Xây dựng mô hình lợi nhuận tại Cty Maxvitra - Pdf 12

Báo cáo thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết mục đích cơ bản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là
tạo ra lợi nhuận và mục đích cuối cùng cũng là lợi nhuận. Ngày nay, doanh nghiệp
hoàn toàn có thể tiếp cận và khai thác các tính năng nổi trội trong “nền kinh tế
internet” để tối đa hóa lợi nhuận.
Trong bất cứ một hình thức tổ chức kinh tế nào , trong hình thái kinh tế xã
hội nào thì các doanh nghiệp cũng luôn quan tâm tới vấn đề năng suất -chất lượng -
hiệu quả đó chính là những tiêu chí hàng đầu trong quá trình sản xuất kinh doanh
của mỗi doanh nghiệp. Nó chính là thước đo trình độ phát triển của doanh nghiệp
nói riêng và của xã hội nói chung . Song tất cả đều thực hiện mục tiêu sâu xa của
doanh nghiệp đó là thu lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận . Lợi nhuận là mục đích
của sản xuất kinh doanh , là động cơ chủ yếu của các nhà đầu tư vì vậy lợi nhuận là
tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có thực sự hiệu quả hay không.
Một nền kinh tế vững mạnh là một nền kinh tế trong đó các tế bào của nó là
các doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Những năm trước đây nền kinh tế của nước
ta còn ở trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp các đơn vị sản xuất đã không chủ
động khai thác hết khả năng và tiềm tàng sẵn có của mình do hình thành thói quen
tâm lý ỷ lại, dựa dẫm vào sự bao cấp của nhà nước cho nên mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh không những không mang lại hiệu quả mà còn làm cho nền kinh tế
ngày một kém phát triển và tụt hậu rất nhiều so với các nước trên khu vực và trong
thế giới.
Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế
song song tồn tại dưới sự quản lý vĩ mô của nhà nước thì nền kinh tế của nước ta
mới thực sự khởi sắc. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường là có sự cạnh tranh mạnh
mẽ, chính điều đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải độc lập tự chủ trong mọi hoạt
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
1
Báo cáo thực tập
động sản xuất kinh doanh và quá trình đó đã mang lại hiệu quả tức là mang lại lợi

1.1.Khái niệm về lợi nhuận
1.1.1.Định nghĩa:
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp được xác định sau
một thời kỳ nhất định được thể hiện bằng khoản tiền thu về gọi chung là doanh thu.
Khoản doanh thu có được này trước hết phải bù đắp được các chi phí sản xuất
kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình. Những chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó là :
- Các khoản chi cho nghĩa vụ đối với nhà nước của doanh nghiệp: thuế, Các
khoản nộp cho ngân sách nhà nước.
- Các khoản chi cho vật chất đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất.
- Các khoản chi cho người lao động.
Doanh thu có được sau khi đã bù đắp hết khoản chi phí nói trên thì phần doanh
thu giá trị còn lại chính là phần lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận gồm:
- Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là chênh lệch giữa doanh thu
của hoạt kinh doanh trừ đi chi phí kinh doanh.
- Lợi nhuận của hoạt động khác: gồm lợi nhuận từ hoạt động tài chính, lợi
nhuận từ hoạt động bất thường
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
3
Báo cáo thực tập
1.1.2. Ý nghĩa của lợi nhuận
Lợi nhuận là mục đích của sản xuất kinh doanh, là động cơ chủ yếu của các
nhà đầu tư vì vậy lợi nhuận được coi là một tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh không kể trong bất cứ lĩnh vực nào, hay thành phần kinh tế nào, khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều có chung một mục đích là tìm kiếm lợi

