Bộ giáo dục v Đo tạo - Viện khoa học x hội Việt Nam
Viện Sử học
Hong Thị Điệp
Quá trình phát triển
quan hệ Việt Nam - ấn Độ
từ năm 1986 đến năm 2004 Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại
Mã số : 62.22.54.05
Tóm tắt luận án tiến sĩ lịch sử
H Nội - 2006
Công trình đợc hon thnh tại Viện Sử học
Viện Khoa học X hội Việt Nam
Danh mục các công trình của tác giả
liên quan đến nội dung luận án
1. Những nhân tố chi phối việc thiết lập quan hệ
ngoại giao đầy đủ giữa Việt Nam và ấn Độ năm 1972,
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 6 (62).
2. Về mối quan hệ truyền thống Việt Nam - ấn Độ.
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, số 1 (70).
mở đầu 1. Lý do chọn đề ti
Việt Nam và ấn Độ có truyền thống quan hệ hữu nghị từ lâu đời.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam và ấn Độ đều giành đợc
độc lập. Tuy nhiên, các thế lực thực dân, đế quốc vẫn không ngừng chống
phá sự nghiệp độc lập, thống nhất của mỗi nớc. Dù phải trải qua nhiều khó
Với mục đích tìm hiểu toàn diện về quan hệ Việt Nam - ấn Độ, đặc biệt
là từ sau năm 1986 - khi hai nớc có những thay đổi, điều chỉnh chính sách
phát triển đất nớc, chúng tôi chọn vấn đề Quá trình phát triển quan hệ
Việt Nam - ấn Độ từ năm 1986 đến năm 2004 làm đề tài Luận án Tiến sỹ
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trớc đến nay, quan hệ Việt Nam - ấn Độ đã đợc nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nớc quan tâm. Sau đây, chúng tôi xin đợc điểm qua
tình hình nghiên cứu về vấn đề này.
2.1.Các công trình viết chung về lịch sử ấn Độ
Trong số các công trình đề cấp đến lịch sử ấn Độ nói chung, đáng chú ý
nhất là một số công trình sau:
- Vũ Dơng Ninh (chủ biên) (1995): Lịch sử ấn Độ. Nxb. Giáo dục, Hà
Nội. Nội dung chủ yếu của công trình là nghiên cứu về lịch sử ấn Độ nên
quan hệ Việt Nam - ấn Độ chỉ đợc trình bày một cách khái quát từ khi hai
nớc có quan hệ đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
- Cao Xuân Phổ, Trần Thị Lý (chủ biên) (1997): ấn Độ xa và nay, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội. Nội dung của công trình là giới thiệu một cách
khái quát về đất nớc, con ngời, lịch sử và văn hóa ấn Độ xa và nay. Dù
vậy, trong phần thứ t, chơng II (từ trang 303 - 348) các tác giả cũng trình
bày khái quát về quan hệ Việt Nam - ấn Độ từ thời kỳ lịch sử cổ trung đại
cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
- T.N. Kaun: India, China and Indochina (ấn Độ, Trung Quốc và Đông
Dơng), xuất bản năm 1980 tại ấn Độ. Tác giả của cuốn sách là nhà hoạt
động chính trị - xã hội nổi tiếng, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu
Đông Dơng của ấn Độ. Trong công trình này, tác giả đã phê phán hành
động của Trung Quốc trong việc ủng hộ, giúp đỡ thế lực Pôn Pốt tiến hành
xâm lợc Việt Nam và trực tiếp đem quân đánh Việt Nam đầu năm 1979.
2.2. Các công trình viết về lịch sử đối ngoại của ấn Độ
- T.N Kaun: India and Indochina (ấn Độ và Đông Dơng), xuất bản
năm 1989 ở Matxcơva. Cuốn sách đã đề cập đến một vấn đề rất nóng bỏng
của khu vực lúc bấy giờ là vấn đề Campuchia. Tác giả cho rằng: Sự có mặt
của quân đội Việt Nam ở Campuchia trong những năm 80 là hợp pháp và
cần thiết, bởi vì quân đội Việt Nam đến Campuchia là theo yêu cầu và
nguyện vọng của Chính phủ và nhân dân nớc này. Đồng thời, theo tác giả,
Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng, đem lại
hoà bình cho Campuchia.
