Chiến khu Quang Trung trong cao trào kháng Nhật cứu nước và tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 - Pdf 12

Bộ giáo dục v đo tạo
trờng đại học s phạm h nội

bùi ngọc thạch
Chiến khu Quang Trung
Trong Cao tro kháng nhật cứu nớc
v tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 Chuyên ngnh: Lịch sử Việt Nam CậN ĐạI V HIệN ĐạI
M số : 62 22 54 05
Luận án sẽ đợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc
họp tại Trờng Đại học S phạm Hà Nội
Vào hồi 8 giờ 30, ngày 22 tháng 02 năm 2008 Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Th viện Quốc gia Hà Nội
- Th viện trờng ĐHSP Hà Nội
- Th viện trờng ĐHSP Hà Nội 2

Mở đầu
1. Lý do chọn đề ti
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 đã để lại nhiều bài
học kinh nghiệm quý báu. Một trong những bài học đó là vấn đề chiến
khu cách mạng.
Trong Cao trào kháng Nhật, cứu nớc tiến tới Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền, khi tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ
quan trọng của cách mạng, thì việc thành lập các chiến khu lúc này là rất cần
thiết, nhằm tạo ra các khu vực tác chiến rộng lớn, có ý nghĩa chiến lợc.
Căn cứ vào điều kiện cụ thể địa bàn ba tỉnh Hòa - Ninh - Thanh về vị trí,
địa thế và truyền thống đấu tranh của nhân dân, đồng thời xuất phát từ yêu cầu
của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng ta quyết định thành lập chiến khu
Quang Trung (20/5/1945). Đó là một trong 7 chiến khu lớn trong cả nớc lúc
bấy giờ.
Chiến khu Quang Trung là một địa bàn chiến lợc rộng lớn, gồm gần 7
trong số 30 phủ, huyện, châu của ba tỉnh Hòa - Ninh - Thanh, thuộc khu vực
Nam Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (trừ các thị xã, thị trấn).

- Từ năm 1960, có nhiều cuốn sách do các cơ quan và cá nhân viết về
cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945 và Cách mạng tháng Tám năm
1945 trên pham vi toàn quốc rất chú trọng phản ánh về công cuộc xây dựng,
chuẩn bị lực lợng vũ trang tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tuy
nhiên vấn đề chiến khu Quang Trung chỉ đợc nêu tên nh một sự kiện thoảng
qua, không đợc giải thích gì thêm.
Từ năm 1970 trở đi, ba tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa chú trọng
biên soạn các cuốn lịch sử Đảng bộ các cấp tỉnh, huyện, xã thời kì 1939 - 1945.
Các cuốn sách này đề cập đến phong trào cách mạng chuẩn bị lực lợng tiến lên
khởi nghĩa giành chính quyền ở mỗi địa phơng, trong đó ít nhiều phản ánh về
hoạt động của chiến khu Quang Trung. Do đây không phải là các cuốn sách
chuyên sâu, cho nên nội dung viết về chiến khu Quang Trung rất hạn chế, mang
tính chất chấm phá, cục bộ, không phản ánh đầy đủ toàn cảnh về bức tranh
chiến khu.
Năm 1985, Huyện ủy Hoàng Long xuất bản cuốn "Khu căn cứ cách mạng
Quỳnh Lu" do Huyện ủy Hoàng Long (nay là huyện Nho Quan, Ninh Bình)
2xuất bản, đã trình bày sự hình thành, phát triển của khu căn cứ cách mạng
Quỳnh Lu gắn liền với sự ra đời hoạt động của chiến khu Quang Trung. Song,
mọi vấn đề cũng chỉ dừng lại ở khuôn khổ của một khu căn cứ.
Đặc biệt, cuốn sách "Chiến khu Quang Trung" do Bộ t lệnh quân khu 3
xuất bản năm 1990 và tái bản năm 1996 có sửa chữa, do NXB QĐND xuất bản.
Cuốn sách có khổ 13 x 19, gồm 144 trang, chia làm 3 chơng. Đây là tài liệu
chuyên sâu duy nhất về chiến khu Quang Trung, đã trình bày những nét cơ
bản về chiến khu Quang Trung. Tuy vậy, cuốn sách cha trình bày đầy đủ,
toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành, hoạt động của chiến khu. Nhiều
nội dung, sự kiện không nêu, hoặc nêu sai, hoặc nhầm lẫn.
Mặc dù các tài liệu trên cha phản ánh đầy đủ về chiến khu Quang Trung,