- Chia lãi cho các đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (nếu có).
Phần lợi nhuận còn lại dùng để trích lập các quỹ của doanh nghiệp như:
+ Trích quỹ dự phòng tài chính;
+ Trích quỹ đầu tư phát triển;
+ Trích quỹ đặc biệt (các ngành đặc thù như bảo hiểm, ngân hàng thương mại);
+ Chia lãi cổ phần (nếu có);
+ Trích quỹ khen thưởng, phúc lợi.
1.1.3.Hạn chế
Lợi nhuận đóng vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với từng doanh
nghiệp cụ thể mà đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, song không thể coi lợi
nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp bởi vì:
- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng , nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều
nhân tố có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố khách quan và có
sự bù trừ lẫn nhau. Do đó khi xem xét kết quả kinh doanh ta không chỉ đơn thuần
sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận.
- Lợi nhuận doanh nghiệp qua mỗi kỳ là khác nhau do điều kiện sản xuất
kinh doanh , điều kiện vận chuyển, điều kiện thị trường tiêu thụ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
5
Báo cáo thực tập
- Lợi nhuận ở mỗi doanh nghiệp cùng loại là khác nhau bởi mỗi doanh
nghiệp có quy mô sản xuất khác nhau ,thực tế có những doanh nghiệp lớn nếu công
tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn so với những
doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng có chất lượng quản lý tốt.
1.1.4. Một số chỉ tiêu đánh giá mức sinh lời của doanh nghiệp khác
Lâu nay khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp người ta hay
sử dụng chỉ tiêu ROA(return on assets) và chỉ tiêu ROE( return on equity), không
thể phủ nhận tính hữu ích của hai chỉ tiêu này bên cạnh đó thì hai chỉ tiêu này còn
có những mặt hạn chế nhất định.

Chỉ tiêu ROE
Chỉ tiêu ROE được sử dụng khá nhất quán trong phân tích khi sử dụng chỉ
tiêu lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân.
ROE
=
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Tuy nhiên, chỉ tiêu này của các doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua có sự
biến động lớn do hoạt động tăng vốn. Khi tốc độ tăng vốn chủ sở hữu cao hơn tốc
độ tăng lợi nhuận sau thuế thì có nghĩa là ROE sẽ giảm sút so với trước khi tăng
vốn. Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp chỉ nên tăng vốn khi hiệu suất sử dụng vốn
hiện đang rất cao, thêm vào đó là đòn bẩy tài chính đã sử dụng hết “công suất”.
Nhưng thực tế ở Việt Nam thời gian vừa qua, có nhiều doanh nghiệp tiến hành tăng
vốn để giảm vốn vay ngân hàng, hay để tiến hành đầu tư tài chính.
Chỉ tiêu ROC
Do ROA và ROE có những hạn chế nhất định khi áp dụng phân tích các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, nên có thể trình bày một chỉ tiêu khác để có thể
nhìn nhận một cách toàn diện hơn năng lực sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu ROC (Return on Capital) cũng được nhiều tài liệu đề cập đến, tuy nhiên, ở
đây xin trình bày một cách tính ROC khá phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay.
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
7
Báo cáo thực tập
ROC
=
EBIT
Vốn kinh doanh bình quân
Trong đó:
• Vốn kinh doanh bình quân = Vốn vay bình quân + Vốn chủ sở hữu bình quân

năng mất dần khách hàng do tác động trực tiếp đến lợi ích của người mua, từ đó
ảnh hưởng đến các mục tiêu kinh doanh ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp.
Không ít doanh nghiệp lại lựa chọn biện pháp giảm dần chất lượng sản phẩm để
tăng lợi nhuận. Họ đã đánh đổi lợi ích trước mắt cho những tổn hại lâu dài.
Khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, các doanh nghiệp đã có được một sự
lựa chọn mới nhằm tối ưu hóa lợi nhuận. Việc áp dụng các giải pháp công nghệ cho
phép cải tiến, đa dạng hóa sản phẩm hàng lọat, khép kín quy trình sản xuất, làm cho
sản phẩm có chức năng mạnh hơn, lợi ích tốt hơn, tiết giảm đáng kể chi phí sản
xuất. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi mức đầu tư chi phí hạ tầng cao, có sẵn
nguồn nhân lực để bảo quản, duy trì máy móc họat động thường xuyên, liên tục.
Đến thời kỳ bùng nổ của ngành viễn thông, lượng thông tin trao đổi tăng đột
biến. Khi đó, doanh nghiệp có thể đa dạng hóa nguồn lựa chọn, sản phẩm bán chạy
do truyền thông tốt. Người ta bắt đầu quan tâm đến việc phát triển thương hiệu, một
tài sản “vô hình” của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng từ đó, chi phí quảng bá
thương hiệu đã gia tăng nhanh chóng, có doanh nghiệp đã dùng đến 70% tổng chi
phí vào các chiến dịch Marketing và quảng bá. Nhìn chung, các giải pháp này đều
có ưu điểm và nhược điểm riêng.
Thời kỳ ra đời của thương mại điện tử, có nghĩa là doanh nghiệp đã bước
sang giai đọan “nền kinh tế internet”. Thương mại điện tử mà cốt lõi của nó là hoạt
động trên nền tảng của internet đã đa dạng hóa phương thức hướng đến các mục
tiêu lợi nhuân. Internet đã tạo ra cái chợ vô hình với không gian quảng cáo và cơ
hội mua bán thuận tiện, nhanh hơn rất nhiều so với kiểu mua bán, giao thương
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
9
Báo cáo thực tập
truyền thống. Việc tham gia vào các họat động thương mại điện tử cho phép doanh
nghiệp xây dựng hình ảnh công ty, tiếp cận lượng khách hàng vô tận, nhất là các
doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và xuất khẩu, mở rộng thị trường mà không cần
tăng quy mô kinh doanh. Môt trong nhưng ưu việt của thương mại điện tử còn là tối
ưu hóa chi phí quản lý, kinh doanh. Kết nối đúng nhu cầu người mua và người bán,

