Bộ giáo dục v đo tạo Viện Khoa học x hội Việt Nam
viện nghiên cứu văn hoá Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Lơng
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Văn Huy
Phản biên 3: GS.TS. Hoàng Nam Luận án tiến sĩ sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp nhà
nớc họp tại Viện Nghiên cứu văn hoá vào hồi giờ ngày tháng
năm 2009.
Có thể tìm đọc luận án tại:
- Th viện Viện Nghiên cứu văn hoá
- Th viện Quốc gia
Danh mục công trình đã công bố của tác giả
liên quan đến luận án 1. Hoa văn cổ truyền Dăk Lăk (2000), đồng tác giả, Chu Thái Sơn chủ
biên, Nxb KHXH, H.
2. Nghề dệt cổ truyền của các dân tộc vùng Trờng Sơn - Tây Nguyên
(2003), T/c VHDG, (6).
3. Hoa văn hạt cờm trên thổ cẩm Cơ Tu (2005), T/c VHNT, (3).
duy nhất ở miền núi Quảng Nam và cả khu vực Trờng Sơn - Tây
Nguyên vẫn còn duy trì nghề trồng bông dệt vải theo lối truyền thống.
Tuy nhiên, nghề thủ công của đồng bào đang đứng trớc nguy cơ mai
một, thất truyền. Do đó, cần khẩn trơng tiến hành nghiên cứu, thu
thập, phát hiện những giá trị nguyên gốc của nghề dệt và trang phục
truyền thống Cơ Tu trớc khi chúng bị biến đổi, lai tạp, mất mát theo
thời gian do tác động của các yếu tố văn hóa ngoại lai, xu hớng giao
lu, hội nhập và toàn cầu hóa.
Bên cạnh phát huy giá trị các di sản, di tích ở đồng bằng, du lịch
Quảng Nam đang hớng đến các sản phẩm đặc trng của các tộc ngời
ở miền núi. Cùng với các loại hình văn hóa dân gian khác, nghề dệt và
trang phục là loại hình văn hóa tiêu biểu góp phần làm nên những giá trị
đặc trng văn hóa tộc ngời.
2. Mục đích nghiên cứu
Mô tả một cách có hệ thống, tơng đối đầy đủ, toàn diện, chi tiết
và cụ thể về nghề dệt và trang phục nhằm giúp hiểu biết sâu sắc một di
sản thể hiện bản sắc văn hoá, phản ánh khá rõ tính lâu đời, thống nhất
và đa dạng của văn hoá Cơ Tu. Góp phần khẳng định những giá trị
nhiều mặt của nghề dệt và trang phục cổ truyền Cơ Tu trong việc bảo
tồn và phát huy tính đa dạng văn hóa tộc ngời của tỉnh Quảng Nam
nói riêng và của Việt Nam nói chung.
2
Định hớng cho việc gìn giữ di sản văn hóa của địa phơng. Góp
phần tìm hiểu nguồn gốc và quan hệ giao lu giữa văn hoá Cơ Tu với
các nền văn hoá khác ở Việt Nam và xa hơn.
Tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn, phát huy làng
nghề truyền thống và trang phục dân tộc, khơi dậy tiềm năng, thế mạnh
cho du lịch, văn hóa địa phơng.
3. Phạm vi và đối tợng nghiên cứu
Cung cấp một cách có hệ thống nguồn t liệu về nghề dệt và trang
phục cổ truyền của ngời Cơ Tu (đặc biệt là các t liệu ảnh phong phú và
có giá trị nghệ thuật cao), đa ra những t liệu so sánh nhằm góp phần tìm
hiểu lịch sử, bản sắc, tính thống nhất đa dạng của văn hoá Cơ Tu
Dựng lại một cách có hệ thống hình ảnh về nghề dệt và trang
phục của ngời Cơ Tu từ nguyên liệu, dụng cụ, quá trình làm ra trang
phục, các tri thức dân gian liên quan đến việc làm ra trang phục đến
các bộ phận, thành tố, cách sử dụng trang phục và sự biến đổi của trang
phục làm cơ sở cho việc bảo tồn và phục hồi trang phục, nghề dệt
truyền thống của ngời Cơ Tu.
