Trình bày sự tích lũy tư bản về mặt định tính và về mặt định lượng. Ý nghĩa của việc nghiên cứu - Pdf 12

LờI NóI ĐầU
Tích lũy, theo từ điển Tiếng việt, là dành ra một phần sản phẩm xã hội
dới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật để thực hiện tái sản xuất mở rộng. Đó là việc
làm không thể thiếu đối với bất cứ nền kinh tế nào, nếu không có tích lũy, nền
kinh tế sẽ giậm chân tại chỗ bởi không mở rộng đợc sản xuất, không làm tăng
sản phẩm xã hội, từ đó không phát triển đợc nền kinh tế.
Sau quá trình tích lũy nguyên thủy - từ đó hình thành nên phơng thức sản
xuất t bản chủ nghĩa, chủ nghĩa t bản đã thực hiện quá trình tích lũy t bản để đi
lên sản xuất lớn và khẳng định là nền kinh tế thống trị. Nghiên cứu tích lũy và
tái sản xuất mở rộng t bản chủ nghĩa cho phép chúng ta vạch rõ hơn bản chất
của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa. Không những thế, việc nghiên cứu còn có
ý nghĩa thực tiễn đối với nớc ta, bởi đối với đất nớc ta tích lũy là việc làm tất yếu
để đi lên sản xuất lớn, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Vì ý nghĩa đó em đã chọn đề tài: Trình bày sự tích lũy t bản về mặt
định tính và về mặt định lợng. ý nghĩa của việc nghiên cứu. Bài viết của em
xin trình bày những vấn đề lớn sau:
I. Thực chất và động cơ của tích lũy t bản.
II. Các nhân tố ảnh hởng đến quy mô tích lũy t bản.
III. ý nghĩa của việc nghiên cứu tích lũy t bản.
1
NộI DUNG
I. Thực chất và động cơ của tích lũy t bản:
1.Phơng pháp nghiên cứu của C.Mác:
Các nhà kinh tế học trớc C.Mác cha để vấn đề gì lớn về tích luỹ t bản.
Mặc dù Adam Smith và David Ricardo đã tiến môt bớc lớn trong việc định
nghĩa tích luỹ, đã phân biệt đợc tích luỹ và cất trữ của cải. Nhng họ lại phạm
phải một sai lầm nghiêm trọng mà từ đó về sau, toàn bộ chính trị kinh tế học tr-
ớc C.Mác đã kế thừa.
Các nhà cổ điển đã nêu một cách đúng đắn rằng, không nên lẫn lộn tích
luỹ với việc trữ của cải và việc tạo ra nguồn dự trữ. Trong cả hai trờng hợp trên
đều không có sự tăng thêm mới nào mà chỉ có tình trạng làm trì hoãn, làm chậm