Đó là: các châu Mai Đà, Kỳ Sơn, Lạc Sơn và các xã Hòa Bình, Quỳnh
Lâm, Thịnh Lang, xung quanh thị xã thuộc tỉnh Hòa Bình; phủ Nho Quan và
một nửa huyện Gia Viễn về phía tây, một nửa huyện Gia Khánh về phía tây
nam, thuộc tỉnh Ninh Bình và vùng Ngọc Trạo thuộc huyện Thạch Thành
(Thanh Hoá).
Ngoài ra, có một số vùng chịu ảnh hởng tác động của chiến khu Quang
Trung là:
Các địa phơng thuộc địa bàn ba tỉnh Hoà - Ninh Thanh gồm: Châu
Lơng Sơn (Hoà Bình); một nửa huyện Gia Khánh về phía đông, một nửa huyện
Gia Viễn cũng về phía đông, huyện Yên Mô, huyện Kim Sơn (Ninh Bình). Đối
với Thanh Hoá: Đảng bộ và nhân dân ở đây đã quán triệt, thực hiện Nghị quyết
Hội nghị BCH Trung ơng Đảng lần thứ 6 (11/1939), lần thứ 7 (11/1940), lần
thứ 8 (05/1941) và Bản chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta (12/03/1945), đã tích cực, chủ động xây dựng lực lợng cách mạng về mọi
mặt, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền. Khi chiến khu Quang Trung ra
đời, hoạt động, đã tác động, thúc đẩy phong trào cách mạng Thanh Hoá phát
triển mạnh mẽ hơn.
Các địa phơng khác ngoài địa bàn ba tỉnh Hoà - Ninh - Thanh gồm: Hà
Nội, Hà Đông, Hà Nam, Sơn Tây, Sơn La, Hải Dơng. (Chiến khu là nơi Xứ uỷ
mở các lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ lãnh đạo Đảng bộ các tỉnh nói trên).
4 3.3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm thực hiện mục đích:
- Dựng lại bức tranh toàn cảnh về "Chiến khu Quang Trung trong Cao trào
kháng Nhật cứu nớc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945".
- Nêu rõ đặc điểm và vai trò lịch sử của chiến khu Quang Trung, làm sáng tỏ
nét đặc sắc của nó trong quá trình hình thành, hoạt động trên địa bàn chiến khu.
- Rút ra những nhận xét, đánh giá đúng mức về giá trị lịch sử to lớn của