khấu hao tính trên một đơn vị sản phẩm lại giảm đi ,do đó làm giảm giá thành và
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Tổ chức quản lý sử dụng lao động hợp lý, chú trọng nâng cao trình độ tay
nghề và ý thức trách nhiệm của người lao động
Tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao
Tiết kiệm được nguyên vật liệu tiêu hao trong quá trình sản xuất cũng góp
phần to lớn vào việc giảm chi phí, chi phí cho nguyên vật liệu thường chiếm tỷ
trọng lớn trong giá thành của sản phẩm , giảm được tỷ lệ tiêu hao này sẽ góp phần
đáng kể vào việc tăng lợi nhuận cho công ty.
1.2.2.Tăng số lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu thụ
Thông thường sản phẩm sản xuất ra càng nhiều , chất lượng cao đẩy
mạnh được việc tiêu thụ thì lợi nhuận doanh nghiệp ngày càng lớn . Chính vì
vậy tăng số lượng sản phẩm sản xuất, không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm và đẩy mạnh công tác tiêu thụ là một biện pháp quan trọng để tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp . Đối với những doanh nghiệp làm được điều trên chủ
yếu phục thuộc vào trình độ trang bị kỹ thuật của máy móc thiết bị,phục thuộc
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
11
Báo cáo thực tập
vào tay nghề người lao động và trình độ quản lý sản xuất và khả năng nắm bắt
thông tin thị trường của doanh nghiệp.
Tiêu thụ là khâu cuối cùng của sản xuất ,là khâu quan trọng ảnh hưởng trực
tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện
nay nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ thì chỉ khi nào sản phẩm
được tiêu thụ hết thì doanh nghiệp mới có cơ sở để đảm bảo quá trình tái sản xuất
cũng như thu được lợi nhuận. Vì vậy đẩy mạnh tiêu thụ đòi hỏi các doanh nghiệp
cần có một sự đầu tư lớn cả về vật chất cũng như thời gian.
1.2.3. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh không phải là một hoạt
động đơn thuần về mặt thu chi tài chính mà thực chất là một nghệ thuật sử dụng

