ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÀNH ĐỊA LÝ KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG
BÀI TẬP CỘNG ĐIỂM
MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
GVHD: TH.S. Ngô Văn Phong
SVTH: Huỳnh Thị Kiên
MSSV: 1056010079
TPHCM, Ngày 21 Tháng 05 Năm 2013
Đề
- Phân loại bán phá giá
- Các biện pháp chống phá giá
- Các vụ kiện bán phá giá trên thế giới và ở Việt Nam.
Bài làm
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổ
chức kinh tế quốc tế là xu thế không thể đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quá trình
phát triển kinh tế của mình.
Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã
đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá. Trong khi
những mặt hàng xuất khẩu của Việt nam ngày càng có uy tín trên thị trường thế giới đã
xuất hiện một số trường hợp hàng xuất khẩu của nước ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp
dụng thuế chống bán phá giá để tạo ra hàng rào bảo hộ, ngăn cản hàng hoá của ta không
cho xuất khẩu vào thị trường của nước họ. Việt nam tham gia vào ASEAN, APEC , WTO
đồng nghĩa với sự thay đổi sâu sắc các chính sách thương mại liên quan tới việc mở cửa
thị trường.
Hiện tượng bán phá giá hàng nước ngoài chắc chắn sẽ ngày càng tăng trên thị
trường nước ta, có thể gây ra những tổn thất lớn cho các nhà sản xuất tương tự trong
nước do hàng rào bảo hộ bằng các biện pháp hạn chế định lượng có thể biến mất, đồng
thời thuế suất thuế nhập khẩu cũng giảm xuống. Đứng trước thực tế đó, đòi hỏi chúng ta
- Phá giá về giá: Là hành vi được quy định trong điều VI của Hiệp định GATT
(“sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh trên thị trường của một nước khác
với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm”).
- Phá giá dịch vụ: Là hành vi tạo ra lợi thế về giá do có phá giá cung cấp dịch vụ
vận tải biển.
- Phá giá hối đoái: Là hành vi dựa trên cơ sở khống chế tỷ giá hối đoái để đạt được
lợi thế cạnh tranh.
- Phá giá xã hội: Là hành vi xuất phát từ việc nhập khẩu hàng hoá với giá thấp do tù
nhân hay lao động khổ sai sản xuất.
căn cứ theo mục đích và biểu hiện cũng có thể phân thành 3 loại bán phá giá:
- Bán phá giá dai dẳng, thì hàng hóa liên tục được bán với một giá thấp hơn so với giá
cả trong nước nhập khẩu. Tình trạng này là tình trạng mà trong đó hàng hóa đơn giản là
hàng nhập khẩu khác được bán dưới những điều kiện tối đa hóa lợi nhuận. Bất kỳ hàng
rào thương mại nào cũng sẽ dẫn đến một giá cả cao hơn đối với người tiêu dùng trong
nước nhập khẩu và ảnh hưởng của phúc lợi của chúng
- Bán phá giá thường xuyên: một xí nghiệp nước ngoài sẽ bán tại giá cả thấp cho đến khi
những nhà sản xuất trong nước bị loại ra khỏi thị trường; lúc đó giá cả sẽ gia tăng bởi sự độc quyền
xuất hiện. Những nhà sản xuất trong nước lúc đó có thể được lôi kéo trở lại thị trường cho đến
khi giá cả giảm xuống trở lại. Có một tranh luận có giá trị cho việc bảo hộ với việc bán phá
giá thường xuyên do việc di chuyển nguồn lực lãng phí. Khi những nhân tố sản xuất di chuyển vào
và ra một ngành bởi ảnh hưởng của giá cả nhập khẩu thì chi phí và và sự lãng phí đổ dồn cho xã hội.
- Bán phá giá không thường xuyên sẽ xuất hiện khi nhà sản xuất nước ngoài (hoặc chính
phủ) với một thặng dư sản phẩm tạm thời xuất khẩu số này tại bất cứ giá nào mà nó cần.
Việc bán phá giá theo kiểu này có thể có những ảnh hưởng xấu tạm thời đến việc cạnh
tranh với những nhà cung cấp trong nước chủ nhà bởi việc làm gia tăng rủi ro trong hoạt
động của ngành. Những rủi ro này cũng như sự mất mát phúc lợi từ việc di chuyển nguồn
lực tạm thời có thể được tránh khỏi bởi việc đưa ra chính sách bảo hộ, mặc dù những ảnh
hưởng phúc lợi khác có thể được đưa vào trong phân tích khi xem xét những hạn chế
thương mại. Tuy nhiên, việc bán phá giá thường xuyên dường như không biện hộ được
việc bảo hộ trong ngắn hạn.