Thiết lập bộ su tập hoàn chỉnh, toàn diện về đồ trang sức Cơ
Tu, bao gồm loại hình, chất liệu, nguồn gốc, kỹ thuật chế tác, chức
năng Nêu lên vai trò của đồ trang sức trong đời sống xã hội, ý thức,
quan niệm về việc sử dụng các loại trang sức, việc bảo lu, kế thừa tập
quán trang sức của ngời xa.
Sắp xếp, phân loại, hệ thống các mô tip hoa văn, giải mã ý nghĩa,
biểu tợng một số mẫu hoa văn trên y phục, việc bảo lu các họa tiết
cổ trong truyền thống trang trí Từ đó xâu chuỗi và định vị bớc đầu
về nguồn gốc, đặc trng, phong cách trang trí, giá trị của hoa văn trên
trang phục Cơ Tu.
4
Bổ sung thêm các khái niệm, luận điểm mới về nghề dệt, trang
phục, nghệ thuật trang trí và một số nội dung khác có liên quan đến
nghề dệt, trang phục, nghệ thuật tạo hình.
Làm sáng tỏ sự ảnh hởng, mối liên hệ, quá trình chuyển giao
những tinh hoa văn, giá trị hóa của c dân Đông Sơn - Việt cổ, c dân
Sa Huỳnh vào kho tàng văn hóa Cơ Tu, thể hiện sự kế thừa, bảo lu
truyền thống văn hóa thời tiền, sơ sử, khẳng định dòng chảy văn hóa
liên tục từ quá khứ đến hiện tại.
Nghề dệt và trang phục là đối tợng nghiên cứu khá sớm của các
nhà nhân học văn hóa châu Âu. Họ đã thừa nhận trang phục là một bộ
phận cấu thành của văn hóa dân gian (folklore).
Công trình Les chasseurs de sang (Những ngời săn máu) của
Le Pichon, tác giả ngời Pháp, công bố năm 1938 trên số 20 của tạp
chí Những ngời bạn Huế xa (Bulletin des Amis du vieux Hue-
BAVH) là công trình đầu tiên nghiên cứu về ngời Cơ Tu, trong đó có
đề cập đến tập quán ăn mặc, phục sức, tục xăm hình
1.2.2. Các học giả trong nớc
Công trình Ngời Mờng ở Hòa Bình, Hoa văn các dân tộc
Gia Rai- Ba Na của Từ Chi, Hoa văn cổ truyền Dăk Lăk của Chu
Thái Sơn là những chuyên khảo đầu tiên về hoa văn, màu sắc, bố cục
trên trang phục các dân tộc thiểu số. Các tác giả nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc nghiên cứu hoa văn trên trang phục khi muốn nghiên
cứu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của các tộc ngời.
Đi sâu nghiên cứu lịch sử trang phục, các loại hình trang phục
dân tộc, vùng miền phải kể đến các công trình nh Trang phục các
6
dân tộc Việt Nam, của Ngô Đức Thịnh, Lịch sử trang phục các triều
đại phong kiến Việt Nam của Trịnh Quang Vũ.