báo cáo.
Thứ hai, DN sử dụng chính sách giá buộc khách hàng tự nguyện tăng doanh
số trong kỳ bằng việc thông báo sẽ tăng giá vào đầu năm tài chính năm sau. Khách
hàng sẽ phản ứng lại bằng việc sẵn sàng "ôm" sản phẩm của DN để chờ tăng giá.
Tuy nhiên, việc này chỉ có thể áp dụng với các sản phẩm đang được ưa chuộng và
có tính khan hiếm hoặc hàng hoá thiết yếu.
Thứ ba, ghi nhận trước doanh thu và lợi nhuận đối với các hoạt động có thời
gian dài. Thủ thuật này thường được áp dụng trong các DN xây dựng.
Doanh thu sản phẩm cung cấp phải mất nhiều năm nên DN được phép ghi
nhận định kỳ (như hợp đồng xây dựng), dựa trên ước tính chủ quan của bên nghiệm
thu là DN tiến hành viết hoá đơn và ghi nhận doanh số cũng như lợi nhuận. Thời
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
13
Báo cáo thực tập
gian thi công kéo dài suốt nhiều năm tài chính là cơ sở để thực hiện thủ thuật này.
DN có thể chuyển doanh thu và lợi nhuận từ năm sau về năm hiện tại và ngược lại.
Thứ tư, lợi dụng các ước tính kế toán. Bằng cách lợi dụng các ước tính kế
toán như: các khoản dự phòng, chi phí trả trước, chi phí trích trước và khấu hao tài
sản cố định, DN có thể tăng hoặc giảm chi phí theo ước muốn chủ quan để có được
con số lợi nhuận mong muốn.
Cắt giảm các chi phí hữu ích
Một thủ thuật khác cũng rất đáng lưu ý là việc cắt giảm các chi phí hữu ích
như chi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, duy tu bảo dưỡng thiết bị… cũng
là một cách có thể làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, vì các chi phí này có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của DN về lâu dài, nên sử dụng giải pháp này đồng
nghĩa với các việc hy sinh các khoản lợi nhuận tiềm năng trong tương lai.
Trong một số tình huống, khi lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh
chính không đem lại kết quả như mong muốn, để tăng lợi nhuận, DN có thể bán các
khoản đầu tư sinh lời. Động thái này thường được ví như "gặt lúa non". Vì thế, áp
dụng biện pháp trên có nghĩa là DN tự bỏ qua tiềm năng sinh lợi lớn từ các khoản

được xác định theo phương pháp này bao gồm cả lợi nhuận được thực hiện và lợi
nhuận chưa được thực hiện của kế toán dồn tích; Ba là, phù hợp với quan điểm của
các nhà kinh tế về việc xác định lợi nhuận.
1.3.2.Phương pháp so sánh giữa doanh thu và chi phí
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
15
Báo cáo thực tập
Theo phương pháp này, lợi nhuận trong kỳ được xác định bằmg cách so sánh giữa
doanh thu và chi phí. Công thức xác định lợi nhuận trong kỳ theo phương pháp này
như sau: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí (3)
Lợi nhuận và doanh thu và chi phí được xác định ở công thức (3) phải đảm bảo
nguyên tắc phù hợp. Tùy theo mức doanh thu xác định trong kỳ là bao nhiêu để xác
định mức chi phí cần thiết để tạo ra số doanh thu đã được xác định. Trình tự các
bước để xác định những yếu tố của công thức (3) trên đây là: Trước hết, xác định
doanh thu; sau đó, xác định chi phí.
Doanh thu được xác định chủ yếu dựa trên nguyên tắc tiền mặt hoặc dựa trên
nguyên tắc thực hiện. Ngày nay, hầu như doanh thu của các đơn vị kinh doanh
được ghi nhận theo nguyên tắc thực hiện, những lý do cơ bản của tính áp dụng rộng
rãi nguyên tắc ghi nhận doanh thu này trong thực tế là tính khách quan khi ghi nhận
mức doanh thu, tính xác thực của tài sản, chi phí và tính phù hợp giữa doanh thu
với chi phí.
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận doanh nghiệp bao gốm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh
doanh và lợi nhuận từ hoạt động khác .Trong đó lợi nhuận từ hoạt động sản xuất
kinh doanh chính là lợi nhuận thu được từ việc bán các sản phẩm ,hàng hoá, dịch
vụ của doanh nghiệp , mà lợi nhuận từ tiêu thụ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Lợi nhuận tiêu thụ lại phục thuộc vào: doanh thu tiêu thụ , giá thành sản xuất
của sản phẩm. Vì thuế là khoản cố định , là chỉ tiêu thể hiện nghĩa vụ bắt buộc của
doanh nghiệp với nhà nước ,các doanh nghiệp có nghĩa vụ phải hoàn thành , do đó

