Tiểu luận
Giá trị của học thuyết về lợi
nhuận của Mác – ý nghĩa của
việc nghiên cứu về lợi nhuận
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
Contents
Contents 2
2
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
1. Các quan điểm trước Mác về lợi nhuận:
1.1. Quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng thương:
Chủ nghĩa trọng thương (CNTT) là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiene của giai
cấp tư sản, ra đời trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến, phát sinh
phương thức sản xuất TBCN, chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị
trường.
Học thuyết kinh tế trọng thương đánh giá cao vai trò của lưu thông và tiền tệ,
coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải. Học thuyết này cho rằng lợi nhuận là do
lĩnh vực lưu thông, mua bán trao đổi sinh ra. Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều,
mua rẻ bán đắt mà có. Lợi nhuận chỉ có thể gia tăng bằng con đường ngoại thương,
trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu. Họ cho rằng không
quốc gia nào được lợi mà không làm thiệt hại cho quốc gia khác, không người nào
được lợi mà không làm thiệt hại đến người khác.
Quan điểm này rõ ràng là rất ấu trĩ và sai lầm, có rất ít giá trị lý luận và mang
nặng tính kinh nghiệm. Nhưng nó rất thịnh hành và phát triển trong liền hai thế kỷ XV
– XVI cho đây là thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, sản xuất hàng hoá chưa phát
triển nên vai trò tích luỹ tiền tệ và hoạt động chiếm đoạt, buôn bán bất bình đẳng được
đặc biệt coi trọng.
1.2. Quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng nông:
“muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là
nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu”.
Theo C.Mác, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh bắt đầu từ Wiliam Petty
và kết thúc ở David Ricardo.
William Petty (1623 - 1687).
Lý thuyết địa tô - lợi tức của W. Petty được xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá
trị – lao động. Ông đã tìm thấy nguồn gốc của địa tô ở trong lĩnh vực sản xuất. Ông
định nghĩa địa tô và số chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và chi phí sản xuất (bao
gồm chi phí tiền lương, chi phí giống má). Về thực chất địa tô là giá trị dôi ra ngoài
tiền lương, tức là sản phẩm của lao động thặng dư. Ông nghiên cứu chi tiết địa tô
chênh lệch và chỉ ra là, các mảnh ruộng xa gần khác nhau mang lại thu nhập khác
nhau. Về lợi tức, ông coi lợi tức là tô của tiền và cho rằng nó lệ thuộc vào mức địa tô
Adam Smith (1723 - 1790).
Lý thuyết tiền lương, lợi nhuận, địa tô của A. Smith được xây dựng trên cơ sở
lý thuyết giá trị lao động. A. Smith cho rằng trong giá trị hàng hoá cho người công
nhân tạo ra, anh ta chỉ nhận được một phần tiền lương, phần còn lại là địa tô và lợi
nhuận của tư bản.
4
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
Theo ông, địa tô là khoản khấu trừ, đầu tiên vào sản phẩm lao động, về mặt
lượng nó là số dôi ra ngoài tiền lương và lợi nhuận tư bản. Về mặt chất nó phản ánh
quan hệ bóc lột. Còn lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của lao động.
Ông cho rằng lợi nhuận, địa tô và lợi tức chỉ là những hình thái khác nhau của giá trị
thặng dư. Khác với CNTN, A.Smith cho rằng không chỉ có lao động nông nghiệp mà
cả lao động công nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận.
Theo A. Smith, lợi nhuận tăng hay giảm tuỳ thuộc vào sự giàu có tăng hay giảm
của xã hội. Ông thừa nhận sự đối lập giữa tiền công và lợi nhuận. Ông đã tìm thấy tỷ
suất lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh giữa các ngành và khuynh hướng tỷ suất lợi nhuận
Chủ nghĩa Mác phát sinh là sự tiếp tục trực tiếp triết học cổ điển Đức, kinh tế
chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Lênin coi đó là 3 nguồn
gốc lý luận của chủ nghĩa Mác. Lênin đánh giá chủ nghĩa gồm ba bộ phận là triết học ,
kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Lênin đã đánh giá rằng “lý luận giá
trị thặng dư là hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của
Mác là “nội dung căn bản” của chủ nghĩa Mác.