phân tích tích luỹ, C.Mác sử dụng phơng pháp coi tích luỹ t bản là một nhân tố
trực tiếp của sản xuất t bản; ông sử dụng phơng pháp trừu tợng hóa, coi nhà t
bản công nghiệp là ngời đại diện sở hữu giá trị thặng d (t bản công nghiệp là
hình thái t bản duy nhất không chỉ chiếm đoạt giá trị thặng d mà còn tạo ra giá
trị thặng d), quá trình lu thông thực hiện giá trị của hàng hoá diễn ra trôi chảy,
không xét đến các hình thái mà t bản khoác vào và bỏ ra trong quá trình tuần
hoàn của t bản; C.Mác nghiên cứu tích lũy trong quá trình tái sản xuất, tức là
quá trình sản xuất tiếp diễn không ngừng.
2. Thực chất của tích lũy t bản:
Tích lũy t bản gắn liền với tái sản xuất mở rộng t bản chủ nghĩa. Tái sản
xuất là quá trình sản xuất đợc lặp đi lặp lại và đổi mới không ngừng. Xét về quy
mô, tái sản xuất bao gồm: tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Tái sản
xuất giản đơn là quá trình sản xuất đợc lặp đi lặp lại với quy mô nh cũ, toàn bộ
giá trị thặng d nhà t bản tiêu dùng hết. Trong xã hội t bản, cũng nh trong thực tế
3
không thể có tái sản xuất giản đơn nh thế. Nhng khi nghiên cứu tích lũy t bản,
cũng tức nghiên cứu tái sản xuất mở rộng t bản chủ nghĩa, C.Mác phải bắt đầu
từ tái sản xuất giản đơn vì tái sản xuất mở rộng chỉ có thể tiến hành sau giá trị t
bản bất biến và giá trị t bản khả biến đã hao phí đợc bù đắp lại nh cũ.
Tái sản xuất mở rộng là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô lớn hơn
trớc, với một lợng t bản lớn hơn trớc. Muốn vậy phải biến một phần giá trị thặng
d thành t bản bất biến phụ thêm và t bản khả biến phụ thêm. Việc biến giá trị
thặng d thành t bản gọi là tích lũy t bản. Nh vậy thực chất của tích lũy t bản là t
bản hóa giá trị thặng d.
Vậy giá trị thặng d có thể chuyển hóa thành t bản nh thế nào? Sản phẩm
thặng d gồm những vật dụng dùng để thỏa mãn nhu cầu, ý thích của giai cấp t
bản hay để chuyển vào quỹ tiêu dùng của giai cấp đó. Nhng nếu chỉ có nh vậy
giá trị thặng d sẽ bị tiêu dùng hết và sẽ chỉ có tái sản xuất giản đơn. Vậy một
phần của lao động thặng d hàng năm phải đợc dùng để sản xuất ra những t liệu
sản xuất phụ thêm và những t liệu tiêu dùng phụ thêm, ngoài số cần thiết để thay

nguyên tắc ngang giá. Một bên, ngời công nhân bán sức lao động, nhận đợc giá
trị món hàng của mình; còn một bên, nhà t bản là ngời mua sức lao động, nhận
đợc giá trị sử dụng của món hàng ấy. Quy luật giá trị không liên quan gì tới việc
tiêu dùng hàng hóa, miễn là trớc tiên khi tiêu dùng đã có trao đổi ngang giá rồi.
Cho nên trong hàng hoá, ngoài phần chi phí t liệu sản xuất và tiền công ra, còn
có thêm khoản giá trị thặng d nữa để tích lũy t bản, không phải vì ngời bán
(công nhân) đã bị lừa bịp, mà do ngời mua (nhà t bản) đã tiêu dùng hàng hoá đó.
Sự tích lũy t bản khác sự tích lũy ban đầu. Tích lũy ban đầu là tích lũy
ngay trên cơ sở nền sản xuất cơ bản. Tích lũy ban đầu có trớc tích lũy t bản
nhằm tạo điều kiện cho sự ra đời của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, đó là
đội quân lao động làm thuê và tích lũy tiền tệ để lập ra những xí nghiệp t bản
bằng biện pháp bạo lực là chủ yếu. Theo C.Mác, cái gọi là tích lũy ban đầu
5
chẳng qua chỉ là một quá trình lịch sử tách rời ngời sản xuất ra khỏi t liệu sản
xuất. Nó là ban đầu vì nó là tiền sử của t bản và phơng thức sản xuất phù hợp
với t bản.(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1993,
t.23, tr.997).
Chúng ta biết rằng không nên lẫn lộn tích lũy t bản với việc trữ của với
việc tạo ra nguồn dự trữ, nhng cũng không nên lẫn lộn tích lũy t bản với tái sản
xuất mở rộng nói chung: không có tái sản xuất theo quy mô ngày càng mở rộng
thì không có tích lũy t bản, nhng không phải bất cứ tái sản xuất mở rộng nào
cũng là tích lũy t bản, chỉ trong một thời đại lịch sử nhất định, khi mà t liệu sản
xuất và vật phẩm tiêu dùng đợc tích lũy độc lập với ngời sản xuất nh là một lực
lợng thù địch với họ và bóc lột họ, thì tái sản xuất mở rộng mới trở thành tích
lũy t bản.
3. Động cơ của tích lũy t bản:
Động lực thúc đẩy tích lũy t bản trớc hết là do quy luật giá trị thặng d -
quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa t bản. Quy luật này chỉ rõ mục đích sản
xuất của nhà t bản là tối đa hóa giá trị thặng d. Thực hiện động cơ đó các nhà t
bản phải không ngừng tích lũy, mở rộng sản xuất, coi đó là phơng tiện căn bản

