Ebook.VCU - wwưw.ebookvcu.com
LỜI MỞ ĐẦU
Bắt đầu từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế. Kể từ
đó cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt
sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế
giới WTO. Sự kiện đó đã mang lại nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp
Việt Nam trong quá trình hoạt động kinh doanh và sản xuất.
Trong điều kiện hiện nay thì các doanh nghiệp luôn chú ý đến chất lượng của
sản phẩm. Nó là một trong những yếu tố quyết định chính đến sự tồn tại của doanh
nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng đó là
yếu tố thị trường. Yếu tố này luôn biến đổi và đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn có sự
theo dõi sát sao để có thể đưa ra các chính sách marketing cũng như các chính sách sản
phẩm cho hợp lý để giúp sản phẩm của mình tồn tại trên thị trường. Do vậy, nắm bắt
được chu kỳ sống của sản phẩm và trong mỗi chu kỳ sống đó đưa ra các chính sách
marketing cho phù hợp là điều cần thiết để duy trì sự tồn tại của một sản phẩm trên thị
trường.
Nắm bắt được tầm quan trọng này của nhóm chúng tôi đã chọn đề tài: “thế nào
là chu kỳ sống của sản phẩm. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu chu kỳ sống sản
phẩm của công ty kinh doanh? Phân tích đặc điểm của thị trường và những ứng xử
marketing trong các giai đoạn chu kỳ sống của sản phẩm. Cho ví dụ minh họa với
một sản phẩm cụ thể” . Qua bài thảo luận này chúng tôi mong rằng các bạn sẽ hiểu
được phần nào những yếu tố cấu thành nên sự thành công của doanh nghiệp. Bài thảo
luận gồm hai phần:
Phần 1. Lý luận về chu kỳ sống của sản phẩm.
Phần 2. Chu kỳ sống của tivi Sony CRT màn hình mặt nạ.
Trong quá trình làm bài, chúng tôi đã hết sức cố gắng nhưng không thể tránh
được những thiếu sót. Nhóm 5 rất mong nhận được sự góp ý của giáo viên hướng dẫn
và các bạn. Xin chân thành cảm ơn.
1
Ebook.VCU - wwưw.ebookvcu.com
PHẦN I
sống của sản phẩm.
1.2.1. Giai đoạn giới thiệu.
1.2.1.1. Đặc điểm thị trường.
- Mức tiêu thụ hàng hóa trong thời gian này tăng chậm, công ty có thể chịu lỗ
hoặc lãi rất ít do phải chi phí nhiều cho phân phối và kích thích tiêu thụ.
- Số lượng nhà sản xuất ít, họ chỉ sản xuất những phương án chính của hàng hóa
bởi vì thị trường vẫn chưa sẵn sàng chấp nhận kiểu cải biên của nó.
- Khách hàng chưa thực sự tin tưởng vào sản phẩm mới và không muốn từ bỏ
những sản phẩm quen dùng.
- Các nhà cung cấp, các đối tác kinh doanh của công ty trong giai đoạn này
không nhiều bởi có nhiều mối nghi ngờ về doanh thu mà sản phẩm mới mang lại.
- Đối thủ cạnh tranh trong giai đoạn này rất ít. Sản phẩm mới được tung ra thị
trường, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu về chưa cao, hình dáng, mẫu mã, công dụng của
sản phẩm chưa phổ biến. Vì vậy đối thủ cạnh tranh chưa thực sự quan tâm tới sản phẩm
này.
1.2.1.2. Ứng xử Marketing.
Trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần thực hiện các hướng chiến lược
marketing chủ yếu sau:
- Tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán: vào giai đoạn này, doanh nghiệp cần
phải bỏ ra chi phí rất lớn để nỗ lực cho việc tung nhanh sản phẩm ra thị trường với một
số phương pháp sau:
+ Thông tin cho những khách hàng tiềm ẩn về hàng hóa mới mà họ chưa
biết thông qua các công cụ quảng cáo để đưa sản phẩm của mình trở nên quen thuộc
với khách hàng, kích tích họ mua hàng.