Tìm hiểu văn hóa Katu của Tạ Đức cũng đã đề cập đến trang
phục, trang sức, tục xăm mình, nguồn gốc điệu múa ya ýa Tác phẩm
Văn hóa làng các dân tộc miền núi Quảng nam, Ka Tu - Kẻ sống
đầu ngọn nớc, Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) cũng đã đề cập đến
nghề dệt, trang phục của ngời Cơ Tu, nghệ thuật trang trí và một số
biểu tợng trang trí trên nhà làng, cột lễ, trang phục. Chuyên khảo
Nhà gơl của ngời Cơ Tu của Đinh Hồng Hải cũng bớc đầu
nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình Cơ Tu. Công trình Góp phần tìm
hiểu văn hóa Cơ Tu của Lu Hùng cũng chứa đựng nhiều nguồn t
2.1.1.Trang phục vỏ cây ở vùng Trờng Sơn- Tây Nguyên
2.1.2. Việc chế tác trang phục vỏ cây của ngời Cơ Tu
Ngời Cơ Tu thờng khai thác vỏ cây hơ mớt, hơ mon, hơjoong,
chrơ dđang, dơ duông, ta đuých, tà coong và lụa vỏ cây bhơnơng để
làm áo quần che thân.
Trang phục vỏ cây có ảnh hởng sâu sắc đến tập quán ăn mặc sau
này của các dân tộc, là yếu tố định hình nên trang phục truyền thống.
2.2. Nghề trồng bông dệt vải
2.2.1. Canh tác cây bông vải
Ngoài việc sử dụng các loại vải dệt bằng sợi cây nh tơ chuối, tơ
đay, tơ gai, tơ tằm các c dân sinh sống trên đất nớc ta sớm biết đến
nghề trồng bông dệt vải, cây bông vải là thứ nguyên liệu quan trọng
8
tạo ra vải mặc của các dân tộc. Đồng bào Cơ Tu có nhiều loại giống
bông vải bản địa nh kpay prâng, kpay lao, kpay plng.
2.2.2. Quy trình chế biến sợi và các công cụ tạo sợi
Ngời Cơ Tu đã sáng tạo ra nhiều công cụ để chế biến sợi
nh tách hạt, đánh tơi bông, cuốn bông, se sợi, quấn sợi, phơi sợi,
quấn sợi thành từng búp (búp sợi) Búp sợi là nguyên liệu chính
dùng để dệt vải.
2.2.3. Phơng thức chế biến màu và tạo màu sợi bông
Để có đợc màu sắc truyền thống, ngời Cơ Tu dùng những bộ
phận của cây rừng làm thuốc nhuộm. Màu cơ bản gồm màu trắng
(bhooc), màu đen (tăm), màu đỏ (bhrôông), màu xanh (ta viêng), màu
vàng (rơớc) Nguyên liệu chính để chiết xuất màu đen và màu xanh
chàm là cây ta râm.
Ngoài ra, ngời ta còn sử dụng một số chất phụ gia khác làm ra
từ vỏ ốc (bơ châu), hạt bắp già (a pa ), củ nâu (a ló), hạt bông vải
Ngời Cơ Tu vẫn còn nắm giữ, bảo lu nhiều bí quyết về kỹ
3.1. Y phục của dân tộc Cơ Tu
3.1.1. Trang phục của phụ nữ
+ Tục để ngực trần : Xa kia, ngời phụ nữ Cơ Tu mặc váy để
ngực trần, đến khi lấy chồng thì mang thêm một chiếc yếm (ado).
+ áo (adooh): áo của ngời phụ nữ Cơ Tu là loại áo cánh ngắn
may kiểu chui đầu không có viền cổ. Loại áo này đợc chế tác một
cách đơn giản gồm: áo gáp, áo rơ lắc (không có hoa văn hạt cờm); áo
zreh (hoa văn bằng chỉ màu) ; áo adooh arắc (hoa văn hạt cờm).
10
+ Váy (hđooh): váy tấm, váy quấn (gọi theo cách ăn vận) hay
váy hở (gọi theo kỹ thuật may), gồm các loại : váy chrờ dhu, váy đơi,
váy doóh, váy ngắn (âng ly).
+ Dây thắt váy (cơ ting papah): dệt bằng các sợi vải có giá trị
thẩm mỹ, tô điểm và làm tăng thêm vẻ đẹp trang phục.