- T.G. Giaxốp: Cuộc đấu tranh của ấn Độ vì tự do và độc lập của các
nớc Đông Dơng, xuất bản năm 1991 bằng tiếng Nga tại Taskent, nớc
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzơbêkistan - Liên Xô (nay là Cộng
hoà Uzơbêkistan thuộc Cộng đồng các quốc gia Độc lập - SNG). Trong
công trình này, tác giả đã trình bày khá cụ thể về sự ủng hộ của ấn Độ đối với đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam; làm
rõ quan điểm của các đảng phái chính trị ấn Độ đối với cuộc chiến tranh
xâm lợc của Mỹ ở Việt Nam, nêu bật cuộc đấu tranh của các lực lợng
tiến bộ ấn Độ trong việc phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở
Việt Nam.
- Trần Thị Lý (chủ biên) (2002): Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà
ấn Độ từ 1991-2000, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. Cuốn sách phân tích
những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự điều chỉnh chính sách kinh tế và
đối ngoại của Cộng hoà ấn Độ.
2.3. Các công trình viết về quan hệ Việt Nam - ấn Độ
Trong số các công trình chuyên khảo về quan hệ Việt - ấn, chúng tôi
đặc biệt chú ý tới hai luận án Tiến sỹ :
- Đinh Trung Kiên (1993): Quan hệ Việt Nam - ấn Độ (thời kỳ 1945-
1975) (Luận án Tiến sỹ Lịch sử, Hà Nội). Nội dung luận án trình bày tơng
đối hệ thống mối quan hệ Việt Nam - ấn Độ trong 30 năm (1945-1975).
(2002).
Nh vậy, từ trớc đến nay, theo chúng tôi đợc biết, ở trong và ngoài
nớc đã có một số nhà nghiên cứu tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - ấn Độ
nhng có thể do nhu cầu nghiên cứu, họ chỉ đề cập đến giai đoạn này hay
giai đoạn khác, khía cạnh này hay khía cạnh khác của mối quan hệ mà cha
có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về quan
hệ Việt Nam - ấn Độ giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2004.
3. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Từ những điều trình bày ở trên, chúng tôi xác định giới hạn, phạm vi
nghiên cứu của đề tài luận án nh sau:
- Về mặt thời gian:
Trọng tâm của luận án là quan hệ Việt Nam - ấn Độ giai đoạn từ năm
1986 đến năm 2004. Sở dĩ chúng tôi lấy năm 1986 làm điểm khởi đầu cho
công trình nghiên cứu bởi vì: Năm 1986 là năm Việt Nam bớc vào công
cuộc Đổi mới, mở đầu thời kỳ phát triển mới của đất nớc. Thực hiện
đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan
hệ quốc tế theo tinh thần của Đổi mới, ngày 9-3-1987, Ban chấp hành
Trung ơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị về việc tăng cờng
quan hệ hữu nghị và hợp tác với ấn Độ, có thể coi là một sự kiện quan
trọng trong quan hệ Việt - ấn. Về phía ấn Độ, đây cũng là thời kỳ ấn Độ
bắt đầu có những điều chỉnh chính sách phát triển đất n
ớc, thực hiện chính
sách hớng Đông trong đờng lối đối ngoại. Những điều chỉnh chính sách
đối ngoại của hai nớc là cơ sở để quan hệ Việt Nam - ấn Độ bớc sang
một trang mới. Chúng tôi lấy năm 2004 là năm kết thúc thời điểm nghiên
cứu để giới hạn về mặt thời gian công trình nghiên cứu của mình.
- Phạm vi nghiên cứu:
1. Tìm hiểu quá trình phát triển của quan hệ hai nớc trên các lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, khoa học-kỹ thuật, văn hoá, giáo dục.
đoạn từ năm 1986 đến năm 2004. Cách tiếp cận của đề tài cũng nh giới
hạn phạm vi nghiên cứu là xem xét và đánh giá thực trạng mối quan hệ
Việt Nam - ấn Độ trong bối cảnh thế giới và khu vực để từ đó đa ra các
nhận xét bớc đầu, dự báo triển vọng phát triển của mối quan hệ này và
kiến nghị chính sách của Việt Nam trong thời gian tới.
- Sử dụng ph
ơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgích và phơng pháp
nghiên cứu quan hệ quốc tế để nghiên cứu quan hệ hai nớc qua các giai đoạn lịch sử và rút ra những nhận xét khái quát.
- Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng một số phơng pháp khác nh: thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, liên ngành.