- Dưới góc độ của nước xuất khẩu, bán phá giá tạo điều kiện cho nhà sản xuất có
điều kiện phát huy tối đa năng lực sản xuất, khả năng tăng lợi nhuận và thâm nhập thị
trường mới;
- Khi bán phá giá, các doanh nghiệp thực hiện bán phá giá có khả năng đánh bại
đối thủ, loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài. Và tùy
thuộc vào khả năng cạnh tranh và mức độ phá giá, có thể trở thành doanh nghiệp độc
quyền, độc quyền nhóm, qua đó tận dụng lợi thế của doanh nghiệp độc quyền để tăng lợi
nhuận;
- Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có mức tồn kho lớn, để giải phóng hàng
tồn kho, doanh nghiệp có thể bán phá giá để giải phóng hàng tồn kho hoặc trong trường
hợp khan hiếm ngoại tệ hoặc tìm kiếm ngoại tệ trong trường hợp khẩn cấp, doanh nghiệp
có thể thực hiện bán phá giá.
Nhìn chung, các chuyên gia kinh tế đều nhìn nhận rằng bán phá giá là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong quan hệ kinh doanh quốc tế. Mặc dù người tiêu dùng sẽ
được hưởng lợi vì được mua hàng hóa với mức giá rẻ hơn mức giá thông thường, nhưng
bán phá giá có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của
nước nhập khẩu. Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tìm mọi cách, mà
trước tiên là bằng việc thỏa thuận thông qua các điều ước quốc tế và xây dựng pháp luật
quốc gia, để chống lại hành vi bán phá giá, nhằm bảo vệ thị trường và nền sản xuất trong
nước của mình.
Trên thế giới và ở nước ta thực tiễn đã có nhiều vụ kiện bán phá giá và điển hình trong số
đó có thể nói như : Vụ kiện chống bán phá giá cá Tra và cá Basa của Việt Nam trên thị
trường Hoa Kỳ.
Có thể nói Hoa Kỳ là một thị trường rộng lớn, có tiềm năng khoa học kỹ thuật và
công nghệ vào loại bậc nhất trên thế giới, hơn nữa, đồng thời cũng là đối tác quan trọng
có khả năng giúp Việt Nam đạt được mục tiêu hội nhập kinh tế thế giới của mình. Đặc
biệt là sau khi Hiệp định thương mại song phương được ký kết đã mở ra một viễn cảnh
tươi sáng cho nền thương mại của hai nước.Trong nhiều năm gần đây, cá basa và cá tra
Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ dưới dạng phi lê đông lạnh đã góp phần
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá của người dân Hoa Kỳ đồng thời thúc đẩy được nghề nuôi
đã phê chuẩn một đạo luật cấm Việt Nam sử dụng tên “catfish” cho các sản phẩm cá xuất
khẩu của mình.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta cùng tìm hiểu tên gọi Catfish. Catfish là tên
tiếng Anh chỉ tất cả các loài cá da trơn (không có vảy), gồm cá trê, cá nheo, cá tra, basa,
cá bông lau, cá lăng…theo hệ thống phân loại ngư loại học. Tất cả các loài cá nói trên
đều thuộc bộ cá nheo (Siluriformes), gồm khoảng 2. 500-3. 000 loài cá khác nhau, phân
bổ trong các thuỷ vực nước ngọt, mặn, lợ trên khắp thế giới. Các loài cá này được xếp
vào các họ cá khác nhau, trong đó có họ cá nheo Hoa (Pangasiidae). Cá tra, cá basa của
Việt Nam là các loài cá đặc hữu của vùng châu thổ sông Mờkụng thuộc giống Pangasius,
họ Pangasidae, bộ Slurifornes. Về mặt khoa học và tập quán thương mại, không thể lấy
tên một nhóm sản phẩm lớn của thuỷ sản thế giới để dành riêng cho một loài nào trong số
đó. Trên tất cả các bao bì của sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đều ghi rõ dòng
chữ tiếng Anh " sản phẩm của Việt Nam" hoặc " sản xuất tại Việt Nam", và thực hiện việc
ghi đầy đủ cả tên khoa học lẫn tên thương mại theo đúng quy định của cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền của mỹ là Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) đối với
sản phẩm xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ. Vậy CFA đã dùng những lý do gì để chống
lại việc nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam vào Hoa Kỳ?
Luận điểm chính của CFA để chống việc nhập khẩu cá tra và basa Việt Nam vào
Hoa Kỳ đó là:
• Sự xuất hiện của sản phẩm cá da trơn giá rẻ từ Việt Nam đã khiến tổng
trị giá catfish bán ra của các nhà nông nghiệp Hoa Kỳ giảm mạnh từ 446
triệu USD năm 2000 xuống còn 385 triệu USD năm 2001. Sản phẩm của
Việt Nam thường có giá rẻ hơn từ 0, 008 đến 1 USD/ pound (1 pound
tương đương khoảng 0,454kg).