2.1 Giá trị thặng dư - nguồn gốc và bản chất:
C. Mác là người đầu tiên tìm ra và khẳng định một cách khoa học về nguồn
gốc và bản chất của giá trị thặng dư.
2.1.1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư:
Mác viết: “ tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động biểu
thị trong hàng hoá”.
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị vì lao động sản xuất
có hai thuộc tính là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Theo Mác, lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của
một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, đối tượng riêng, thao tác
riêng, đối tượng riêng và cho một kết quả riêng. Kết quả lao động cụ thể tạo ra giá trị
sử dụng cho hàng hoá. Vì vậy, lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn.
Lao động nếu coi là sự hao phí sức lao động con người nói chung không kể
hình thức cụ thể của nó thế nào thì gọi là lao động trừu tượng. Trong sản xuất hàng
hoá, cần thiết phải quy các lao động cụ thể khác nhau vốn không thể so sánh được đó
là lao động trừu tượng. Vì vậy, lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử. Lao động
trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá.
Mác đã nghiên cứu quá trình sản xuất và lưu thông và thấy rằng nếu tư bản đưa
ra một lượng tiền T vào lưu thông thì số thu về lớn hơn số tiền ứng ra. Ta gọi là T’ (T’
>T) hay: T’ = T + ∆ T.
6
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
giá trị bằng 30đôla. Phần giá trị mới dôi ra ngoài 30 với giá trị sức lao động gọi là giá
trị thặng dư (3 đôla)
Phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất ra (20 kgsợi) chúng ta thấy có 2 phần:
* Phần giá trị những tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân
bảo tồn và chuyển vào sản phẩm mới để hình thành nên giá trị của sản phẩm mới để
7
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
hình thành nên giá trị của sản phẩm mới (sợi) gọi là giá trị cũ (trong ví dụ trên là 6 đô
la) phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng
thêm giá trị thặng dư. Vậy, giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức
lao động do người công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. sản xuất ra giá trị
thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị được kéo dài quá cái điểm mà ở đó giá trị sức
lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng vật ngang giá mới.
2.1.2. Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư:
Ở trên chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư, và do đó vạch
trần bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa. Phần này nghiên cứu sự bóc lột tư bản chủ
nghĩa về mặt lượng
Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến, tức là
tỷ số theo đó tư bản khả biến tăng thêm gía trị. Mác đã dùng ký hiệu m’ để chỉ tỷ suất
giá trị thặng dư:
m' = m/v.100%
Trong đó: m là giá trị thặng dư
v là giá trị mới do lao động công nhân tạo ra
Tỷ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân.
Về thực chất, tỷ lệ này là tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần
thiết và thời gian lao động thặng dư. Tuy nhiên tỷ suất giá trị thặng dư không biểu hiện
lượng tuyệt đối của sự bóc lột
không thay đổi
Chúng ta giả sử rằng độ dài ngày lao động là 8 giờ trong đó 4 giờ lao động cần
thiết và 4 giò lao động thặng dư. Giả định tiếp bằng cách tăng năng suất lao động,
công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị bằng với giá trị sức lao
động củamình, và dó đó thưòi gian lao động thặng dư đã tăng lên 5 giờ. Như vậy, nếu
trước đây m’ = . 100 = 100% thì bây giờ là . 100 = 166%.
Giá trị thặng dư được tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết
trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi, nhờ đó kéo dài tương ứng thời gian
lao động thặng dư do tăng năng suất lao động, được gọi là giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư phụ thêm xuất hiện khi giá
trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội, mang tính chất tạm thời
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tươngđối có một cơ sở chung đó
là dựa trên cơ sở tăng suất lao động để rút ngắn thời gian lao động cần thiết. Tuy vậy
9
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
giữa chúng có sự khác nhau: Giá trị thặng dư tương đối dựa trên cơ sở tăng năng suất
lao động xã hội, còn giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động
cá biệt. Giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ được thay thế bằng giá trị thặng dư tương đối
khi trình độ kỹ thuật mới từ trường hợp cá biệt được áp dụng trở thành phổ biến. Vì
vậy, C. Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng
dư tương đối.