6. Đóng góp của luận án
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trớc, nhất
là luận án Tiến sỹ Lịch sử Quan hệ Việt Nam - ấn Độ (thời kỳ 1945-1975),
(Hà Nội, 1993) của Đinh Trung Kiên và Quan hệ chính trị, kinh tế, khoa
học kỹ thuật và văn hoá Việt Nam- ấn Độ từ 1976 -1988 (Taskent, 1990)
của Nguyễn Công Khanh; với công trình này, chúng tôi mong muốn:
1. Cố gắng dựng lại một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể về quan hệ Việt
Nam - ấn Độ giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2004 - giai đoạn hầu nh còn
là "khoảng trống" trong sự nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - ấn Độ. Đây
là giai đoạn mà ở trên thế giới diễn ra nhiều biến động dữ dội và ở mỗi
nớc có những thay đổi mạnh mẽ.
2. Từ đó cung cấp những cứ liệu và luận chứng thuyết phục để góp phần
khẳng định mối quan hệ Việt Nam - ấn Độ đợc xây đắp trên cơ sở vững
chắc về mặt văn hoá, lịch sử và đã đợc thử thách qua nhiều thời kỳ nhng
vẫn giữ đợc sự thuỷ chung và trọn vẹn, ngày càng phát triển tốt đẹp.
3. Những nhận xét, kết luận đợc rút ra, những kiến nghị đợc đề xuất
có thể góp phần giúp các cơ quan chức năng tham khảo trong việc đẩy
thành tựu và triển vọng của quan hệ Việt Nam - ấn Độ đồng thời nêu lên
một số kiến nghị nhằm tăng cờng hơn nữa quan hệ hai nớc.
Chơng 1
khái quát quan hệ Việt Nam - ấn Độ
trớc năm 1986
1.1 Mối quan hệ văn hóa từ trong lịch sử
Là một trong những nền văn minh lớn và cổ xa nhất trên thế giới, ngay
từ buổi đầu của lịch sử, văn minh ấn Độ đã tỏ rõ u thế và để lại nhiều dấu
tích đậm nét trong nền văn hoá của nhiều quốc gia trong khu vực. Do nhiều
yếu tố, trớc hết là sự gần gũi về địa lý, nền văn hoá đặc sắc của ấn Độ đã
có tác động trực tiếp tới các nớc láng giềng Đông Nam á, trong đó có
Việt Nam. Do sự xâm nhập diễn ra một cách hoà bình và có nhiều điểm
tơng đồng về phong tục, tập quán, tín ngỡng của c dân Việt, văn hoá ấn
Độ đã bén rễ ở vùng đất này, hoà quyện vào văn hoá bản địa, trở thành một
bộ phận khó tách rời và góp phần làm phong phú nền văn hoá Việt Nam.
Mối liên hệ lâu đời và bền chặt này là cơ sở vững chắc cho quan hệ hai
nớc sau này. 1.2. Cùng tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giành
độc lập dân tộc
Bớc sang thời kỳ cận đại, Việt Nam và ấn Độ đều trở thành mục tiêu
xâm lợc của các cờng quốc thực dân phơng Tây trong quá trình xâm
chiếm thuộc địa. Cả hai nớc đều rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa thực
dân phơng Tây. Vì vậy, Việt Nam và ấn Độ đều cùng phải tiến hành cuộc
Quốc. Việt Nam coi Kasơmia là bộ phận không thể tách rời của ấn Độ. Từ năm 1975, đất nớc Việt Nam độc lập và thống nhất, quan hệ Việt
Nam - ấn Độ phát triển ngày càng tốt đẹp. Hai nớc thờng quan tâm và
thảo luận để thống nhất quan điểm trong những vấn đề quan trọng của khu
vực và quốc tế; sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ nhau trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Việt Nam cũng luôn đồng tình
ủng hộ ấn Độ trong đờng lối đối ngoại hoà bình trung lập và sẵn sàng hợp
tác toàn diện với ấn Độ trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, khoa
học-kỹ thuật, văn hoá, giáo dục để xây dựng đất nớc, phối hợp chặt chẽ
với nhau trong các diễn đàn quốc tế và khu vực. Những thành tựu đạt đợc
trong lịch sử quan hệ hai nớc là tiền đề quan trọng cho các bớc phát triển
tiếp sau của mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp này. Chơng 2
Quan hệ Việt Nam - ấn Độ 1986 - 2004
2.1. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam và ấn Độ từ
giữa thập niên 80
2.1.1. Những biến động của tình hình thế giới và khu vực giữa thập
niên 80
Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có những biến
chuyển to lớn và sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến cục diện thế giới nói
chung và mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng.