+ Khuyến khích khách hàng dùng thử hàng hóa: giúp doanh nghiệp có thể
đưa khách hàng tiếp xúc sản phẩm một cách nhanh chóng. Tuy nhiên hạn chế về chí phí
dùng và số lượng khách hàng được dùng thử là không tránh khỏi.
3
Ebook.VCU - wwưw.ebookvcu.com
- Đảm bảo phổ biến hàng hóa qua các doanh nghiệp bán lẻ có uy tín trên thị
- Chiến lược đẩy mạnh quảng bá thông tin mạnh mẽ về sản phẩm cho công
chúng đồng thời chuyển mục tiêu quảng cáo từ giới thiệu mặt hàng sang tạo niềm tin và
sự ưa thích sản phẩm: thực hiện chiến lược này sẽ dần hình thành nên những tập khách
hàng trung thành.
1.2.3. Giai đoạn bão hòa.
1.2.3.1. Đặc điểm thị trường.
Khi nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại, việc tiêu thụ sản phẩm bước
vào giai đoạn chín muồi.
Khối lượng hàng chưa bán được sẽ tồn đọng lại ở nhiều nhà sản xuất. Để tiêu
thụ được nhanh các sản phẩm của mình, các đối thủ cạnh tranh sử dụng nhiều thủ thuật
khác nhau như: bán hạ giá, bán theo giá thấp hơn, giá niêm yết chính thức, tăng quảng
cáo, kích thích các trung gian thương mại, tăng cường chi phí đầu vào cho việc nghiên
cứu, thiết kế thử nghiệm nhằm tạo ra các mẫu mã hàng mới... tình hình đó dẫn đến việc
lợi nhuận sẽ giảm sút.
Trên thị trường hiện nay, phần lớn các sản phẩm đều đang nằm trong giai đoạn
bão hòa.
1.2.3.2. Ứng xử Marketing.
Để tiếp tục tồn tại trên thị trường các nhà quản trị marketing có thể có các
phương án lựa chọn sau:
- Cải biến thị trường, tức là tìm thị trường mới cho sản phẩm: doanh nghiệp tổ
chức các hoạt động marketing, tìm kiếm khách hàng mới, tổ chức các phương thức
khuyến khích khách hàng tiêu dùng hàng hóa nhiều hơn.
- Cải biến sản phẩm, thay đổi một số yếu tố, đặc tính của sản phẩm:
+ Cải biến về chất lượng: tạo cho sản phẩm những tính chất mới, toàn
năng, an toàn và tiện dụng hơn để người mua cảm thấy tin tưởng hơn; đồng thời nâng
cao được giá trị của chính sản phẩm.
+ Cải biến về mẫu mã nhằm làm tăng sức hấp dẫn của hàng hóa để thu
hút khách hàng. Sự cải tiến này kích thích thị hiếu của khách hàng một cách tích cực và
hiệu quả nhất.
5
Ebook.VCU - wwưw.ebookvcu.com
sản. Lượng hàng tồn kho có thể được tiến hành thanh lý trên quy mô lớn để thu hồi một
phần vốn đầu tư, sản phẩm sẽ mất đi vĩnh viễn trên thị trường.
- Doanh nghiệp có thể thu hẹp chủng loại sản phẩm chào bán hoặc từ bỏ một
phần thị trường không đem lại lợi nhuận để tập trung vào các kênh phân phối hiệu quả
và khách hàng trung thành. Đây cũng là phương thức để doanh nghiệp cắt giảm chi phí
nhằm nâng cao lợi nhuận.
- Ngoài ra, một số doanh nghiệp sẽ tiến hành tăng cường chi phí quảng cáo và
tìm kiếm thị trường mới với mong muốn vực dậy sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ tung ra
nhiều chương trình khuyến mãi, hạ giá thành sản phẩm nhiều hơn để thu hút tiêu dùng.
Việc giữ lại sản phẩm suy thoái có thể làm giảm uy tín của công ty.