• CFA cho rằng cá da trơn Việt Nam đã nhập khẩu ồ ạt vào Hoa Kỳ, làm
cho giá cá của Hoa Kỳ cũng giảm theo.
• Thêm nữa, họ nói rằng cá Việt Nam nuôi trong môi trường nước bị ô
nhiễm, không đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm cho người tiêu
dùng. Phía CFA yêu cầu sản phẩm cá da trơn không được gọi là catfish,
vì như vậy là vô hình chung ăn theo uy tín của cá nheo Hoa Kỳ, cái uy
Navifishco 53,96% 38,09%
Các công ty khác có tham
gia vụ kiện
49,16% 36,76%
Các công ty không tham
gia vụ kiện
63, 88 % 63,88%
Nguồn: Vnexpress ngày 1/3/2003 Bài DOC sửa mức thuế phá giá đối với cá
basa của Việt Nam
Đây được coi là hành động sửa sai của DOC sau khi Việt Nam chỉ ra rõ những
thiếu sót trong cách tính toán của họ. Song phương pháp tính toán của DOC vẫn không
xem xét đến bản chất quy trình sản xuất khép kín của công nghiệp sản xuất cá tra và cá
basa Việt Nam cũng như số liệu về các yếu tố sản xuất thực tế mà phía Việt Nam cung
cấp, do vậy mà VASEP vẫn tiếp tục đề nghị DOC phải thay đổi hoàn toàn quyết định sơ
bộ của mình.
Ngày 17/3/2003, DOC trực tiếp điều tra thực trạng nuôi cá basa tại Việt Nam và đề
nghị Việt Nam thảo luận về thoả thuận đình chỉ vụ kiện và thay bằng việc áp dụng hạn
ngạch và giá xuất khẩu đối với việc xuất khẩu mặt hàng này .Dù đã nhiều lần khẳng định
không bán phá giá các sản phẩm này, phía Việt Nam vẫn chấp nhận đền ghị đàm phán và
cử chuyên gia các Bộ Thương mại, Bộ Thuỷ sản, Bộ Ngoại giao,Bộ Tư pháp vàVăn
phòng chính phủ sang Washington để thương thảo.
Ngày 20/5/2003, Thoả thuận về đình chỉ vụ kiện bị đổ vỡ.
Ngày 14/6/2003, VASEP sang Washington dự phiên điều trần cuối cùng (ngày
17/6/2003) trước Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), cơ quan trọng tài của vụ
kiện.
Ngày 02/09/2005 : DOC có quyết định sơ bộ về việc giảm mức thuế chống bán phá giá
trongxem xét hành chính năm đầu tiên cho hai trong số các doanh nghiệp ViệtNam bị áp
thuế bán phá giá cá basa vào Hoa Kỳ:
- Công ty Nông súc sản xuất nhập khẩu Cần Thơ (CATACO) được giảm thuế
xuống còn 38,8%;
đồ trốn thuếchống bán phá giá đối với cá tra, cá basa từ Việt Nam.
Trong quyết định sơ bộ của DOC, DOC yêu cầu đình chỉ việc Lian Heng bán sản
phẩm vào thị trường Hoa Kỳ và yêu cầu Lian Heng nộp tiền đặt cọc theo mức thuế chống
bán phá giá áp dụng chung cho các doanh nghiệpViệt Nam (Vietnam - wide rate) là
63,88% đối với tất cả các lô hàng nhậpvào thị trường Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ
22/ 10/ 2004 đến 15/ 07/ 2005 nhưng chưa được bán của Lian Heng. Đối với tất cả các lô
hàng cá tra, cá basa đông lạnh do Lian Heng sản xuất vào16/07/2005,Hải quan Mỹ sẽ
xem xét giấy phép chứng minh việc LianHeng không sử dụng nguyên liệu cá tra, cá basa
trong việc quá trình sản xuất cá đông lạnh của mình. Bất kỳ lô hàng nào không có giấy
chứng nhận này sẽ phải đóng khoản tiền đặt cọc theo mức thuế chống bán phá giá toàn
quốc(63,88%).
22/ 02/ 2006 DOC công bố trên Sổ sách Liên bang quyết định về việc thẩm tra phạm vi
và mưu đồ liên đới nhằm trốn tránh thuế chống phá giá.DOC sẽ kéo dài thời gian đưa ra
quyết định cuối cùng về việc thẩm tra phạm vi và mưu đồ liên đới nhằm trốn tránh thuế
chống phá giá đến ngày 01/06/2006.