+ Dây buộc đầu (cơ ting trving): làm cho mái tóc khỏi bị xõa ra
khi ngời phụ nữ tham gia nhảy múa, tôn vẻ duyên dáng, quyến rũ.
+ Yếm (xờ nát): mặc ở nhà khi trời nóng hoặc sau khi tắm, chỉ
che vừa đủ bộ ngực của ngời phụ nữ.
3.1.2. Trang phục của nam giới
Trang phục nam giới ít về chủng loại, không phân biệt theo lứa
tuổi, chức sắc, gồm các loại hình sau :
+ Khố (hgiăl/ ghul/ cha lon): đàn ông thờng đóng khố, ở trần.
+ áo chữ X ( chrơ gul, chrơ peng): là kiểu trang phục khá phổ
biến của đàn ông Cơ Tu và các dân tộc Tây Nguyên.
+ áo (a doóh) : giống nh áo của nữ, thuộc loại áo ngắn may
kiểu chui đầu, không viền cổ.
+ Tấm choàng (adây/chơrguộc): tấm choàng cũng là bộ phận y
phục tối cổ, đó là một mảnh vải biến hóa và mang nhiều chức năng.
3.1.3. Trang phục trẻ em
lợn rừng, lợn nhà, móng vuốt hổ hay răng gấu
+ Chuỗi đeo cổ bằng gỗ: Sử dụng các loại gỗ quí làm trang sức.
+ Vòng đeo cổ bằng kim loại nh: vàng bạc (pră/pa nâng/kênh),
đồng (coọng), nhuôm (soong), chì
12
+ Vòng đeo cổ bằng các chất liệu khác: Là các loại chuỗi hạt
làm bằng xơng, vỏ ốc, bằng hạt (crliêng/ crloong), quả (plêê) cây
rừng, ngà voi (bhala achiêng), lục lạc (rơriu).
3.3.1.2. Vòng đeo tay: Vòng đeo tay của ngời Cơ Tu (coọng),
làm bằng mã não, đồng, bạc, chì, cờm nhựa
3.3.1.3. Khuyên tai: Đợc làm bằng đồng (coòng giùng), đá
(coòng đhơil), bạc (pră) và nhiều chất liệu khác nh tre, nứa, gỗ
3.3.1.4. Trang sức trên đầu: Trang phục, đồ trang sức và đầu tóc
chính là những yếu tố hợp thành trang phục truyền thống Cơ Tu, đặc biệt
đối với ngời đàn ông, chúng gồm nanh lợn rừng (can rêng oọc), nanh
lợn nhà (cluôi), lông nhím, đuôi chim trĩ (dơlonong), chim avang
3.3.2. Tục cà răng căng tai, xăm mình và trang điểm
Ngời Cơ Tu từ xa dùng những vật có sẵn trong thiên nhiên để
tô vẽ, xăm mình, hoặc xuyên thủng, tạo vết sẹo trên ngời, biến đổi cơ
thể (body modification). Đó là tục cà răng (tooth - scraping), căng tai
(ear - perforating ), tục xăm mình. Thiếu nữ Cơ Tu còn khai thác các
hơng liệu, mỹ phẩm tự nhiên để trang điểm, làm đẹp, thu hút bạn
tình.
3.4. Dụng cụ tuỳ thân mang tính trang sức
Ngoài những đồ trang sức hết sức phong phú nêu trên, đồng bào
Cơ Tu còn mang theo những dụng cụ tùy thân nh gùi, túi vải, cây ná,
ống tên, tẩu thuốc Ngoài chức năng sử dụng, những vật dụng đó còn
mang tính thẩm mỹ.
14
dải ngang chiếm vị trí quan trọng. Ngoài bố cục thành dải, hoa văn Cơ
Tu còn bố cục thành ô, bố cục xen kẽ, bố cục liên hoàn và lặp đi lặp lại.
