Luận văn
Sử dụng phương pháp đánh
giá ngẫu nhiên (CVM) để đánh
giá giá trị của việc duy trì hệ
thống cây xanh trên địa bàn
thành phố HN.
PHẦN I : PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
1. Lý do cơ bản:
Trong những năm vừa qua hoạt động bảo vệ môi trưòng ở nước ta đã và đang
được đẩy mạnh, những hoạt động này bước đầu thực hiện mục tiêu phát triển
bền vững. Tuy nhiên ở nhiều nơi vấn đề về môi trường vẫn đang là mối quan
tâm lo ngại, nhất là tại những thành phố lớn.
Khi nền kinh tế có thể nói là chưa phát triển con người luôn cố gắng làm sao
vận dụng tất cả những gì sẵn có của thiên nhiên nhằm mục đích phục vụ cho
quá trình sản xuất và kiến thiết của mình. Những thứ ngày ngày tồn tại xung
quanh chúng ta dường như dễ bị lãng quên đi giá trị đích thực của nó hoặc họ lơ
đi sự quan trọng của chúng.
Hà Nội (HN) một trong những trung tâm văn hoá kinh tế lớn của cả nước đang
đứng trước những mối đe doạ về sự ô nhiễm trầm trọng do sự phát triển của
mình.
Đi trên con đường Trần Phú tôi băn khoăn về một HN xưa rợp bóng cây xanh
tại sao nay đâu còn. Phải chăng sự ồn ào và phát triển quá nhanh của xã hội của
nền kinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá đang dần chuyển mình đổi mới đồng
nghĩa với nó là ta dường như quên đi những gì vẫn tồn tại và những gì đang mất
đi. Tôi trên góc độ một nhà kinh tế môi trường đang học tập rèn luyện và nghiên
cứu tôi quan tâm hơn tới vấn đề hệ thống cây xanh của HN, và tôi muốn bước
đầu tiếp cận để lượng giá việc duy trì hệ thống cây xanh tại trên địa bàn thành
phố HN, đứng trên quan điểm và lập luận của cá nhân mình.
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Các phương pháp chung khi đánh giá một tài nguyên thiên nhiên tái
sinh
Để đánh giá một đa dạng sinh học, ta có rất nhiều phương cách khác nhau. Áp
dụng trong các hoàn cảnh khác nhau về loại hàng hoá môi trường, về thời gian
và nguồn lực cho phép, về khả năng tổng hợp dữ liệu, về điều kiện địa lý cũng
như kinh tế xã hội của khu vực cần đánh giá, ta lại có nhiều kỹ thuật riêng biệt.
Theo Environmental Economics: A pratical guide, 5 cách tiếp cận cơ bản với
việc đánh giá hành hoá chất lượng môi trường là
* Đánh giá theo giá cả thị trường (market price-based)
* Thị trường thay thế (surrogate market-based)
* Thị trường giả định (hypothetical market-based)
* Đánh giá dựa vào chi phí (cost-based)
* Chuyển giao lợi ích (benefit transfer)
Còn trong tài liệu Kinh tế môi trường của Barry Field và Nancy Olewiler, có 2
cách tiếp cận chính là: cách tiếp cận dùng giá thị trường để phản ánh WTP
(Willing To Pay: sự sẵn lòng chi trả) và cách tiếp cận tính WTP của cá nhân
thông qua hành vi tiêu dùng của họ hoặc hỏi trực tiếp. Cụ thể các phương pháp
như sau.
* Thay đổi năng suất
* Chi phí chăm sóc sức khoẻ
* Thiệt hại vốn nhân lực
* Chi phí phục hồi
* Phương pháp chi tiêu ngăn ngừa
* Đánh giá hưởng thụ
* Chi phí du hành (thị trường đại diện)
* Đánh giá ngẫu nhiên
Theo bốn phương pháp đầu tiên, ta đo lường WTP trực tiếp, tức là: ta đem soi
tính khách quan, người trả lời đúng với hành động thực của họ thì kết quả của
phương pháp là khá chính xác. CVM được áp dụng cho rất nhiều yếu tố môi
trường như chất lượng không khí, giá trị cảnh quan, giá trị giải trí của bãi biển,
bảo tồn các loài động vật hoang dã, hoạt động câu cá và săn bắn, phát thải chất
độc hại…
Để thực hiện một CV thành công, ta đi theo các bước như sau:
Bước 1: Nhận dạng và mô tả các đặc tính của môi trường cần đánh giá.
Trong trường hợp này, ta đã tiến hành xong bước một trong Phần I. Các giá
trị của khu vực cần đánh giá được làm sáng tỏ ở mục 2.
Bước 2: Nhận dạng đối tượng cần hỏi, bao gồm cả quá trình lấy mẫu để chọn
người trả lời.