- Một số công trình chuyên sâu đã công bố, giúp chúng tôi khảo sát, học tập.
- Một số t liệu ở các Bảo tàng cách mạng ở Việt Nam, Bảo tàng Hòa Bình,
Bảo tàng Ninh Bình, Bảo tàng Thanh Hóa, Bảo tàng chiến khu Quỳnh Lu.
- Tài liệu lu trữ của các cấp chính quyền Pháp - Nhật và tay sai, hiện
đang lu tại Trung tâm lu trữ Quốc gia I - Hà Nội. Đây là những tài liệu gốc
quan trọng, phản ánh về chính sách thống trị, kiểm soát của địch đối với nhân
dân ba tỉnh Hòa - Ninh - Thanh.
- Các tài liệu lịch sử, nghiên cứu lịch sử phản ánh về thời kỳ cách mạng
1939 - 1945, do nhiều cơ quan nghiên cứu xuất bản nh: Viện lịch sử Đảng,
Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện sử học, Viện Lịch sử Quân sự
Việt Nam v.v
- Các cuốn hồi ký cách mạng. Đây là những tài liệu cung cấp nhiều nội
dung, sự kiện về chiến khu Quang Trung. Song đòi hỏi phải đối chiếu so sánh
với nhiều tài liệu khác nhau, thẩm định, xác minh các sự kiện lịch sử, để đảm
bảo tính chân thực của sự kiện.
- Các tài liệu điền dã và lời tự thuật của các nhân chứng lịch sử.
- Một số tài liệu nớc ngoài viết về Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở
Việt Nam.
4.2. Phơng pháp nghiên cứu
- Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phơng pháp sau:
- Dựa vào phơng pháp luận sử học Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh
để nghiên cứu đề tài.
- Sử dụng phơng pháp lịch sử kết hợp với phơng pháp logic, trong đó
phơng pháp lịch sử là chủ yếu.
- Tiến hành các phơng pháp đối chiếu, so sánh để xác minh nội dung, sự
kiện và làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng của luận án.
6- Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện phơng pháp điền dã ở một số nơi trên


Chơng 1
Quá trình thnh lập chiến khu Quang Trung

1.1. Vị thế chiến lợc và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại
xâm của nhân dân ba tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.
1.1.1. Vị thế chiến lợc
Chiến khu Quang Trung thành lập, hoạt động trên địa bàn ba tỉnh Hòa
Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.
Diện tích tự nhiên của địa bàn này là: 16.460km
2
. Dân số: 1.589.415 ngời,
bao gồm nhiều dân tộc Kinh, Mờng, Dao, Thái, Tày, Mông và ngời Hoa.
Đây là địa bàn rộng lớn nằm ở Nam Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Phía tây bắc
giáp Sơn La; phía bắc giáp Phú Thọ, Sơn Tây; phía đông bắc giáp Hà Đông, Hà
Nam; phía đông giáp biển Đông; phía tây nam giáp Nghệ An; phía tây giáp tỉnh
Sầm Na của nớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Địa hình ở đây đa dạng, phong phú. Rừng núi chiếm phần lớn đất đai.
Nhiều hang động. Lắm sông ngòi, có nhiều con sông lớn nh sông Đà, sông
Bôi, sông Đáy, sông Mã, sông Chu v.v Tuyến đờng sắt Bắc - Nam chạy
qua địa bàn 115km. Quốc lộ có đờng số 1, đờng số 6, đờng 10, đờng
12A, đờng 12B, đờng 15, đờng 21, đờng 45, đờng 59 Bờ biển Ninh
Bình, Thanh Hóa dài 120km, có nhiều cửa sông, cửa lạch, thuận lợi cho
thuyền bè ra vào.
Với điều kiện tự nhiên nói trên địa bàn Hòa - Ninh - Thanh có địa thế
hiểm yếu, cơ động, có vị trí chiến lợc quan trọng đối với cả nớc; đảm bảo yếu
tố "địa lợi", "tiến có thể đánh, lui có thể giữ"; xây dựng lực lợng, tiến hành
chiến tranh du kích. Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng nơi đây
thành chiến khu cách mạng.
1.1.2. Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ba