2.2. Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư:
2.2.1. Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận bình quân
2.2.1.1. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận
Để sản xuất hàng hoá, xã hội phải chi phí một số lao động nhất định
-Lao động quá khứ (tức lao động vật hoá) tức là giá trị của tư liệu sản xuất
giữa m và p chính là tương quan giữa giá bán hàng hoá của nhà tư bản với giá trị hàng
hoá. Sự không thống nhất giữa m và p này đã càng làm che dấu thực chất bóc lột của
chủ nghĩa tư bản
Tỷ suất lợi nhuận
Trên thực tế các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm
đến tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ suất tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ
tư bản ứng trước.
Nếu ký hiệu tỷ suất lợi nhuận là p’ ta có:
. 100% = . 100%
Về mặt lượng, p’ luôn nhỏ hơn m’. Về mặt chất thì m’ phản ánh trình độ bóc lột
của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê. Còn p’ không thể phản ánh được điều đó
mà chỉ nói lên mức lãi của việc đầu tư.
Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu thì có
lợi. Do đó, việc thu p và theo đuổi p’ là động lực thúc đẩy nhà tư bản, là mục tiêu cạnh
tranh của các nhà tư bản
2.2.1.2 Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân – quy luật lợi nhuận bình
quân
Dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, dưới CNTB luôn tồn tại cạnh tranh.
Đây là hình thức đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều
kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
Trong xã hội tư bản có hai loại cạnh tranh: cạnh tranh trong nội bộ ngành và
cạnh tranh giữa các ngành.
11
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng
một ngành, cùng sản xuất ra một hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn
để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Tư bản thương nghiệp có chức năng chính là mua hàng của nhà tư bản công
nghiệp (với giá mua nhỏ hơn giá trị hàng hoá) và bán cho người tiêu dùng (với giá bán
bằng giá trị hàng hoá). Nếu xét một cách hạn chế ở chức năng mua và bán, tư bản
thương nghiệp không sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Về thực chất, lợi nhuận
thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo ra trong lĩnh vực sản xuất
mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản thươngnghiệp
Tư bản thương nghiệp với những đặc trưng của mình đã có vai trò to lớn đối
với tư bản công nghiệp, đó là đảm bảo quá trình tái sản xuất được tiếp tục và mở rộng,
giúp vốn của nha tư bản công nghiệp chu chuyển nhanh hơn và nâng cao tỷ suất lợi
nhuận cho nhà tư bản công nghiệp
Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp như thế nào?
Lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá.
Đó là một phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản công nghiệp đã thu được. Sự phân chia
giá trị thặng dư giữa nhà tư bản công nghiệp và nhà tư bản thương nghiệp được tiến
hành theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân, tức là lợi nhuận thương nghiệp cũng
vận động theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Sự hình thành Ptn đã che dấu đầu thêm một bước quan trọng hệ bóc lột của
TBCN.