4.1.3. Hệ thống mô tip hoa văn trên y phục Cơ Tu
4.1.3.1. Các mô tip hoa văn phản ánh về thiên nhiên
+ Hoa văn về thế giới quan
+ Hoa văn thực vật
+ Hoa văn động vật
4.1.3.2. Các mô tip phản ánh môi trờng văn hoá và x hội
+ Hoa văn hình ngời
+ Hoa văn đồ vật
4.1.4. Đặc trng phong cách trang trí trên y phục
Hoa văn trang trí trên vải của dân tộc Cơ Tu có đặc trng:
+ Sự phong phú của chất liệu thể hiện hoa văn: Với nhiều chất
liệu khác nhau nh chỉ màu, hạt cờm, len ngời ta sáng tạo ra nhiều
loại hình hoa văn, đó là hoa văn gợn sóng, chỉ màu, hạt cờm.
+ Phong cách hình học hóa hoa văn: Hoa văn trên trang phục
Cơ Tu bao gồm các dải trang trí bằng những hoa văn hình học: hình
tròn, hình thoi, hình vuông, hình thang cân, hình bình hành, hình đa
giác, đờng thẳng song và nhiều nhất là những hình tam giác. Đây là
phong cách hình học hóa hoa văn.
+ Sự liên kết giữa các hoa văn: Sự phối hợp, liên kết của các
mô tip hoa là một nguyên tắc trong trang trí trên trang phục Cơ Tu.
Những đồ án trang trí phức tạp nhất cũng chỉ là kết quả của sự phối
hợp tài tình nhiều chi tiết đơn giản. Sự phối hợp đó cũng là tiền đề cho
việc hình thành các cặp biểu tợng hoặc đa biểu tợng.
15
+ Tính ớc lệ, giản lợc, cánh điệu thành biểu tợng: Hoa văn
trên trang phục của ngời Cơ Tu hài hòa, cân đối, có tính cách điệu,
5.1. Gía trị của nghề dệt và trang phục
Trang phục, thổ cẩm truyền thống có nhiều giá trị
5.1.1. Giá trị sử dụng
Trang phục truyền thống vẫn đợc sử dụng phổ biến trong đời
sống của ngời Cơ Tu, từ ăn mặc hàng ngày, lao động sản xuất đến lễ
hội, sinh hoạt cộng đồng.
5.1.2. Giá trị kinh tế
Sản phẩm thổ cẩm, đồ trang sức chẳng những phản ánh nét đặc
trng của dân tộc mà còn là vật ngang giá thờng đợc định mức cao
trong quá trình trao đổi, giao lu hàng hóa trên khía cạnh nội bộ dân
tộc và giữa các dân tộc cận c. Nghề dệt và những sản phẩm của nó
còn là sản phẩm du lịch độc đáo
5.1.3. Giá trị văn hóa
Sản phẩm dệt, trang phục, đồ trang sức của đồng bào chẳng
những có giá trị vật chất, là thớc đo giá trị xã hội, sự giàu có của mỗi
gia đình, dòng tộc mà còn có giá trị về thẩm mỹ, thể hiện đời sống tinh
thần phong phú của mỗi dân tộc. Nó vừa là vật dụng, vừa nh tác phẩm
nghệ thuật, đợc mọi ngời a chuộng và trân trọng.
5.2. Xu hớng biến đổi của nghề dệt và trang phục
5.2.1. Tác nhân biến đổi
Do tác động của việc thực hiện các chơng trình định canh định
c, tái định c xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện,
các chơng trình đầu t, phát triển miền núi nh 135, 134; chơng
17
trình kiên cố hoá nhà ở; tác động của các phơng tiện thông tin đại
chúng, do sự giao lu văn hóa giữa các dân tộc
5.2.2. Những biểu hiện biến đổi trong nghề dệt và trang phục
5.2.2.1. Biển hiện về quan niệm và ý thức sử dụng
Quan niệm của ngời Cơ Tu xa coi cái đẹp của trang phục là
phẩm làm ra để trao đổi buôn bán, có sự liên kết giữa các thợ thủ công
với nhau, giữa các thợ thủ công với ngời chuyên lo về khâu tiêu thụ.