- Những bài viết về chiến tranh du kích của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc khi
mới về nớc ở Cao Bằng đầu năm 1941.
- Chủ trơng chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang của Đảng thông qua Nghị quyết Hội
nghị Trung ơng lần thứ 6,7,8.
- Hàng loạt các văn kiện của Đảng, Mặt trận Việt Minh (cuối 1941 - đầu
1945), chỉ đạo về xây dựng lực lợng vũ trang, mua sắm vũ khí, huấn luyện
quân sự có tác dụng vạch ra nội dung hoạt động cụ thể của chiến khu.
9- Bản chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta"
(12/3/1945), đã chính thức đề ra chủ trơng thành lập chiến khu.
- Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (20/4/1945),
đã cụ thể hóa chủ trơng của Đảng về vấn đề chiến khu.
1.2.2. Hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang tạo cơ sở để xây dựng
chiến khu của ba tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa (9/1939 - 2/1945).
Bớc vào công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Đảng ta
sớm quan tâm đến địa bàn rừng núi ba tỉnh Hòa - Ninh - Thanh nhằm xây dựng
nơi đây thành các khu căn cứ, tiến hành chiến tranh du kích, chuẩn bị khởi
nghĩa giành chính quyền.
Thực hiện chủ trơng này, Xứ ủy Bắc Kỳ liên tục cử cán bộ về chỉ đạo
phong trào cách mạng Ninh Bình, gây dựng phong trào cách mạng Hòa Bình. ở
Thanh Hóa, Xứ ủy Trung Kỳ cũng cử cán bộ về tổ chức khôi phục các tổ chức
Đảng ở đây.
Trên cơ sở đó, tổ chức Đảng ở ba tỉnh đợc khôi phục, hoạt động. Mặt
trận Việt Minh đẩy mạnh hoạt động lôi cuốn đông đảo nhân dân gia nhập các tổ
chức cứu quốc và tự vệ cứu quốc.
Đặc biệt, Tỉnh ủy Thanh Hoá quyết định xây dựng chiến khu Ngọc Trạo
(19/9/1941), thu hút nhiều thanh niên khắp nơi tham gia. Do cha có kinh
nghiệm xây dựng lực lợng vũ trang tập trung, chiến khu Ngọc Trạo bị lộ, địch

Phố Vãng, Suối Rút, dọc đờng 12A. Ngày 15/3/1945, Ban chỉ huy khu căn cứ
Quỳnh Lu phát động nhân dân nổi dậy phá hàng chục kho thóc của Nhật chia cho
dân. Khí thế đấu tranh diễn ra sôi sục, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia hàng
ngũ Việt Minh. Phong trào xây dựng các khu căn cứ và lực lợng vũ trang diễn ra
sôi nổi ở các phủ, huyện Hoằng Hóa, Yên Định, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Thạch
Thành, Hà Trung.
1.3. Chiến khu Quang Trung thành lập (20/5/1945)
Bớc sang tháng 4/1945, tình hình thế giới và trong nớc biến chuyển to
lớn có lợi cho phe Đồng minh. Phe phát xít có nguy cơ bị tiêu diệt. Thời cơ
cách mạng đang đến gần. Tình thế lúc này phải đa nhiệm vụ quân sự lên hàng
đầu chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa.
Trớc tình hình đó, Đảng ta triệu Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ
(15-20/4/1945) tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) nhằm chuẩn bị về mặt quân sự cho
11cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Để chuẩn bị bàn đạp cho cuộc Tổng
khởi nghĩa ở các vị trí chiến lợc quan trọng, Hội nghị quyết định thành lập 7
chiến khu lớn trong cả nớc, trong đó có chiến khu Quang Trung.
Ngày 20/5/1945, chiến khu Quang Trung chính thức thành lập tại thôn Sầy,
tổng Vân Trình (Gia Viễn, Ninh Bình). Ban chỉ đạo chiến khu tức ủy ban quân sự
cách mạng chiến khu đợc thành lập gồm 5 đồng chí: Văn Tiến Dũng, ủy viên
thờng trực ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ; Trần Tử Bình, Thờng vụ Xứ ủy
Bắc Kỳ; Nguyễn Văn Mộc, Bí th Tỉnh ủy Ninh Bình; Phan Lang, Bí th Ban cán
sự Đảng Hòa Bình; Lê Chủ, Thờng vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa. Đồng chí Trần Tử
Bình là Bí th chiến khu. Đồng chí Văn Tiến Dũng là Chủ tịch UBQSCM chiến
khu, tức T lệnh chiến khu.
Hội nghị đề ra nhiệm vụ: Tổ chức xây dựng lực lợng vũ trang ở ba tỉnh,
lập Trung đội giải phóng quân chủ lực của chiến khu, xây dựng các khu căn cứ,
huấn luyện quân sự, mua sắm vũ khí.v.v Lấy Quỳnh Lu làm Trung tâm chiến