Mỗi một loại sản phẩm tiêu thụ có một loại giá bán khác nhau, cao hay thấp
tuỳ thuộc vào giá trị của sản phẩm đó. Nếu doanh nghiệp tăng tỷ trọng sản xuất và
tiêu thụ mặt hàng có giá bán cao và giảm tỷ trọng sản xuất mặt hàng có giá bán
thấp thì khi đó tổng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ không thay đổi nhưng tổng
doanh thu xẽ tăng lên và ngược lại.
Việc thay đổi kết cấu mặt hàng sản xuất và tiêu thụ cũng ảnh hưởng đến
doanh thu , song tình hình hiện nay chủ yếu do sự biến động của thị trường , trong
điều kiện này doanh nghiệp phải tự điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, để làm được điều trên thì đòi hỏi
những người làm công tác quản lý và điều hành doanh nghiệp phải luôn nhạy bén
với xu hướng thị trường ,phải nghiên cứu phải điều tra và nắm bắt đấy đủ thông tin
cũng như nhu cầu thị trường.
Gía cả sản phẩm ,hàng hoá ,dịch vụ tiêu thụ.
Trong trường hợp các nhân tố khác không đổi thì việc thay đổi giá bán cũng
ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu, trong khi đó thông thường giá bán của sản phẩm
là do doanh nghiệp tự xây dựng chỉ có một số sản phẩm được định giá cụ thể. Vì
vậy doanh nghiệp phải có chính sách giá hợp lý để có thể thu được nhiều doanh thu
bảo đảm có lợi nhuận.
Khi khối lượng sản phẩm sản xuất không đổi sẽ làm tăng doanh thu và ngược
lại, nhưng trong điều kiện nền kinh tế hiện nay giá bán các mặt hàng được hình
thành một cách khách quan do quan hệ cung cầu trên thị trường , vì vậy mà doanh
nghiệp cũng không thể tự điều chỉnh giá bán cao hơn giá mặt hàng cùng loại trên
thị trường.
Đặc biệt một số doanh nghiệp được nhà nước ra chỉ tiêu sản xuất và tiêu thụ
mặt hàng nào đó thì giá bán mặt hàng đó sẽ được nhà nước quy định. Trong trường
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
18
Báo cáo thực tập
hợp này giá bán thay đổi dẫn đến doanh thu cũng thay đổi và điều này được đánh
giá là tác động khách quan ngoài ý muốn chủ quan của doanh nghiệp.

1.4.3. Nhân tố ảnh hưởng về điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của
doanh nghiệp.
Điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của từng doanh nghiệp khó
khăn hay thuận lợi cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá
thành sản phẩm.
Ngoài ra chi phí tiêu thụ( chi phí bán hàng) là khoản chi phí mà doanh
nghiệp phải bỏ ra để đảm bảo quá trình tiêu thụ sản phẩm được thực hiện . Các
khoản chi phí này được phát sinh trong quá trình tiêu thụ: trả lương nhân viên bán
hàng , vận chuyển bảo quản và chi phí cho công tác điều tra nghiên cứu thị
trường ,giới thiệu quảng cáo sản phẩm. Chi phí tiêu thụ còn phục thuộc còn phục
thuộc vào điều kiện tự nhiên và xã hội của từng địa phương . Nếu các khoản chi phí
này được tiết kiệm sẽ góp phần vào việc hạ chi phí , giảm giá thành từ đó tăng thêm
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tuy nhiên doanh nghiệp cũng phải tiến hành giảm chi
phí tiêu thụ một cách hợp lý để không ảnh hưởng tới đời sống của những người liên
quan và ảnh hưởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Kết: lợi nhuận là một chỉ tiêu hữu hiệu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nó có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanh
nghiệp không những thế nó còn quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp. Do
đó doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần cân nhắc các
phương án để có thể lựa chọn được phương án tối đa hoá lợi nhuận , tuy nhiên cũng
không vì chạy theo lợi nhuận mà các doanh nghiệp đã không quan tâm tới lợi ích
chung của xã hội , cần phải cân đối lợi ích hài hoà giữa các bên để có thể tồn tại và
phát triển bền vững.
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
20
Báo cáo thực tập
CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG
VÀ THƯƠNG MẠI VIỆT NHẬT
2.1.Khái quát về tình hình tổ chức quản lý kinh doanh tại công ty Maxvitra