1.2.4.3. Một số lưu ý để doanh nghiệp tránh tình trạng suy thoái sản phẩm.
Suy thoái là một giai đoạn không hề mong muốn với bất cứ sản phẩm của bất cứ
doanh nghiệp nào. Do đó, để tránh tình trạng suy thoái, doanh nghiệp cần phải có một
số lưu ý sau:
- Luôn theo dõi sản phẩm một cách sát sao ngay cả khi đang ở giai đoạn phát
triển hưng thịnh nhất để có thể nhanh chóng phát hiện những dấu hiệu bão hòa nhằm
đưa ra các ứng xử kịp thời.
- Trong giai đoạn bắt đầu bão hòa, đối với từng mặt hàng doanh nghiệp cần phải
nhanh chóng quyết định tiếp tục lưu giữ hay loại bỏ chúng khỏi danh mục sản phẩm
của công ty. Các quyết định nhanh chóng sẽ giúp doanh nghiệp có chiến lược phát triển
mới, kịp thời nắm bắt cơ hội của thị trường.
- Doanh nghiệp cần nghiên cứu thị trường một cách kĩ càng trước các quyết định
lưu giữ hay loại bỏ sản phẩm, bởi việc lưu giữ đôi khi cũng đem lại lợi lớn nếu như các
đối thủ cạnh tranh rút lui khỏi việc kinh doanh mặt hàng đó.
1.3. Ý nghĩa việc nghiên cứu chu kì sống của sản phẩm.
Giống như con người, những sản phẩm có một chu kỳ sống. Chúng tăng trưởng,
suy giảm, và cuối cùng được thay thế. Từ lúc sinh ra đến chết đi, chu kỳ sống của sản
phẩm có thể được chia làm 4 giai đoạn: Giới thiệu, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái.
- Việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm là một điều cần thiết bới 2 lý do:
Ebook.VCU - wwưw.ebookvcu.com
CHU KỲ SỐNG CỦA TIVI SONY CRT MÀN HÌNH MẶT NẠ.
2.1. Giới thiệu chung về tivi Sony CRT màn hình mặt nạ.
SONY là một tập đoàn công nghệ cao chuyên sản xuất các thiết bị điện tử hàng
đầu trên thế giới được thành lập từ năm 1946. Hiện nay công ty đã sản xuất và tung ra
các sản phẩm trên thị trường như: các loại tivi; các loại đầu đĩa; máy ảnh, máy quay kỹ
thuật số; máy điện thoại; máy tính và thiết bị ngoại vi; thiết bị lưu trữ; thiết bị âm
thanh…
Tivi là một sản phẩm truyền thông không thể thiếu được đối với con người. Tivi
ra đời là một bước đột phá, giúp con người mở rộng tầm nhìn, nắm bắt thông tin, là
ngôn ngữ chung kết nối mọi người trên thế giới.
Cùng với sự phát triển công nghệ sản xuất tivi trên thế giới, hãng Sony cũng
nhanh chóng đưa vào hệ thống sản phẩm của mình chiếc tivi đầu tiên năm 1960. Đó là
chiếc tivi đen trắng, màn hình cong xách tay đầu tiên trên thế giới.
Tháng 10-1968, Sony cho ra đời chiếc tivi màu nhỏ gọn sử dụng đèn hình CRT,
một công nghệ mới mẻ giúp đèn có hiệu năng cao. Chính sáng kiến này đã được Hàn
Lâm viện quốc gia Mỹ về nghệ thuật truyền hình và khoa học tặng giải thưởng Emmy
cho tập đoàn Sony vào năm 1972.
Hiện nay có 3 công nghệ chế tạo màn hình tivi: CRT (bóng đèn hình), LCD (tinh
thể lỏng) và Plasma. CRT là loại màn hình dùng ống phóng tia điện tử va đập vào mặt
phốt pho trên màn hình để phát sáng. Tivi CRT được chia làm hai loại: màn hình mặt
nạ và màn hình Trinitron. Màn hình mặt nạ là loại màn hình có bề mặt hơi cong, chủ
yếu dùng kỹ thuật hạt màu, do đó có hình ảnh sắc nét, độ chính xác cao.
9