Bước 3: Thiết kế bảng hỏi, lựa chọn hình thức chi trả của người dân (WTP
hay WTA) dựa vào ý định điều tra đánh giá của người hỏi, phỏng vấn trực
tiếp, gọi điện thoại hoặc gửi thư. Ngoài ra còn một phương cách khác là thảo
luận nhóm. Mỗi cách này đều có mặt tích cực và hạn chế, ví dụ phỏng vấn
trực tiếp từng người là tốt nhất, nhưng nó sẽ rất mất thời gian và tiền bạc nếu
quy mô điều tra càng lớn; còn gửi thư thì rất nhanh, số lượng phát ra nhiều,
trên quy mô rộng, nhưng lại khó đảm bảo độ phản hồi cao và chất lượng
phỏng vấn đúng như người điều tra mong muốn. Tuỳ vào các điều kiện
khách quan, sự sẵn có của thông tin sơ cấp mà ta lựa chọn phương thức điều
tra thích hợp.
Bước 4: Nhập dữ liệu, phân tích kết quả, tổng hợp kết quả điều tra mẫu để
suy rộng ra tổng thể. Để thực hiện tốt khâu này, ta cần phải có những kiến
thức nhất định về thống kê và kinh tế lượng. Các chương trình phổ biến hay
được áp dụng là MFIT3, EXCEL, ACCESS, SPSS.
Bước 5: Sử dụng ước lượng WTP hay WTA trong phân tích chi phí lợi ích,
xem xét mức độ phù hợp của kết quả điều tra. Ta biết được tổng số người
hưởng lợi từ môi trường, biết các giá trị sẵn lòng chi trả/chấp nhận trung
bình mẫu, nhân chúng với nhau ta được tổng giá trị kinh tế tương đối của
trước đó, một việc rất quan trọng phải đặt ra là, mục tiêu của điều tra là gì? Xác
định được rõ ràng điều này, câu hỏi của chúng ta sẽ tập trung bám sát những ý
đã đặt ra, không bị phân tán, nông cạn. Sau khi thu thập xong tất cả thông tin, ta
tính trung bình và trung vị của WTP/WTA. Những mức giá nào cao hoặc thấp
đột biến có thể bỏ đi được. Còn với những biến số kinh tế xã hội của người trả
lời, ta hồi quy với giá sẵn lòng chi trả để xem biến nào ảnh hưởng đến mức giá
đó nhất. Sau đó ta có thể lấy mức giá trung bình nhân với tổng dân số ra tổng
giá trị kinh tế của khu vực cần đánh giá.
2.2 Ưu nhược điểm
Nổi trội so với các phương pháp đo lường trực tiếp khác (chi phí thiệt hại, liều
lượng-đáp ứng…), CVM đánh giá được cả những giá trị tồn tại (existence
value) và giá trị lựa chọn (option value), vì vậy nó được các nhà kinh tế học
tương đối ưa thích. CVM không đòi hỏi phải chia vùng hay phân nhóm như
TCM (phương pháp chi phí du lịch – cũng thiết lập bảng hỏi như CVM) mà nó
dựa trên những đánh giá hoàn toàn ngẫu nhiên, của một nhóm đối tượng cũng
không mặc định. Người trả lời có thể không đến khu vực cần đánh giá, nhưng
họ vẫn có thể đánh giá về chúng theo cảm nhận của mình (khác với TCM đòi
hỏi đối tượng phải là khách du lịch đến địa điểm tham quan).
Thực hiện CVM tưởng chừng không khó, nhưng hai vấn đề lớn sau đây rất dễ
mắc phải, gây cản trở cho việc làm một nghiên cứu thành công, đó là:
Thứ nhất, về phía người trả lời: khi thực hiện mua bán một món hàng
trên thị trường (1kg gạo, 1 thùng mì), người bán sẽ đưa giá thực dựa trên
chi phí và lợi nhuận, người mua sẽ trả tiền thật dựa trên nhu cầu và ngân
sách. Hàng hoá môi trường vốn đã không hiện hữu trên thị trường, nay lại
được đặt trong một tình huống giả định, do người nghiên cứu nghĩ ra, buộc
người đọc phải suy nghĩ và tưởng tượng. Có hai trường hợp xảy ra là: Họ
không tưởng tưởng hết được những gì sẽ xảy ra trên thị trường thật hoặc họ
hiểu được vấn đề và có ý định trả lời sai lệch. Trường hợp đầu, người trả
lời không thực hiện những chuyển giao thực nên họ cũng không biết rõ nên
PHẦN 3: XÂY DỰNG QUY TRÌNH TÍNH TOÁN
Điều tra này được thực hiện theo 4 bước:
Bước 1: Xây dựng các công cụ để tiến hành điều tra
Bước 2: Sử dụng công cụ điều tra tiến hành trên một mẫu cụ thể
Bước 3: Phân tích các câu trả lời
Bước 4: Kiểm định giả thuyết và độ nhạy
1. Xây dựng các công cụ để tiến hành điều tra
Trước tiên, ta phải xây dựng một tình huống giả định hợp lý, để mỗi người trả
lời có thể dễ dàng tưởng tượng và chấp nhận, dẫn đến việc đưa ra hành vi đúng
với thực tế nhất
Bảng hỏi được thiết kế thành hai phần. Phần thứ nhất là kịch bản giả thuyết
được trình bày dễ nhìn, dễ hiểu, bắt mắt cùng hai câu hỏi về sự sẵn lòng chi trả
Standard
Error 2.2443737
Observations
40
ANOVA
df SS MS F
Significance
F
Regression 3 30.035317
10.0118
1.9875617
0.133226625Residual 36 181.33968
5.03721Total 39 211.375
Coefficients
Standard t Stat P-value Lower 95% Upper
Error 95%
0.4841318
-0.03314602 0.0686213
3.2 Hồi qui WTP theo các biến giải thích khác: Sử dụng chương trình Data
analysis, công cụ Regression cho 4 dãy dữ liệu: WTP (biến phụ thuộc) E, A, I
(biến độc lập).