và của cải cũng phát triển theo, nhà t bản không còn đơn thuần là hiện thân của
t bản nữa. Họ có thể coi việc t bản hoá giá trị thặng d là một trở ngại cho sự h-
ởng thụ của mình. Nh vậy đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêu dùng xa
phí của các nhà t bản ngày càng tăng lên theo sự tích lũy t bản, thâm chí nó còn
bắt buộc nhà t bản bất hạnh phải tiêu xài xa phí, một sự xa phí hoàn toàn
theo tập tục,vừa là sự phô trơng giàu có, vừa là thủ đoạn để vay mợn (C.Mác:
T bản, tiếng Nga, q.I, tr597). Cùng với sự phát triển hơn nữa của chủ nghĩa t bản
cuộc xung đột đó đợc giải quyết bằng cách tăng giá trị thặng d tới mức có thể
vừa dùng vào sự tiêu dùng đầy đủ, vừa dùng vào sự tích luỹ cũng không kém
phần đầy đủ.
7
II. Những nhân tố ảnh hởng đến quy mô của tích lũy t bản:
Với một khối lợng giá trị thặng d nhất định thì quy mô tích lũy t bản phụ
thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lợng giá trị thặng d đó thành quỹ tích lũy và quỹ
tiêu dùng của nhà t bản.Trong trờng hợp này, nếu tích lũy t bản tăng thì tiêu
dùng của nhà t bản sẽ giảm và ngợc lại. Đó là mâu thuẫn giữa tích lũy và tiêu
dùng của nhà t bản mà ta đã nói ở trên.
Nhng nếu tỉ lệ phân chia khối lợng giá trị thặng d thành quỹ tích lũy và
tiêu dùng của nhà t bản đã xác định, còn giá trị thặng d là một lợng thay đổi thì
tất cả những yếu tố có ảnh hởng đến sự thay đổi lợng giá trị thặng d đều có ảnh
hởng đến quy mô của tích lũy. Những nhân tố đó là:
Nhân tố 1: Trình độ bóc lột sức lao động
Trình độ bóc lột sức lao động biểu hiện ở tỉ suất giá trị thặng d, do đó nó
ảnh hởng đến tích lũy. Nhng nó còn ảnh hởng đến tích lũy ở một mặt khác nữa.
Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng d, C.Mác giả định tiền công ít ra
cũng bằng giá trị sức lao động. Sở dĩ nh vậy là do yêu cầu của việc giải thích về
giá trị thặng d và t bản trên cơ sở các quy luật của lu thông hàng hóa. Để chứng
minh giá trị thặng d không thể xuất phát từ chỗ tiền công không nhất trí với giá
trị sức lao động, mà trái lại cần chứng minh giá trị thặng d ra đời ngay cả khi
sức lao động đã đợc trả công đầy đủ.

mặt của một t bản mới. Trong công nghiệp chế biến, nguyên liệu do hai ngành
trên cung cấp, cho nên một số sản phẩm tăng thêm do hai ngành trên sản xuất ra
mà không cần phải chi phí thêm t bản, cũng có lợi cho ngành này.
Từ sự phân tích trên, C.Mác kết luận: ...một khi nắm đợc hai nguồn gốc
đầu tiên tạo ra của cải là sức lao động và đất đai, thì nhà t bản có một sức bành
trớng cho phép nó tăng những yếu tố tích lũy của nó lên quá những giới hạn d-
ờng nh đợc quy định bởi đại lợng của bản thân t bản, tức là bởi những giá trị và
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status