I. Hệ thống KTNN VN
1. Khái niệm hệ thống KTNN VN
Hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong
nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất,
những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình
thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng
của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp.
2. Thực trạng hệ thống KTNN VN trước đổi mới
• Trong nhiều thập kỉ trước thời kì đổi mới, quan điểm cơ bản
về việc hình thành và phát triển hệ thống KTNN VN quá đề
cao vai trò của sở hữu nhà nước dẫn đến thiết lập hàng loạt
các xí nghiệp quốc doanhtrong mọi lĩnh vực, với sự tài trợ
rất lớn từ NSNN. Khu vực sản xuất thuộc các thành phần
kinh tế không phải sở hữu nhà nước chỉ được coi là hình
thức sở hữu quá độ. Các hình thức sở hữu tư nhân chưa
được thừa nhận. Cùng với việc áp dụng cơ chế quản lý kế
hoạch hóa, tập trung bao cấp, sự vận động và phát triển của
hệ thống KTNN nước ta theo mô hình nêu trên tỏ ra kém
hiệu quả , các tiềm năng đất đai và lao động không được
khai thác triệt để, vật tư, tiền vốn bị sử dụng lãng phí và thất
thoát nhiều, đời sống nông dân và bộ mặt của nông thôn
chậm được cải thiện.
- Cụ thể là, trước những năm 80 thế kỷ XX, miền Bắc Việt Nam
thực hiện chế độ tập thể hóa nông nghiệp, ngoài cho phép các
hộ nông dân giữ lại 5% ruộng (ruộng phần trăm), toàn bộ phần
đất còn lại thực hiện sản xuất tập thể. Sau khi thống nhất đất
nước năm 1975, chế độ tư hữu đất đai ở miền Nam bắt đầu
được cải tạo, nhưng vẫn chưa triệt để. Năm 1980, Việt Nam sửa
đổi hiến pháp, thực hiện quốc hữu hóa đất dai, đẩy mạnh toàn
diện tập thể hóa nông nghiệp, nông dân không được tự kinh
doanh, thiếu tính tích cực trong sản xuất, dẫn tới tình trạng cung
- Sau Luật hợp tác xã sửa đổi (2003), yếu tố mới xuất hiện là xã viên
hợp tác xã đã được mở rộng ra bao gồm cả chủ trang trại, doanh
nhân, các tổ chức kinh tế có pháp nhân; hơn nữa, hợp tác xã được
coi là loại hình doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường
Hợp tác xã có một sức sống mạnh mẽ hơn
- Ngược lại, những hợp tác xã chưa chuyển đổi hoặc chuyển đổi
hình thức thì nông hộ phải tự lo hầu như mọi khâu, mọi việc…
Hợp tác xã chỉ sống dựa vào thu thuế, phí dịch vị, đặc biệt là lệ phí
quản lý theo đầu sào.
- Những hợp tác xã kiểu quỹ quá yếu kém tự tan rã và giải thể.
Nhiều nông hộ, nông trại tự nguyện liên kết với nhau hình thành
những hình thức hợp tác mới
Nhìn chung, quả trình chuyển đổi hợp tác xã và phát triển các
hình thức kinh tế hợp tác mới trong nông nghiệp phù hợp với
yêu cầu cụ thể nhưng cũng nảy sinh một số vấn đề cần giải
quyết.
3) Đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp
- Các nông, lâm, ngư trường đã giao đât, giao vườn cây, mặt nước,
thực hiện khoán sản phẩm đến hộ gia đình công nhân viên và một
số nông dân trong vùng, coi hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, đảm bào
dịch vụ giống, vật tư kĩ thuật, công nghệ và bao tiêu sản phẩm cho
các hộ.
- Đến nay, hầu hết các nông, lâm trường đã chuyển thành các doanh
nghiệp nông nghiệp với hình thức công ty, tổng công ty –những
đơn vị kinh doanh hạch toán theo cơ chế thị trường tự chịu trách
nhiệm về kết quả kinh doanh và hiệu quả tài chính; nhà nước chỉ
hướng dẫn, không can thiệp trực tiếp vào kinh doanh của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước không can thiệp vào các hoạt
động sản xuất nông nghiệp trực tiếp trên ruộng đồng của các hộ
công nhân viên mà thông qua việc quản lý đất đai, vườn cây, thu
nhận kinh doanh số còn lại do dân làm dưới hình thức kinh
tế hộ và kinh tế trang trại.
Sở hữu liên kết
- Rất phổ biến và phát triển rất đa dạng cùng với sự phát triển của
sản xuất hàng hóa nông nghiệp, dựa trên sự phát triển ngày càng
cao của LLSX
- Hình thức:
+ liên kết đồng sở hữu: các hộ kinh tế tự chủ cùng đấu thầu diện
tích mặt nước, diện tích đất trống đồi trọc và cùng góp vồn kinh
doanh
+ liên kết dựa trên nền tảng sở hữu nhà nước
+ sở hữu của công ty cổ phần nông nghiệp
+ sở hữu của công ty theo mô hình công ty mẹ- công ty con
+ sở hữu liên kết theo mô hình tập đoàn kinh tế
2. Đa hình thức tổ chức sản xuất
- Các DN nông nghiệp 100% vốn Nhà nước; các công ty cổ phần;
các hợp tác xã; các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng của nông dân
- Trong đó, các nông hộ và trang trại nông, lâm, thủy sản được xác
định là những đơn vị kinh tế tự chủ, đơn vị cơ sở của hệ thống
KTNN nhiều thành phần
3. Tất cả các chủ thể đều tự do kinh doanh theo pháp luật , bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật
- Các bộ luật chủ yếu:
+ Luật Doanh nghiệp
+ Luật Công ty
+ Luật Hợp tác xã
…sẽ dần hoàn thiện theo hướng không phân biệt đối xử với các chủ
thể kinh tế thuộc các thành các thành phần kinh tế khác nhau hoạt
động trong nông nghiệp
- Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau vừa cạnh tranh