5.2.3. Nhận định về xu hớng biến đổi
Biến đổi là xu hớng tất yếu trong bối cảnh giao lu, hội nhập,
toàn cầu hóa. Biến đổi cũng nhằm thích ứng với cuộc sống hiện đại,
tạo ra nhiều cái mới, sản phẩm mới, cải thiện đời sống của nhân dân.
Nhờ sự tiếp thu có chọn lọc, có ý thức, ngời Cơ Tu đã bản địa
hóa một số sản phẩm văn hóa của các dân tộc khác, biến chúng thành
sản phẩm đặc trng truyền thống, làm giàu có thêm cho vốn di sản văn
hóa của dân tộc mình.
5. 3. Bảo tồn và phát huy nghề dệt và trang phục Cơ Tu
5.3.1. Tính cấp thiết của việc bảo tồn nghề dệt và trang phục
Ngời Cơ Tu ở Quảng Nam vốn có ý thức giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc rất cao, bảo lu nhiều giá trị văn hóa tộc ngời, không chỉ
thể hiện qua nghề dệt, trang phục truyền thống mà còn ở kiến trúc,
nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, diễn xớng, ẩm thực, lễ hội
Phát triển nghề dệt truyền thống của đồng bào Cơ Tu chẳng
những tạo nhiều công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo mà
còn có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống.
19
5.3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy nghề dệt và trang phục
Trong các giải pháp phục hồi văn hóa truyền thống các dân tộc,
bên cạnh việc phục hồi thích ứng, chúng ta cần chú trọng việc phục
hồi nguyên gốc.
Cần có chính sách đầu t, hỗ trợ kỹ thuật thông qua viêc nghiên
cứu cải tiến các công cụ nghề dệt nh khung dệt, quy trình tạo sợi
Tạo ra một nguồn nguyên liệu ổn định, đa dạng hoá các mẫu mã,
các mặt hàng thổ cẩm, vừa tạo ra sản phẩm mới vừa giữ đợc yếu tố
gốc, yếu tố truyền thống, gìn giữ những nét đặc trng tộc ngời.
trong đó có nghề dệt và trang phục. Việc tìm hiểu các giá trị văn hóa
truyền thống của ngời Cơ Tu qua nghề dệt và trang phục là việc làm
thiết thực và cụ thể trong việc tiếp cận với nền văn hóa cổ xa của các
dân tộc vùng Trờng Sơn - Tây Nguyên. Nghề dệt và trang phục đóng
một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội dân tộc
Cơ Tu, là di sản văn hóa có liên quan mật thiết đến mọi khía cạnh của
đời sống tộc ngời. Do đó, khi tiếp cận về nghề dệt và trang phục sẽ
nắm bắt đợc những cốt lõi, có một cái nhìn toàn diện về các giá trị vật
chất (kinh tế, mu sinh, kỹ thuật) cũng nh giá trị tinh thần (tín
ngỡng, phong tục, nhân sinh quan, thẩm mỹ) của ngời Cơ Tu.
2. Bên cạnh sản xuất nơng rẫy với cây lúa, cây hoa màu,
ngời Cơ Tu sớm biết đến cây bông vải. Đây là một trong những cây
trồng quan trọng bật nhất trong nền kinh tế tự cấp tự túc. Qua bao đời,
họ đã tích lũy đợc nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc canh tác cây
bông vải. Cùng với cây bông bản địa, đồng bào đã thuần hóa các giống
bông vải của dân tộc khác làm phong phú thêm nguồn giống địa
21
phơng. Với sự cần cù, ngời Cơ Tu đã chế tác ra nhiều công cụ hết
sức tiện lợi, độc đáo nhằm chế biến bông vải thành sợi. Đặc biệt, họ
biết khai thác các loại cây có sẵn trong thiên nhiên để chế biến thuốc
nhuộm, tạo màu sợi bông, từ sợi thô, đơn sắc thành bảng màu đa sắc.