2.2.3 Lợi tức cho vay:
2.2.3.1. Lợi tức cho vay
Trong xã hội tư bản, luôn luôn tồn rại việc một số nhà tư bản nào đó có một số
tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, không sinh lợi. Nhưng nhà tư bản rất mong muốn tiền
phải đẻ ra tiền… Mặt khác, luôn luôn có một số nhà tư bản khác rất cần tiền dẫn tới xu
hướng muốn đi vay
Từ hai mặt trên tất yếu sinh ra sự vay mượn lẫn nhau, sinh ra quan hệ tín dụng
TBCN. Và nhờ có quan hệ vay mượn này mà tư bản nhàn rỗi đã trở thành tư bản cho
vay. Vậy tư bản cho vay là tư bản tiền tện mà người chủ của nó nhường cho một người
khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời lãi nào đó. Số lời lãi đó
được gọi là lợi tức
Nhà tư bản cho vay nhường quyền sử dụng tư bản của mình cho người khác, do
phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất
14
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
1. Lợi nhuận là động lực của nền kinh tế thị trường
1.1. Cơ chế thị trường - những lý luận cơ bản
Nền kinh tế thị trường (KTTT) là nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị
trường, trong đó 3 vấn đề cơ bản là: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất
cho ai? đều được giải quyết thông qua thị trường. Trong nền kinh tế này, cá nhân
người ti4eu dùng và các nhà sản xuất kinh doanh tác động lẫn nhau lên thị trường để
xác định một hệ thống giá cả thị trường, lợi nhuận, thu nhập .Các doanh nghiệp sẽ dx
kinh doanh với quy luật tối đa hoá lợi nhuận, tiêu dùng của các hộ gia đình sẽ theo quy
luật tối đa hoá lợi ích, còn chính phủ sẽ quản lý nền kinh tế nhằm đảm bảo hiệu quả
kinh tế, xã hội.
Các hệ thống kinh tế hiện đại ngày nay không mang những hình thức thuần tuý
nào mà đều là các nền kinh tế hỗn hợp, đó
15
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
Là sự kết hợp các nhân tố thị trường, kế hoạch và truyền thống. Trong đó về
chế độ sở hữu thì đa dạng hoá các loại hình sở hữu, về cơ cấu thì bao gồm nhiều thành
phần kinh tế, hoạt động theo cơ chế thị trường và chịu sự quản lý điều tiết của Nhà
nước. Cơ chế thị trường đòi hỏi mọi thành viên phải tôn trọng các quy luật khách quan
của nó, như quy luật cung cầu, lưu thông, cạnh tranh, giá cả
1.2. Vai trò của lợi nhuận đối với nền kinh tế thị trường.
1.2.1. Lợi nhuận thúc đẩy lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phát triển.
Lợi nhuận – hình thức chuyển hoá của giá trị thặng dư là nguồn gốc của sự giàu
có của xã hội. Trong cơ chế thị trường, mọi thành viên phải hoạt động với mục tiêu
hội ở các giai cấp, dân tộc.
1.2.2. Lợi nhuận thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội.
Như ta đã biết, lợi nhuận là nguồn gốc của sự giàu có lên của cải xã hội. Đối
với các doanh nghiệp, một phần chủ yếu của lợi nhuận thu được dùng để mở rộng, đẩy
mạnh sản xuất và tích luỹ, tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đối với xã hội, tổng thu nhập
của Nhà nước tăng lên là nhờ lợi nhuận và nó cũng được dùn để đầu tư trở lại nền kinh
tế – xã hội, nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật đảm bảo công bằng xã hội, đảm
bảo các điều kiện môi trường kinh tế thuận lợi cho phát triển . Như vậy không có lợi
nhuận thì không có sự duy trì và mở rộng sản xuất ở các doanh nghiệp, không có sự
phát triển ở các quốc gia.
1.2.3. Lợi nhuận là mục tiêu và động lực của các doanh nghiệp kinh tế.
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh với động cơ kinh tế là để
kiếm lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận là mục tiêu của kinh doanh là
thước đo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, là động lực kinh tế thúc đẩy các
doanh nghiệp cũng như mỗi người lao động không ngừng sử dụng hợp lý tiết kiệm cá
nguồn lực, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh
doanh. Thật vậy, để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho nhu cầu của thị trường, nhu cầu
của người tiêu dùng, các nhà sản xuất phải bỏ ra những chi phí nhất định. Họ mong
muốn hàng hoá và dịch vụ của họ đực mua với giá ít nhất là đủ để bù đắp lại những chi
phí đã chi ra, ngoài ra học còn muốn sẵn sàng cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của con
người những hàng hoá và dịch vụ mong muốn. Do đó động cơ lợi nhuận là một bộ
phận hợp thành quyết định tại ra sự hoạt động thắng lợi củ thị trường hàng hoá cũng
như các doanh nghiệp.