Trớc hết, cuộc khủng hoảng và sau đó là sự sụp đổ của chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và các nớc Đông Âu trong những năm 1989 -1991 đã
dẫn tới sự kết thúc của cuộc "Chiến tranh lạnh" trên thế giới.
Thứ hai, xu thế hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng đợc tăng cờng.
tới là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều
kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đờng lối đối
ngoại đa phơng hoá, đa dạng hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng
đợc xác định rõ ràng, cụ thể, và hoàn thiện hơn tại các Đại hội VIII và IX
của Đảng. Đến Đại hội lần thứ IX (2001), đờng lối đối ngoại đổi mới
càng đợc cụ thể hoá rõ ràng, cụ thể và toàn diện hơn: Thực hiện nhất
quán đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng
hoá các quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển.
Thực hiện đờng lối đối ngoại rộng mở, đa phơng hoá, đa dạng hoá,
một mặt mở rộng quan hệ với các đối tác mới, đồng thời tăng cờng quan
hệ với các nớc bạn truyền thống mà trong đó, mối quan hệ hợp tác toàn
diện với ấn Độ chiếm một vị trí quan trọng. Báo cáo Chính trị Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Chúng ta
không ngừng tăng cờng và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với nớc
Cộng hoà ấn Độ, nớc có vị trí đặc biệt quan trọng ở Châu á và trên thế giới, ngời bạn lớn đã luôn dành cho nhân dân ta những tình cảm tốt đẹp,
sự ủng hộ giúp đỡ chí tình". [Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội
lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.1987, tr.147].
2.1.3. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của ấn Độ - Chính sách
Hớng Đông
Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ấn Độ cũng lâm vào cuộc khủng
hoảng kinh tế và kéo theo đó là các cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội.
Trong tình hình đó, sự tan rã của Liên Xô năm 1991- một trong những đồng
minh chiến lợc chủ yếu của ấn Độ, đẩy nớc này vào tình huống khó
Chơng trình làm việc của các đoàn đại biểu hai nớc là đánh giá việc thực
hiện công việc đã thoả thuận của chuyến thăm trớc và đề ra phơng
hớng nhiệm vụ trớc mắt và lâu dài trong thời gian sau đó nhằm đa mối
quan hệ giữa hai nớc phát triển toàn diện hơn, thực chất và hiệu quả hơn.
Chính vì vậy, các chuyến thăm giữa các nhà lãnh đạo hai nớc là nhân tố
quan trọng thúc đẩy quan hệ hai nớc tiến triển theo chiều hớng ngày
càng thực chất và đa dạng, tạo cơ sở pháp lý cho các mối quan hệ kinh tế,
văn hoá, khoa học-kỹ thuật phát triển. Qua các chuyến thăm này, hai nớc
tiếp tục thể hiện sự thống nhất trong nhiều vấn đề khu vực và quốc tế,
khẳng định sự ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nớc.
Thông qua các cuộc viếng thăm, gặp gỡ, tiếp xúc, Việt Nam luôn đánh
giá cao chính sách cải cách kinh tế, đờng lối đối ngoại hoà bình, độc lập,
không liên kết, đa dạng hoá và đa phơng hoá quan hệ của ấn Độ. Đồng
thời, Việt Nam luôn bày tỏ thái độ ủng hộ một nớc ấn Độ hoà bình, thống
nhất, thịnh vợng và hùng mạnh, có vai trò, vị trí xứng đáng trong trật tự
thế giới mới cũng nh tại Liên hợp quốc, ủng hộ ấn Độ làm Uỷ viên
Thờng trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khi Tổ chức này mở rộng.
Phối hợp với ấn Độ, Việt Nam đã tham gia thành lập Tổ chức hợp tác sông
Mê Công - sông Hằng, ủng hộ và khuyến khích ấn Độ tăng cờng hợp tác
kinh tế, tham gia ngày càng sâu rộng vào các diễn đàn chính trị và an ninh
khu vực Đông Nam á và châu á - Thái Bình Dơng: tham gia đối thoại cấp
cao thờng niên ASEAN- ấn Độ ( ll-2002); tham gia Hiệp ớc thân thiện
và hợp tác ASEAN (TAC); ký Hiệp định khung về khu vực mậu dịch tự do
ấn Độ - ASEAN và Tuyên bố chung về chống khủng bố tại Bali
(Inđônêxia) tháng 9-2003. ấn Độ cũng đã ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam - một
trong những sự ủng hộ đó là ấn Độ ủng hộ quan điểm của Việt Nam về vấn
đề Campuchia (1979-1991).