Thông qua công cụ, kỹ thuật, họ lại tiếp tục tạo nên những bộ trang
phục với kiểu cách, sắc màu, hoa văn, bố cục phản ánh rõ nét thẩm mỹ
quan tộc ngời. Nghề dệt và trang phục là một bằng chứng sinh động
của sức sống, tiềm năng tri thức bản địa. Ngời thợ thủ công chẳng
những sáng chế nhiều công cụ độc đáo thực hiện quy trình chế biến
sợi mà còn sử dụng thành thạo và bảo tồn một cách bền vững loại
khung dệt Indonesien - loại khung dệt cổ xa nhất của nhân loại. Tuy
năng suất thấp nhng nó phù hợp với điều kiện sản xuất, kỹ năng tay
hàng đầu về phơng diện nghệ thuật thẩm mỹ so với trang phục của
các dân tộc cận c ở tỉnh Quảng Nam cũng nh các dân tộc khác c trú
ở dọc dãy Trờng Sơn. Ngời thợ thủ công Cơ Tu đã góp công gìn giữ
và truyền tải một phần kho báu văn hoá của dân tộc. Nghề dệt và trang
phục dân tộc Cơ Tu là yếu tố hàng đầu làm nên bản sắc văn hóa tộc
ngời, tạo nên sắc thái riêng biệt, độc đáo so với các dân tộc trong
vùng. Do đó, bảo tồn nghề dệt và trang phục truyền thống chính là việc
làm thiết thực nhất góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của
dân tộc Cơ Tu.
4. Nằm giữa hai đầu đất nớc, Quảng Nam là nơi hội tụ, giao
lu và tiếp biến nhiều nền văn hoá khác nhau nh Văn hoá Đông Sơn
của ngời Việt cổ ở đồng bằng Bắc Bộ; Văn hóa Sa Huỳnh ở vùng
duyên hải và bán đơn địa miền Trung thời tiền sử và sơ sử; Văn hoá
Chăm, Văn hoá Đại Việt thời cổ và trung đại. Trên nền lịch sử đó,
23
các dân tộc sinh sống nơi đây đã thừa hởng nhiều di sản văn hóa của
nhiều thời đại, trong đó có tập quán canh tác cây bông vải, kỹ thuật tạo
sợi, kinh nghiệm chế biến màu và tạo màu sợi bông, kỹ thuật dệt may,
chế tác, sử dụng y phục, trang sức và nghệ thuật trang trí hoa văn trên
vải. Dấu ấn cội nguồn, chủ nhân văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh vẫn
hiển hiện trên y phục, trang sức, hoa văn truyền thống Cơ Tu, thể hiện
dòng chảy văn hóa liên tục từ quá khứ đến hiện tại. Bên cạnh nét đặc
trng riêng, trang phục Cơ Tu còn có nhiều nét tơng đồng, thể hiện
tính thống nhất, đa dạng của văn hóa vùng, thể hiện sự giao lu, tiếp
biến văn hóa lâu đời.
5. Ngày nay, do tác động nhiều mặt, cuộc sống của đồng bào
đang đổi thay, giá trị văn hóa truyền thống bị mai một, trong đó có
nghề dệt và trang phục. Một số làng Cơ Tu, nhất là ở vùng thấp, vùng
thị trấn, thị tứ, bà con không còn duy trì nghề dệt. Nhng một điều
kiến trúc, nghệ thuật. Đặc biệt, cần nghiên cứu về nghề dệt và trang
phục của ngời Cơ Tu đang sinh sống ở nớc Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào để có cái nhìn so sánh, đối chiếu./.