Đây là nhiệm vụ quan trọng của chiến khu, nhằm tạo ra chỗ đứng chân
cho lực lợng vũ trang tập trung ra đời, hoạt động.
Thông qua việc tuyên truyền, giáo dục nhân dân, mở rộng ảnh hởng của
Mặt trận Việt Minh, tập hợp nhân dân trong các tổ chức cứu quốc, tạo điều kiện
để xây dựng khu căn cứ.
Việc xây dựng các khu căn cứ ở Hòa Bình gặp nhiều khó khăn do chế độ
thổ ty, lang đạo nghiệt ngã. Vì vậy cán bộ cách mạng phải kiên trì, thuyết phục
tầng lớp thổ ty, lang đạo ngả theo cách mạng, tạo điều kiện đi vào nông thôn vận
động nhân dân xây dựng các khu căn cứ.
Với tinh thần nỗ lực, khẩn trơng, Ban chỉ đạo chiến khu đã xây dựng,
củng cố, phát triển đợc 6 khu căn cứ ở các vị trí chiến lợc quan trọng khác
nhau nh: Tu Lý - Hiền Lơng (Mai Đà), Diềm (Mai Đà), Cao Phong - Thạch
Yên (Kỳ Sơn), Mờng Khói (Lạc Sơn) thuộc Hoà Bình; Quỳnh Lu (Nho Quan)
thuộc Ninh Bình; Ngọc Trạo (Thạch Thành) thuộc Thanh Hoá. Trong đó, khu
căn cứ cách mạng Quỳnh Lu là Trung tâm của chiến khu.
Các khu căn cứ nói trên, nối tiếp nhau chạy dài theo hớng Tây Bắc -
Đông Nam, từ Hoà Bình, xuống Ninh Bình, vào Thanh Hoá.
Từ những khu căn cứ này, các Trung đội, Đại đội tự vệ chiến đấu tập
trung, thoát ly từng bớc ra đời hoạt động, tạo điều kiện mở rộng khu căn cứ,
phát triển lực lợng nửa vũ trang.
132.1.3. Xây dựng lực lợng vũ trang
Nhiệm vụ chủ yếu của chiến khu là xây dựng lực lợng vũ trang, chuẩn bị
về mặt quân sự cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
Trên cơ sở lực lợng chính trị đợc xây dựng vững chắc, Ban chỉ đạo chiến
khu chú trọng xây dựng lực lợng vũ trang. Tại các khu căn cứ, các Trung đội, Đại
đội tự vệ chiến đấu tập trung đợc thành lập. Mỗi Trung đội biên chế từ 30 - 40
chiến sĩ, đợc trang bị vũ khí, thờng xuyên luyện tập quân sự. Bên cạnh đó việc