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả và hiệu quả của
quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu
thị trường, chuẩn bị sản xuất kinh doanh, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tổ
chức tiêu thụ sản phẩm. Nó phản ánh cả về mặt lượng và chất của quá trình kinh
17
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
2. Vấn đề lợi nhuận đối với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2.1. Cơ chế cũ và quan niệm cũ về vai trò của lợi nhuận.
Sau khi kết thúc 2 cuộc kháng chiến vĩ đại, cả nước ta bắt tay vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên toàn quốc. Mô hình kinh tế của đất nước ta lúc đó là mô hình kinh tế
chỉ huy với cơ chế tập trung bao cấp, áp dụng khá máy móc mô hình kinh tế của Liên
Xô. Về sở hữu thì chỉ tồn tại hai hình thức là sở hữi toàn dân và sở hữu tập thể, tương
ứng là hai thành phần kinh tế chủ yếu: kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã. Trong
cơ chế này, mọi quyết định về sản xuất kinh doanh và phân phối đều do Nhà nước
quyết định thông qua kế hoạch tập trung. Nhà nước giao công nghệ, kỹ thuật, nguyên
liệu, vốn, chỉ tiêu sản xuất cho các doanh nghiệp và đảm bảo cao tiêu sản phẩm. Về
tiêu dùng, chúng ta áp dụng hệ thống “phân phối – phân phối lại” không dựa trên nhu
cầu thiết thực củ người tiêu dùng.
Về vấn đề lợi nhuận, thời kỳ này chúng ta đã chủ quan duy ý chí, hiểu và áp
dụng phiến diện chủ nghĩa Mác- Lênin, muốn tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
tất thảy mọi phạm trù của chủ nghĩa tư bản. Không nằm ngoài điều đó, lợi nhuận được
xem là phạm trù riêng có của CNTB, là sự bóc lột không thể chấp nhận được. Và vấn
đề lợi nhuận không được đề cập đến trong thực tiễn nền kinh tế.
Trong có chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp chỉ cần biết sản xuất ra
đúng như chỉ tiêu đã giao, không cần quan tâm đến thị trường, đến thị hiếu mà nhu
cầu và chất lượng hàng hoá mà mình sản xuất ra. Mọi sản phẩm làm ra đều được Nhà
nước bao tiêu và hiệu quả làm ăn sẽ không được xét tới một cách thực sự bởi công
thức “Lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước bù” đã làm cho lợi nhuận mất đi vai trò động lực
của nó.
Rõ ràng cơ chế kinh tế tập trung bao cấp cùng với sự quan liêu mất dân chủ
trong kinh tế đã làm tê liệt sức sống của nền kinh tế, làm triệt tiêu động lực phát triển
của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chỉ như công cụ chứ không phải là một chủ
một bước quan trọng
Với mục đích hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp Nhà
nước đã tiến hành tổ chức sắp xếp lại cơ cấu sản xuất, đầu tư đổi mới trang thiết bị,
nghiên cứu thị trường, sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào, nâng cao năng suất ls, chất
lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh, hội nhập, kết quả là sự phát triển vượt bậc về
quy mô và số lượng của các doanh nghiệp, thị trường hàng hoá phong phú, đáp ứng
được chủ yếu nhu cầu thị trường, đóng góp đáng kể cho ngân sách,làm nhân tố quyết
20
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
định sự phát triển và nâng cao thu nhập, đời sống của người lao động. Nâng cao uy tín
và khả năng cạnh tranh đối với thị trường trong nước và quốc tế.