Bên cạnh sự tăng cờng và phát triển của mối quan hệ giữa hai Nhà
n
2.3. Hợp tác kinh tế, khoa học-kỹ thuật
2.3.1. Hợp tác kinh tế
Với những thuận lợi của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và công cuộc
cải cách, mở cửa ở ấn Độ cùng quyết tâm của lãnh đạo hai nớc về việc
đẩy mạnh quan hệ kinh tế cho ngang tầm với tiềm năng và quan hệ chính
trị tốt đẹp, kế thừa những thành tựu của thời kỳ trớc, quan hệ hợp tác kinh
tế Việt Nam - ấn Độ bớc sang một thời kỳ phát triển mới.
Quan hệ thơng mại: Trong những năm 1989-1990, hàng hoá Việt Nam
xuất khẩu sang ấn Độ trị giá 100 triệu và 118 triệu USD và nhập khẩu hàng
hoá từ ấn Độ là 19 triệu và 7 triệu USD (Theo Các báo cáo
của Vụ Châu
á 2 và của Đại sứ quán Việt Nam tại ấn Độ. Tài liệu Bộ Ngoại giao). Sang
các năm 1991 và 1992, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt Nam - ấn Độ
giảm sút nghiêm trọng, chỉ bằng gần một nửa so với hai năm trớc. Nguyên
nhân chủ yếu của sự giảm sút này là do ấn Độ lâm vào cuộc khủng hoảng
kinh tế trầm trọng. Bớc vào thế kỷ XXI, Tổng kim ngạch thơng mại hàng
năm giữa hai nớc lần đầu tiên vợt qua ngỡng 200 triệu USD và liên tục
tăng trởng với tốc độ nhanh. Đó là: Năm 2000 kim ngạch ngoại thơng Việt - ấn đạt 224,3 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu đợc 45 triệu
USD; năm 2001, kim ngạch hai chiều Việt Nam - ấn Độ đạt 274,364 USD,
trong đó ấn Độ xuất khẩu sang Việt Nam trị giá 229.164.000 USD, Việt
Nam xuất khẩu sang ấn Độ 45,2 triệu USD; năm 2002, kim ngạch hai
chiều Việt Nam - ấn Độ đạt 375 triệu USD, ấn Độ xuất khẩu sang Việt
Nam trị giá 229.164.000 USD, Việt Nam xuất khẩu sang ấn Độ 53 triệu
USD; năm 2003, kim ngạch hai chiều Việt Nam - ấn Độ đạt 489,7 triệu
USD, tăng 30% so với năm 2002, ấn Độ xuất khẩu sang Việt Nam 453,9
triệu USD, tăng 40%, Việt Nam xuất khẩu sang ấn Độ 35,8 triệu USD,
giảm 67% so với năm 2002. Trong 7 tháng đầu năm 2004, ấn Độ xuất khẩu
Còn phía ấn Độ cũng cha đánh giá hết tiềm năng tiêu thụ của thị trờng
Việt Nam nên cha mạnh dạn đầu t nhiều vào Việt Nam.
Hợp tác đầu t: ấn Độ là nớc đầu tiên ký hợp đồng với chúng ta về
việc thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam (ngày 19-5-1988) ngay sau
khi Việt Nam công bố Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Năm 2003, ấn
Độ tham gia vào dự án thăm dò và khai thác dầu khí Nam Côn Sơn. Đây là
dự án lớn nhất, có hiệu quả nhất về hợp tác về dầu khí của ấn Độ với nớc
ngoài. Dự án này nằm trong liên doanh với BP và PetroVietnam với số vốn
góp khoảng 350 triệu USD của ấn Độ. (Theo Các báo cáo của Vụ Châu á
2 và của Đại sứ quán Việt Nam tại ấn Độ. Tài liệu Bộ Ngoại giao). Từ lĩnh
vực dầu khí, đầu t của ấn Độ từng bớc mở rộng dần sang các lĩnh vực
khác nh giống cây trồng, chế biến nông và lâm sản, chế tạo thiết bị tải
điện, sản xuất tân dợc. Đến khoảng giữa năm 2001, tổng số vốn đăng ký
đầu t trực tiếp của ấn Độ ở Việt Nam là 583 triệu USD, đứng thứ 17 trong
số các nớc và vùng lãnh thổ đầu t vào Việt Nam (Báo cáo của Bộ Kế
hoạch và Đầu t, ngày 23-7-2001. Tài liệu Bộ Ngoại giao). Điều đáng ghi
nhận là, trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng kinh tế ở khu vực, vốn đầu t
vào Việt Nam từ nhiều nớc có chiều hớng giảm, thì đầu t từ ấn Độ lại
có chiều hớng gia tăng.