Khi lực lợng cách mạng đợc xây dựng vững chắc ở các khu căn cứ, yêu
cầu đặt ra lúc này là phải đa nhân dân tiến lên thành lập các Uỷ ban dân tộc
giải phóng, xác lập quyền làm chủ của nhân dân, tập dợt nhân dân giành và giữ
chính quyền.
Trên cơ sở đó, ủy ban dân tộc giải phóng các cấp lần lợt ra đời ở khu
căn cứ Quỳnh Lu và nhiều xã thuộc hai huyện Gia Viễn, Gia Khánh; các xã
Đức Nhân và Quy Đức thuộc khu căn cứ Diềm (Mai Đà). Đặc biệt, tháng
7/1945, ủy ban dân tộc giải phóng tỉnh Hòa Bình thành lập. Quần chúng cách
mạng đã làm chủ nhiều vùng nông thôn rộng lớn.
Việc thành lập ủy ban dân tộc giải phóng các cấp ở chiến khu vừa mang tính
chất Mặt trận, vừa có ý nghĩa tiền chính phủ, đã xác lập quyền làm chủ của nhân
dân, thúc đẩy hơn nữa công cuộc chuẩn bị lực lợng cách mạng, tập dợt quần
chúng nhân dân đứng lên giành và giữ chính quyền.
2.2. Đấu tranh bảo vệ chiến khu
2.2.1. Đấu tranh bảo mật, phòng gian, trừng trị bọn tay sai.
Khi phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ ngày càng lên
cao, thì kẻ thù càng tức tối dùng mọi thủ đoạn khủng bố, đàn áp cách mạng. Mũi
nhọn tiến công của chúng là nhằm vào cán bộ Đảng viên và các cơ sở cách mạng.
Ban chỉ đạo chiến khu đã chỉ đạo các địa phơng, các khu căn cứ, chú trọng
giáo dục nhân dân, nâng cao ý thức cảnh giác, bảo mật, phòng gian, chống mọi
âm mu thâm độc của kẻ thù, tổ chức tuần tra canh gác, giám sát bọn chỉ điểm,
bảo vệ cơ sở Đảng và cán bộ cách mạng, nhất là ở Trung tâm chiến khu.
15Khi địch đến đàn áp, Ban chỉ huy khu căn cứ Diềm (Mai Đà), đã triệt để
phân tán lực lợng du kích nhằm bảo toàn lực lợng (20/7/1945). Cơ quan in
báo "Khởi nghĩa" của chiến khu cũng kịp thời di chuyển đến địa điểm khác để
tránh né địch lùng sục. Đồng thời, rút kinh nghiệm sau các vụ khủng bố của
địch, cho nên việc đi lại, thông tin tiến hành bí mật, chặt chẽ hơn.

trên địa bàn chiến khu.
Trung đội giải phóng quân đợc giao nhiệm vụ tham gia giành chính
quyền ở Nình Bình.
2.3.1. Trung đội giải phóng quân và lực lợng tự vệ tiên phong, xung
kích trong khởi nghĩa giành chính quyền ở Ninh Bình
Nhận đợc lệnh khởi nghĩa, Ban chỉ đạo chiến khu đã ra lệnh cho Trung đội
giải phóng quân từ khu căn cứ Quỳnh Lu hành quân vợt sông nớc đánh
chiếm huyện lỵ Gia Viễn (19/8/1945), mở đầu cho cuộc khởi nghĩa của cả tỉnh.
Ngày 20/8/1945, Trung đội giải phóng quân tiến lên giành chính quyền ở
phủ lỵ Nho Quan. Trong khi đó, đại bộ phận Trung đội giải phóng quân từ khu
căn cứ Quỳnh Lu, chia hai mũi tấn công, phối hợp với hàng vạn quần chúng
biểu tình vũ trang từ động Thiên Tôn kéo xuống giành chính quyền ở huyện lỵ
Gia Khánh, tỉnh lỵ Ninh Bình và huyện lỵ Yên Mô (20/8/1945).
Ngày 25/8/1945, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Ninh Bình thành
lập do đồng chí Văn Tiến Dũng làm Chủ tịch.
2.3.2. Lực lợng vũ trang từ các khu căn cứ kéo về giành chính quyền ở
các châu lỵ và tỉnh lỵ Hòa Bình
Ngày 18/8/1945, lệnh khởi nghĩa đợc truyền đến khu căn cứ Cao Phong -
Thạch Yên. ủy ban khởi nghĩa do đồng chí Vũ Thơ làm Chủ tịch, đề ra kế
hoạch huy động lực lợng vũ trang từ các khu căn cứ kéo về giành chính quyền
ở tỉnh lỵ.
Thực hiện kế hoạch trên, lực lợng vũ trang ở khu căn cứ Mờng Khói
(Lạc Sơn) đợc lệnh tiến quân ra Vụ Bản giành chính quyền ở châu lỵ Lạc Sơn,
sau đó hành quân cấp tốc lên thị xã (56km) phối hợp với lực lợng vũ trang của
khu căn cứ Cao Phong - Thạch Yên (Kỳ Sơn) kéo ra và lực lợng vũ trang từ khu
căn cứ Tu Lý - Hiền Lơng (Mai Đà) kéo về giành chính quyền ở tỉnh lỵ Hòa
17Bình. Chiều 23/8/1945,