chính sách bảo hành tốt.
Tới năm 1996 do Nhà nước ban hành chính sách hạn chế xuất nhập khẩu
máy móc thiết bị , đồng thời nhu cầu về thiết bị đã bị bão hoà do đã xuất hiện rất
nhiều đối thủ cạnh tranh . Vì vậy công ty đã dần bổ sung thêm vốn và mở thêm một
số lĩnh vực mới đó là nhận xây dựng và thi công các công trình giao thông vận tải ,
cho thuê thiết bị thi công giao thông vận tải và láp ráp linh kiện điện tử.
Qua nhiều năm hoạt động công ty đã mang lại hiệu quả kinh tế cao , tạo
nguồn thu cho ngân sách nhà nước và mang lại lợi nhuận cho các bên. Tính đến hết
ngày 31-12-2008 giá trị tài sản ròng của công ty là 50.675.421.081 VND trong đó
vốn cố định là 28.108.472.316 VND và vốn lưu động là 22.566.948.765 VND và
quyền sử dụng đất , sử dụng mặt bằng nhà xưởng rộng 1768m2.
Tháng 7 năm 2002 do có nhiều sự thay đổi nên công ty liên doanh Xây dựng
và thương mại Việt Nhật được chuyển thành công ty Xây Dựng và thương mại Việt
Nhật tên giao dịch vẫn là maxvitra..co. Công ty chính thức trở thành doanh nghiệp
nhà nước từ tháng 7-2002, và là công ty thành viên thuộc trực thuộc tổng công ty
Thương Mại và Xây Dựng –Vietracimex. Công ty xây dựng và thương mại Việt
Nhật hoạt động với một tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán kế toán độc lập , có
con dấu riêng và chịu sự quản lý của bộ Giao Thông Vận Tải.
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
22
Báo cáo thực tập
Tính đến nay công ty có các đơn vị trực thuộc:
-Xí nghiệp láp ráp các linh kiện điện tử
-Xưởng sữa chữa tân trang thiết bị máy móc
-Xí nghiệp xây dựng công trình giao thông vận tải
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý, kế toán, tổ chức sản xuất của công ty.
Bộ máy công ty được xây dựng trên mô hình quản lý tập trung.
Bảng 1:Sơ đồ tổ chức:
Ban Giám Đốc
GĐ và Phó GĐ

-Thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước theo luật thuế và biểu thuế
.Phòng kinh doanh:
-Xây dựng kế hoạch dài hạn và ngắn hạn về sản xuất, kỹ thuật tài chính xuất
nhập khẩu theo mục tiêu kinh doanh của công ty.
- Giao kế hoạch sản xuất cho các đơn vị trực thuộc , điều phối hoạt động của
các đơn vị đảm bảo cân đối , đồng bộ và hiệu quả.
- Khai thác nguồn công trình để tham gia nhận đấu thầu xây dựng công trình
giao thông.
- Chỉ đạo điều hành sản xuất, giám sát kỹ thuật sử dụng thiết bị kỹ thuật xây
dựng, thi công công trình.
Văn phòng công ty:
- Tổ chức tiếp nhận, luân chuyển quản lý văn thư giữa các công ty với các cơ
quan nhà nước, các đơn vị trực thuộc và các cơ quan địa phương
- Đầu mối phối hợp, tổng hợp truyền đạt các quyết định, chỉ thị tới lãnh đạo
phòng ban và công ty.
- Đôn đốc theo dõi kế hoạch
- Tham mưu lãnh đạo trong việc bổ miễn nhiệm ,khen thưởng- kỷ luật, xây
dựng chỉ tiêu, tiêu chuẩn xét duyệt và tuyển dụng.
- Phục vụ nhu cầu về hành chính quản trị đời sống.
Các đơn vị thành viên
Sinh viên: Nguyễn Thị Minh Nguyệt Lớp: Toán Kinh tế 47
24
Báo cáo thực tập
- Đảm bảo tiến độ sản xuất và nâng cao năng suất lao động , nâng cao chất
lượng sản phẩm ,dịch vụ.
- Xây dựng chi tiêu các định mức lao động ,sử dụng hợp lý lao động ,chuẩn
bị điều kiện sản xuất kế hoạch.
- Có trách nhiệm bảo toàn và sử dụng có hiệu quả tài sản cố định và vật tư
công ty đã giao nhận.
Bộ máy kế toán:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status