều năm. Tâm lí e ngại đáng ra
không được duy trì lâu như vậy. Giá của sự chờ đợi ấy không đáng.
Đối với vốn ODA, Việt Nam chưa thực hiện tốt tất cả các công việc
cần thiết để giải ngân tốt hơn. Một phần do phức tạp thủ tục, một phần do
quy định khác nhau giữa nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam nên khó thống
nhất.
Sau khi chọn được dự án ODA đã khó, việc chuẩn bị của Việt Nam
khi có vốn ODA còn chậm, rõ nhất là chuẩn bị mặt bằng, và không có sẵn
vốn đối ứng trong các dự án. Điều kiện con người và kinh tế kỹ thuật đã
làm chậm quá trình giải ngân.
Ngay cả một nơi được đánh giá là phát triển năng động như thành phố
Hồ Chí Minh cũng có tình trạng đó. Một số nhà cung cấp ODA đã thực
hiện biện pháp mang tính trừng phạt nhưng cũng không thúc đẩy được bao
nhiêu.
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
13
Đề án môn học
Trong khi đó, mỗi nguồn ODA có thời gian ân hạn nhất định. Nếu
không làm việc, chúng ta đã tự tước bỏ đi thời gian ưu đãi ấy. Ví dụ, một
dự án ODA quy định trong 10 năm được hưởng lãi suất thấp, hoặc không
phải trả lãi. Nhưng vì quá trình giải ngân chậm, khi dự án bắt đầu đi vào sử
dụng chỉ còn 2-3 năm. Chúng ta đã tự đánh mất 7-8 năm quý giá. Và cái
giá của ODA trở nên đắt đỏ hơn. Chưa kể nó sẽ kìm hãm sự phát triển của
khu vực, lĩnh vực đưa ODA vào.
Đây là lãng phí kép: tiền của, gánh nợ, thời gian cho phát triển. Đặc
biệt, mất thời gian đồng nghĩa với mất đi các cơ hội.
3- Vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam:
Như đã nói ở trên, tiền ngân sách chính là tiền thuế của dân đóng
góp. Thế nhưng một thực trạng đáng lo ngại là đầu tư từ ngân sách lại chưa
Ngoài ra, nguyên nhân sâu xa là do đã đầu tư từ ngân sách nhà nước
tập trung quá nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho
các dự án có khả năng thu hồi vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá có
giá trị làm tăng GDP.
Đầu tư công vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển đời sống, kinh tế
nhân dân, nhưng đây cũng không phải là cách ứng xử duy nhất, vì chúng ta
có thể vận dụng những hình thức như BOT, BTO, PPP.
Hiện đầu tư công của chúng ta đã vượt xa so với khả năng của ngân
sách nhà nước. Trong khi đó, đầu tư cho cơ sở hạ tầng đã chiếm tới 50%
ngân sách. Điều này sẽ khiến đầu tư cho an sinh xã hội, giáo dục bị ảnh
hưởng.
Quá chú trọng tới chỉ tiêu tăng trưởng. Những năm gần đây,
chúng ta đã quá chú ý tới tốc độ tăng trưởng và quyết tâm đạt tốc độ tăng
trưởng cao nên đã dẫn tới tình trạng đầu tư năm sau cao hơn năm trước.
Bên cạnh đó, cách làm phổ biến hiện nay vẫn là chọn việc dễ để thực hiện.
Cộng thêm với tâm lý quá trông chờ vào vốn ngân sách nhà nước và khai
thác tận thu nguồn tài nguyên sẵn có của đội ngũ lãnh đạo đã tạo nên lối
“ứng xử” địa phương cát cứ, đầu tư theo kiểu “chộp giật”.
Nguyễn Quỳnh Ly Lớp: Kinh tế phát triển 47A
15
Đề án môn học
Hình thức phân bổ các dự án vẫn mang tính bình quân, theo kiểu ban phát
lợi ích chứ chưa theo quy hoạch phát triển tổng thể.
Tất cả đã khiến cho những dự án quy hoạch thường có tính địa
phương, ít tạo được tính kết nối thị trường. Vì vậy, cùng một khoản tiền
đầu tư nhưng hiệu quả mang lại chưa có tính lan tỏa mạnh.
Ngoài ra, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước lẽ ra cần đầu tư cho bộ
máy công chức thông qua tiền lương lại chưa được quan tâm thích đáng.
Thiếu sự quan tâm đúng mức cũng đã làm giảm hiệu quả của đội ngũ này
gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc thẩm định, giám sát việc thực hiện các dự