chiến khu ở trên địa bàn có một vị trí chiến lợc khác nhau, riêng chiến khu
18Quang Trung đợc xây dựng trên địa bàn ba tỉnh Hoà - Ninh Thanh. Đó là địa
bàn có vị trí chiến lợc rất quan trọng.
Chiến khu Quang Trung nằm trên khu vực Nam Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ,
chiếm một phần lãnh thổ rộng lớn của đất nớc, là nơi thu hẹp nhất của Bắc Kỳ
nối với với Trung Kỳ, án ngữ tất cả các con đờng từ Bắc vào Nam. Tại vị trí này,
điều kiện tự nhiên đã chi phối tác động làm cho địa hình nơi đây càng thêm phức
tạp, hiểm yếu. Rừng núi chiếm phần lớn đất đai. Núi đá đan giăng khắp nơi. Đặc
biệt, dãy núi Tam Điệp chạy dài theo hớng Tây Bắc - Đông Nam,chắn ngang
lãnh thổ đất nớc ở phía bắc Thanh Hoá và phía tây nam Hoà Bình, Ninh Bình.
Mặt khác, đây là địa bàn có vị trí chiến lợc cơ động rất cao. Từ vị trí này
có thể tiến lên các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Hà Nội, hoặc xuống đồng bằng Bắc
Bộ, hoặc sang nớc Lào, hoặc ra biển Đông, hoặc vào các tỉnh Trung, Nam Kỳ.
Chiến khu Quang Trung có tầm quan trọng đặc biệt, không những xác lập
thế trận cách mạng ở khu vực Nam Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, cắt đôi thế chiến
lợc của địch, chặn đứng con đờng Bắc - Nam, uy hiếp địch ở đồng bằng Bắc
Bộ mà còn tạo ra bàn đạp đánh thông giữa các chiến khu Bắc Kỳ với Trung, Nam
Kỳ, góp phần thúc đẩy cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nớc thắng lợi.
Việc thành lập chiến khu Quang Trung đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc
của Đảng ta đối với địa bàn quan trọng của Hòa - Ninh - Thanh trong chiến
lợc cách mạng chung của cả nớc.
3.1.2. Các khu căn cứ đợc xây dựng thành một hệ thống liên hoàn chạy
suốt chiều dài chiến khu
Để xây dựng các khu căn cứ, Ban chỉ đạo chiến khu đã khai thác những khu
vực có vị trí chiến lợc quan trọng, đảm bảo mọi yếu tố về địa thế, kinh tế, dân c,
thuận lợi cho việc xây dựng lực lợng vũ trang tập trung, tạo ra bàn đạp cho cuộc khởi
nghĩa giành chính quyền ở các địa phơng.