Ngoài ra, hai nớc còn hợp tác trên các lĩnh vực nh thuỷ sản, du lịch,
hàng không Ngoài nhà nớc, nhiều công ty t
nhân ấn Độ cũng hợp tác
làm ăn với Việt Nam và gặt hai đợc nhiều thành công.
Tóm lại, quan hệ kinh tế Việt Nam - ấn Độ trong thời kỳ 1986-2004 so
với trớc đó có những bớc phát triển mới vợt bậc. Việc tăng cờng mối
quan hệ hữu nghị và hợp tác có ý nghĩa tích cực đối với nền kinh tế hai
nớc, trớc hết là đối với kinh tế Việt Nam trong việc giảm bớt những khó
khăn về thị trờng, về vốn, nhất là trong những năm Việt Nam bị bao vây
cấm vận gay gắt. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi đặt trong bối cảnh hai
nớc gặp nhiều khó khăn do vừa vợt qua khủng hoảng kinh tế- xã hội vào
đợc ấn Độ giành cho nhiều suất học bổng nhất trong số các nớc đang
phát triển. Những năm gần đây, hàng năm, ấn Độ dành cho Việt Nam
khoảng 130 suất học bổng trong khuôn khổ song phơng và 20 học bổng
trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - ấn Độ và hợp tác Hằng Hà - Mê Kông.
Đến nay, đã có trên 3.000 sinh viên, thực tập sinh và nghiên cứu sinh Việt
Nam tốt nghiệp các trờng Đại học và Viện nghiên cứu của ấn Độ, trong
đó có nhiều tiến sĩ, thạc sĩ hoạt động trong nhiều lĩnh vực nông nghiệp,
nghiên cứu cơ bản và đối ngoại.Thông qua các chơng trình này, nhiều cán
bộ Việt Nam đ
ợc đào tạo tốt và trở về đóng góp hiệu quả cho công cuộc
bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nớc. Một số ngành nh công nghệ
thông tin và nông nghiệp là những ngành mà sự hợp tác đào tạo tơng đối
có hiệu quả.
Với những thành tựu này, quan hệ Việt Nam - ấn Độ thể hiện một bớc
tiến dài so với thời kỳ trớc đó.
Chơng 3
Những thuận lợi, khó khăn, thnh tựu
v triển vọng của quan hệ Việt Nam ấn Độ
3.1. Những thuận lợi, khó khăn trong việc tăng cờng mối quan hệ
hợp tác toàn diện giữa Việt nam và ấn độ
3.1.1. Thuận lợi
- Quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và ấn Độ có từ lâu đời. Về mặt lịch
sử và văn hoá, Việt Nam tiếp nhận ảnh hởng một cách sâu sắc nền văn hoá
và văn minh ấn Độ. Đây là tiền đề để phát triển của nền ngoại giao nhân
dân, cơ sở rất quan trọng cho sự phát triển các mối quan hệ chính trị và
kinh tế.
Sa, Trờng Sa và vấn đề Kasơmia, Việt Nam ủng hộ lập trờng của ấn Độ
trong vấn đề Kasơmia, nhng thái độ của ấn Độ trong vấn đề Hoàng Sa và
Trờng Sa không rõ ràng. Hơn nữa, việc ấn Độ ngày càng đẩy mạnh quan
hệ với các nớc lớn, nhất là với Trung Quốc, Mỹ sẽ có thể làm giảm bớt sự
quan tâm của ấn Độ tới Việt Nam cũng nh quan hệ Việt Nam - ấn Độ.
Đó là khó khăn và cũng là những nguyên nhân chính góp phần kìm hãm
quan hệ Việt Nam - ấn Độ trong thời gian qua. Nếu những hạn chế đó đợc
khắc phục thì quan hệ hai nớc sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.
3.2. Thành tựu và triển vọng của mối quan hệ Việt nam - ấn Độ
3.2.1. Thành tựu
- Mối quan hệ Việt Nam - ấn Độ dựa trên cơ sở vững chắc về mặt văn
hoá và lịch sử, dựa trên nhiều điểm tơng đồng trong quan điểm về những
vấn đề lớn, then chốt của thế giới và khu vực, mối quan hệ đợc thử thách
qua nhiều thời kỳ nhng vẫn giữ đợc sự thuỷ chung, trọn vẹn.