3.3 Nhận xét Tổng giá trị kinh tế = số dân HN x WTP trung bình
3216,7 nghìn người x 4.375 nghìn đồng
= 14073062,5( nghìn đồng)
Các nhân tố ảnh hưởng đến WTP được biểu diễn trong hàm như sau:
WTP = 2.426+ 0.74957E + 0.0005I + 0.017A (đơn vị nghìn đồng)
Dựa vào bảng kết quả, ta đưa ra một số nhận xét:
- Cả ba nhân tố I (thu nhập theo tháng) E (trình độ học vấn) và A (độ tuổi) đều
có tác động ít nhiều đến sự sẵn lòng chi trả của người trả lời và đều theo chiều
thuận. Tức là nếu một trong 3 yếu tố tăng lên (hay giảm xuống) thì kéo theo
WTP cũng tăng (giảm).
4. Phân tích độ nhạy
Đây là một bước rất cần thiết trên lý thuyết. Như đã giải thích ở trên, với những
nghiên cứu lớn, kéo dài trong nhiều năm thì cần điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu theo
một chuẩn nhất định. Với một nghiên cứu nhỏ như thế này, tỷ lệ chiết khấu
không chi phối độ chính xác của điều tra nên ta có thể bỏ qua. Còn những tham
số trong mô hình đường cầu đã được kiểm định mức ý nghĩa trong phần trên.
KẾT LUẬN
Có những điều mà chỉ có làm mới học được và mới biết.
“ Learning by doing”. Khi đi điều tra và nghiên cứ mới thấy mình còn phải cố
gắng và học tập nhiều cho nền kinh tế môi trường phù hợp với bối cảnh của nền
kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng và phát triển phải duy trì, cũng như giữ mãi hình
ảnh một HN xanh trong bạn bè năm châu bốn phương là nhiệm vụ không chỉ
của riêng tôi mà cũng là của các bạn. Hãy tham gia vào những hoạt động môi
trường lành mạnh hãy lắng nghe những gì đang biến đổi từ cuộc sống xung
quanh ta, hãy sống cho thệ hệ hôm nay và cả thế hệ mai sau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
.
1. Giáo trình Kinh tế và quản lý môi trường - PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh.
NXB Thống kê, 2003
2. Bài giảng Kinh tế môi trường (dùng cho chuyên ngành) – Khoa
KTMTĐT, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
3. Cơ sở khoa học Môi trường – Lưu Đức Hải (nhà xuất bản Đại học quốc
Giới tính
nam nữ
Số nhân khẩu
Trình độ học vấn
tiểu học phổ thông trung học
trung học cở sở đại học
trên đại học
Thu nhập của gia đình ông ( bà)
Duới 1 triệu Từ 3 triệu tới 5 triệu
Từ 1triệu tới 3 triệu Từ 5 tới 10 triệu
Trên 10 triệu
4. Quan điểm của ông ( bà) về việc duy trì hệ thống cây xanh
Hoàn toàn đồng ý. Bình thường
Khá đồng ý. Không đồng ý
Khá phản đối
5. Ông (bà) còn ý kiến đóng góp cho việc xây dựng bảo tồn hệ thống cây xanh
không?
PHỤ LỤC II: Số liệu điều tra mẫu
ID WTP EDU
INCOME
per
month AGE
1
2 1 750 23
12
3 1 750 60
13
4 1 4250 26
14
4 0 5250 48
15
5 0 750 20
16
2 0 750 23
17
2 1 1750 33
18
5 1 2250 58
19
10 1 2250 61
20
3 1 1250 45
21
2 0 750 31
32
2 0 250 44
33
5 1 1250 35
34
3 0 250 20
35
10 1 3750 49
36
4 0 750 36
37
3 0 250 23
38
5 1 750 24
39
4 1 250 24
40
3 1 250 25