mạng Bắc Kỳ, thì Xứ ủy cử đồng chí Trần Quý Kiên, Thờng vụ Xứ ủy về thay
20đồng chí Văn Tiến Dũng, làm T lệnh chiến khu. Hầu hết cán bộ tham gia xây
dựng chiến khu Quang Trung đều là cán bộ của Xứ ủy điều động nh: Nguyễn
Văn Mộc, Phan Lang, Vũ Thơ, Vũ Đình Bản, Trơng Đình Dần, Bình Huấn, Bình
Phơng v.v
Xứ ủy còn tổ chức nhiều lớp huấn luyện quân sự trên địa bàn chiến khu,
đào tạo cán bộ chính trị, quân sự cho Xứ ủy, cho các tỉnh Bắc Kỳ, đặc biệt cho
chiến khu Quang Trung.
Khi thời cơ đến, Xứ ủy cử đồng chí Trần Tử Bình, Thờng vụ Xứ ủy, Bí th
chiến khu Quang Trung, đem lệnh khởi nghĩa của Đảng từ Vạn Phúc (Hà Đông)
về Trung tâm chiến khu, đồng thời tổ chức chỉ đạo khởi nghĩa ở chiến khu.
Có thể nói, thành công của chiến khu Quang Trung chính là thành công
của Xứ ủy Bắc Kỳ.
3.2. Vai trò lịch sử của chiến khu
3.2.1. Tạo ra chỗ đứng chân cho lực lợng vũ trang ra đời, hoạt động
chuẩn bị về quân sự cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở ba tỉnh Hòa -
Ninh - Thanh
Chiến khu Quang Trung ra đời, hoạt động (5/1945 - 8/1945) đã tạo ra một
bớc đột phá về vấn đề xây dựng lực lợng cách mạng trên địa bàn chiến khu,
nhất là về lực lợng vũ trang. Ban chỉ đạo chiến khu đợc thành lập. Mỗi tỉnh
cũng thành lập một ủy ban quân sự cách mạng để chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của
chiến khu. Dới các phủ, huyện, châu thì thành lập Ban chỉ huy các khu căn cứ.
Còn các tổng, xã, làng có Ban chỉ huy Đội tự vệ cứu quốc. Hệ thống tổ chức chỉ
đạo về chính trị, quân sự đợc thiết lập từ chiến khu xuống cơ sở.
Trên cơ sở đó, công tác xây dựng các khu căn cứ, lực lợng vũ trang tập
trung, lực lợng nửa vũ trang, huấn luyện quân sự, mua sắm vũ khí đợc tiến
hành sôi nổi, mạnh mẽ, tạo ra phong trào quân sự hóa toàn dân.

Đặc biệt, lực lợng vũ trang chiến khu ở Mai Đà (Hoà Bình) thực hiện
22mệnh lệnh của Xứ uỷ Bắc Kỳ, tiến lên Sơn La giúp tỉnh bạn giành chính quyền
ở Mộc Châu.
Chiến khu Quang Trung không những hoàn thành xuất sắc vai trò, nhiệm vụ
của mình mà còn có vai trò tác dụng đối với các địa phơng khác ngoài phạm vi chiến
khu, mở rộng ảnh hởng ra ngoài chiến khu, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc
Tổng khởi nghĩa.
3.2.3. Động viên, cổ vũ mạnh mẽ cán bộ và nhân dân ba tỉnh Hòa - Ninh
- Thanh đứng lên đấu tranh giành chính quyền.
Chiến khu Quang Trung ra đời, hoạt động xây dựng đội quân cách mạng
đánh Nhật, trừ gian, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, đã
đáp ứng yêu cầu nguyện vọng tha thiết của nhân dân ba tỉnh Hòa - Ninh - Thanh.
Hớng về chiến khu, cán bộ và nhân dân Hòa - Ninh - Thanh đặt bao niềm
tin tởng vào thắng lợi của cách mạng. Hai tiếng "chiến khu" đã trở thành biểu
tợng của cách mạng, là ngọn cờ hiệu triệu thu hút lòng ngời, động viên cổ vũ
mạnh mẽ cán bộ và nhân dân Hòa - Ninh - Thanh, bất chấp mọi khó khăn, gian
khổ, hy sinh, đóng góp nhiều công sức, tài sản và tính mạng cho công cuộc giải
phóng dân tộc.
Thành công của chiến khu Quang Trung là niềm tự hào sâu sắc của cán bộ
và nhân dân ba tỉnh Hòa - Ninh - Thanh, bởi vì chính họ là những ngời đã làm
nên lịch sử vẻ vang của chiến khu cách mạng. 23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status