- Quan hệ giữa hai nớc đợc xây dựng trên nền tảng chung về mục tiêu
chính trị: cùng phấn đấu cho đất nớc độc lập, cùng xây dựng nền kinh tế
dân tộc thịnh vợng và cùng góp phần đấu tranh vì một thế giới hoà bình và
phát triển.
- Quan hệ giữa hai nớc là thành công của đ
ờng lối cùng tồn tại hoà
bình giữa các nớc có chế độ xã hội khác nhau. Đồng thời, đây cũng là một
biểu tợng của mối quan hệ Nam - Nam, các nớc thuộc thế giới thứ ba
cùng hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế dân tộc độc lập, tự chủ và phồn
vinh, theo đuổi mục tiêu cao cả của Phong trào không liên kết. Nhờ vậy,
quan hệ giữa hai nớc đã nâng cao vị thế của mỗi nớc ở khu vực và trên
thế giới.
- Quan hệ Việt Nam - ấn Độ từ năm 1975 trở đi, nhất là từ sau 1986
đợc phát triển rất thuận lợi và trở thành mối quan hệ tơng đối toàn diện
trên các lĩnh vực, trong đó, quan hệ chính trị phát triển rất tốt đẹp. Cùng với
quan hệ chính trị tốt đẹp, các mối quan hệ khác nh kinh tế, khoa học kỹ
triển của xu thế khu vực hoá quốc tế hoá, xu thế hoà bình và hợp tác; sự
phát triển năng động về kinh tế trong khu vực
Để quan hệ hai nớc phát triển thuận lợi và đạt kết quả thiết thực hơn
nữa, chúng tôi xin đa ra một số kiến nghị nh sau:
1. Trong quá trình phát triển của mối quan hệ Việt Nam -
ấn Độ, mục
tiêu của Việt Nam là không chỉ duy trì và phát triển mối quan hệ hữu nghị
truyền thống mang tầm chiến lợc với ấn Độ, mà cần phải xây dựng mối
quan hệ này thành mối quan hệ đối tác về kinh tế. Một mặt, cần đặt quan hệ
với ấn Độ trong khuôn khổ quan hệ của Việt Nam với quan hệ các nớc lớn, cần nhìn thấy những triển vọng của ấn Độ về kinh tế, chính trị, quân
sự, có thể là Uỷ viên Thờng trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc trong
tơng lai gần để từ đó khai thác triệt để vai trò của ấn Độ với t cách một
nhân tố trong chiến lợc cân bằng quan hệ của Việt Nam với các nớc lớn,
nhằm tạo thế có lợi nhất cho Việt Nam trên trờng quốc tế. Mặt khác, Việt
Nam cần coi quan hệ với ấn Độ là quan hệ với một nớc bạn bè, anh em
truyền thống, có thể tranh thủ giúp đỡ lẫn nhau. Sự thuỷ chung bạn bè
không chỉ vì những điều mà hai nớc đã xây dựng trong quá khứ mà còn vì
những mối hợp tác nhiều mặt trong tơng lai.
2. Duy trì thờng xuyên các cuộc gặp gỡ cấp cao hai nớc, ít nhất mỗi
năm một lần. Khuyến khích các Bộ, ngành và các địa phơng của hai nớc
trao đổi đoàn các cấp và thiết lập quan hệ hợp tác giữa các tỉnh của Việt
Nam với các bang của ấn Độ. Tăng cờng và mở rộng hợp tác trong các
lĩnh vực an ninh và quốc phòng. Trong khi phát triển quan hệ với ấn Độ,
chú ý không nên làm ảnh hởng quan hệ của Việt Nam với các nớc khác,
nhất là với Trung Quốc.
3. Các Bộ, ngành và các địa phơng cần quán triệt tầm quan trọng của
mối quan hệ hữu nghị truyền thống, sự hợp tác nhiều mặt có tính chiến lợc
tế, hoà bình và tiến bộ, vì một thế giới công bằng và tiến bộ. Sự ủng hộ,
giúp đỡ của chính phủ và nhân dân ấn Độ đối với sự nghiệp đấu tranh giải
phóng dân tộc cũng nh công cuộc tái thiết đất nớc Việt Nam sau chiến
tranh ngày càng tích cực, có hiệu quả và sự ủng hộ, giúp đỡ này đã góp
phần tạo nên những thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn nửa thế
kỷ qua.
2. Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và khu vực
có nhiều chuyển biến hết sức nhanh chóng và phức tạp. Trớc những đòi
hỏi mới của môi trờng quốc tế, các nớc đều điều chỉnh chiến lợc, chính
sách đối nội, chính sách đối ngoại của mình theo chiều hớng tập trung cho
yêu cầu phát triển kinh tế, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa
đấu tranh với các đối tợng nhằm mục đích tạo cho mình vị thế có lợi hơn.
Việt Nam, ấn Độ cũng không nằm ngoài xu thế đó. Từ năm 1986, cùng với
việc thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc, Việt Nam đã tích cực
thực hiện đổi mới chính sách đối ngoại. Việt Nam muốn là bạn với các
nớc trong cộng đồng quốc tế vì mục tiêu độc lập dân tộc, hoà bình và phát
triển. Với truyền thống quan hệ hữu nghị vốn có, ấn Độ đợc Việt Nam coi
là hớng u tiên trong chính sách đối ngọai của mình. Cũng từ đầu những
năm 90, ấn Độ đã tiến hành công cuộc cải cách toàn diện. Chính sách đối
ngoại cũng đợc đổi mới mạnh mẽ, u tiên phát triển quan hệ với các nớc
lớn để tranh thủ công nghệ hiện đại, với các nớc láng giềng để tạo môi
trờng hoà bình cho công cuộc xây dựng đất nớc. Chính sách "Hớng
Đông" đợc coi nh
là một nội dung quan trọng của chính sách đối ngoại
của ấn Độ đợc triển khai Việt Nam đợc ấn Độ coi là một mắt xích
quan trong trong chính sách đối ngoại quan trọng này. ấn Độ coi Việt Nam
là cầu nối, là bàn đạp để tiến vào các nớc Đông Nam á. Vì vậy, mối quan
hệ truyền thống hữu nghị Việt Nam - ấn Độ từ giữa những năm 80 trở đi có
thêm những điều kiện thuận lợi mới để phát triển.
mối quan hệ Việt Nam -
ấn Độ càng trở nên quan trọng đối với mỗi nớc,
trở thành mối quan hệ hợp tác chiến lợc, lâu dài đối với mỗi nớc.
Nh vậy, trong thời gian từ 1986-2004, mặc dù đứng trớc nhiều thách
thức từ tình hình thế giới, trong nớc, những quan hệ Việt Nam - ấn Độ
không hề bị giảm sút mà trái lại ngày càng phát triển tốt đẹp, toàn diện.
Điều này, một lần nữa khẳng định, không một trở lực nào có thể ngăn trở sự
phát triển của quan hệ Việt Nam - ấn Độ, một mối quan hệ đã kinh qua
nhiều thử thách của lịch sử. 5. Quan hệ Việt Nam - ấn Độ từ 1986-2004 là mối quan hệ mang tính
chất bình đẳng, tự nguyện, cả hai bên cùng có lợi, tôn trọng đờng lối phát
triển của nhau, không mang tính chất áp đặt hay chèn ép lẫn nhau. Mặc dù
là một nớc lớn trên thế giới, nhng khác với một số nớc lớn khác trên thế
giới, ấn Độ đặt quan hệ với hầu hết các nớc trên thế giới trên cơ sở bình
đẳng. Điều này đã góp phần mang lại những điều kiện tốt đẹp cho quan hệ
Việt Nam - ấn Độ trên mọi lĩnh vực. Quan hệ Việt Nam - ấn Độ trong
những năm 90 cũng còn là mối quan hệ đặc biệt giữa các nớc có chế độ
chính trị xã hội khác nhau trong thế giới ngày nay.
6. Mặc dù quan hệ Việt Nam - ấn Độ trong những năm 90 phát triển
ngày càng tốt đẹp và đạt đợc nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt nhng về
quan hệ chính trị vẫn có những vấn đề cha thật hài hoà cũng nh về quan
hệ kinh tế còn những hạn chế cha tơng xứng với tiềm năng của hai nớc
cũng nh thơng mại của hai nớc với thế giới. Lãnh đạo hai nớc đã nhìn
thấy những hạn chế trong quan hệ song phơng, nhất là trong lĩnh vực kinh
tế và đã, đang tìm cách khắc phục để đa quan hệ kinh tế nói riêng, quan hệ
hai nớc nói chung phát triển mạnh mẽ hơn nữa, tơng xứng với truyền
thống hữu nghị tốt đẹp, phù hợp với mong muốn của hai nớc cũng nh xu
hớng hoà bình, hợp tác của thời đại.