Xét ở tầm vĩ mô, sự phát triển mạnh mẽ và ổn định của nền kinh tế trên cơ sở
nâng cao hiệu quả hoạt động đã ảnh hưởng tích cực đến các quan hệ chính trị xã hội
khác. Đó là sự chuyên môn hoá, là sự phân bổ laị các vấn đề lớn của xã hội như tạo
việc làm, chống lạm phát, công bằng thu nhập,
Thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta đặt ra những yêu cầu mới cần nhận thức
lại và bổ sung về các cơ chế chính sách, các quan hệ chính trị, xã hội giai cấp, các
quan hệ phân phối, thu nhập
2.2.3. Những tồn tại cần giải quyết của vấn đề lợi nhuận trong nền kinh tế -
xã hội.
Dưới chủ nghĩa tư bản, với mục đích thu lợi nhuận bằng mọi giá, các nhà tư bản
đã áp dụng mọi cách có thể bóc lột công nhân làm thuê, dẫn tới tình trạng bần cùng
hoá và nghèo khổ. Ở nước ta hiện nay, mặc dù kinh tế có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng mặt trái của việc theo đuổi lợi nhuận đã và
đang gây ra những tổn thất không nhỏ trên nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội.
Về các doanh nghiệp, có một số doanh nghiệp đã không tôn trọng đúng quyền
lợi của người lao động như thực tiễn luật lao động bảo hiểm xã hội, chế độ giờ làm,
tiền lương làm ảnh hưởng đến đời sống người lao động. Nhiều doanh nghiệp vẫn
hiệu quả kinh tế làm mục tieue phát triển.
Cần chú ý nghiên cứu và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong lý luận cũng
như trong thực tiễn, xây dựng nền tảng lý luận khoa học nhằm phục vụ cho việc đề ra
các cơ chế chính sách kịp thời, hợp lý.
Nhà nước cần tiếp tục cải cách hành chính, kiên quyết chống tham nhũng, buôn
lậu, sai phạm trong kinh tế. Có chính sách về phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập,
chính sách tiền lương hợp lý đảm bảo vừa khuyến khích phát triển, vừa tăng thu ngân
sách và đảm bảo công bằng xã hội. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử
phạt nghiêm minh những cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền lợi
chính đáng của người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường kinh doanh
thuận lợi.
Đối với các doanh nghiệp cần tổ chức lại sản xuất kinh doanh hợp lý hướng vào
việc nâng cao năng suất lao động, chống ô nhiễm môi trường, giảm giá thành sản
phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh và hội nhập, .
Đó là cơ sở vững chắc để lợi nhuận phát huy được vai trò tích cực của mình,
góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
22
Nhóm 1
GV: Lê Hùng
Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác – ý nghĩa của việc nghiên cứu về lợi nhuận
1. Giá trị của học thuyết về lợi nhuận của Mác
1.1. Giá trị lý luận
Việc Mác phát hiện ra giá trị thặng dư đã thực sự là một cuộc cách mạng trong
kinh tế chính trị học, không chỉ phát hiện mà Mác còn xây dựng nên cả một học thuyết
biện chứng và khoa học. Mác đã tìm ra nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư,
nhận thấy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Mác
đã vạch trần được bản chất bóc lột tàn bạo và tinh vi của chủ nghĩa tư bản đối với giai
cấp công nhân. Trong đó ông đã phân tích một cách đầy đủ và có hệ thống toàn bộ
phạm trù kinh tế của chủ nghĩa tư bản, tìm ra quy luâth, sự phát sinh, phát triển và
chuyển hoá của các phạm trù đó. Có thể nói học thuyết kinh tế của Mác là một học
Như vậy, lợi nhuận có một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
của nước ta. Nhưng để phát triển thành công nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa thì vấn đề sử dụng lợi nhuận phải được giải quyết một cách đúng đắn và hợp lý.
Trong hoàn cảnh chủ nghĩa Mác – Lênin đang bị công kích bởi chủ nghĩa tư
bản hiện đại thì yêu cầu của việc nghiên cứu nắm vững lý luận giá trị thặng dư của
Mác nhằm vận dụng và phát triển sáng tạo vào thực tiễn nền kinh tế thị trường của
Việt Nam cũng như của các nước xã hội chủ nghĩa khác là trách nhiệm của các thế hệ
kế thừa.
24
Nhóm 1