08/05/2006 Bồi thẩm đoàn (Grant Jury) của quận phía bắc bang Florida, Hoa Kỳ
đãđưa ra một bản cáo trạng gồm 42 điểm cáo buộc hai nhà nhập khẩu hảisản của Thành
phố Panama và bang Florida, và các nhà nhập khẩu hảisản và giám đốc doanh nghiệp, và
một số nhà cung cấp cá tra Việt Namvề việc nhập khẩu cá tra dưới nhãn hiệu giả từ Việt
Nam vào Hoa Kỳ rồisau đó tiếp thị số cá này dưới tên khác (ví dụ như cá mú, cá vược
đượcđánh bắt trong tự nhiên) tại Hoa Kỳ và Canada.
Bản cáo trạng buộc tội các cá nhân và công ty sau đây:
1. DANNY D. NGUYEN, thành phố Panama, bang Florida.
2. PANHANDLE TRADING, INC. (PTI), 3014 East 1st Court, Panama, Florida
32401. Theo bản cáo trạng, DANNY D. NGUYEN đóng vai trò là phó chủ tịch PTI, và
PTI đã nhập khẩu cá và bán cá choPANHANDLE SEAFOOD, INC. để phân chia lợi
nhuận.
3.PANHANDLE TRADING, INC. (PTI), 3014 East 1st Court, Panama,Florida
32401. Theo bản cáo trạng, DANNY D. NGUYEN đóng vai trò là phó chủ tịch PSI, và
PSI mua cá fillờ đông lạnh từ các nhà xuất khẩuViệt Nam hoặc từ PTI và tiếp thị sản
Hoa Kỳ (DOC) mới đây đã công bố mức thuếmới cho giai đoạn từ 1/8/2005 đến
31/7/2006 đối với các DN Việt Nam.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam dẫn nguồn tin Intraffish. com
cho biết, trong phán quyết này, DOC áp mức thuế 14,59% cho Việt Nam một mức giá
cạnh tranh trên thị trường thế giới. Sự xuất hiện của cá tra Việt Nam tại 127 quốc gia
khắp hành tinh với tốc độ tăng dần hằng năm, đưa kim ngạch dự báo tới 1, 5 tỷ USD
trong năm 2010 là một thực tế cho thấy những ưu thế vượt trội của sản phẩm thủy sản
danh tiếng và an toàn này của Việt Nam. Như vậy, thật khó nói rằng DOC đã hành động
khách quan theo đúng tinh thần tự do thương mại mà nước Hoa Kỳ luôn tuyên bố là đang
khuyến khích và theo đuổi.
Ông B. Schoroth, đại diện một văn phòng luật sư tại Hoa Kỳ, chuyên tư vấn pháp
lý vụ kiện chống phá giá cá tra cho DN Việt Nam cũng khẳng định, việc điều chỉnh tăng
thuế phá giá lên hơn 100% là sự áp đặt vô lý từ phía DOC. Luật sư này bình luận, động
thái này mang tính chính trị nhiều hơn là xuất phát từ yếu tố cạnh tranh thương mại thuần
tuý. " Rõ ràng, tăng thuế là nhằm mục đích hạn chế xuất khẩu cá tra Việt Nam vào thị
trường Hoa Kỳ" - ông B. Schoroth nói.
Ảnh hưởng của vụ kiện đối với hai bên
Đối với Hoa Kỳ
Nước Hoa Kỳ luôn kêu gọi tự do hoá thương mại, phá bỏ mọi rào cản thương mại.
Tuy nhiên nhiều năm qua, trong các mối quan hệ thương mại song phương và đa phương,
Hoa Kỳ lại là nước có những hành động đi ngược lại tinh thần đó.
Thực chất mục tiêu mà chính phủ Hoa Kỳ hay đại diện thương mại của họ theo đuổi
trong đàm phán về tranh chấp thương mại là chính sách bảo hộ thương mại. Lý do của việc
này thường xuất phát từ việc mọi chính sách thương mại đem lợi ích cho một nhóm người
nhưng lại gây thiệt hại cho nhóm khác. Ví dụ nhập khẩu cá basa Việt Nam làm lợi cho người
tiêu dùng thu nhập thấp ở Hoa Kỳ nhưng lại có hại cho các chủ trại nuôi nheo Hoa Kỳ từ
400 đến 500 triệu USD hàng năm. Bởi vậy, quá trình ra quyết định về chính sách thương mại
và Phát triển nông thôn cũng đã gặp Đại sứ Hoa Kỳ để bày tỏ sự quan ngại. VASEP cũng
đã cử hai doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất đến Hoa Kỳ để cùng với luật sư bên
Hoa Kỳ bàn bạc kế hoạch triển khai vụ kiện.
600. 000 USD. Rất nhiều doanh nghiệp Việt nam phàn nàn về sự bất công trong vụ kiện.
Một điều rõ ràng là rất nhiều người, cả Việt nam và Hoa Kỳ, cho rằng phán quyết về vụ
cá da trơn là không công bằng, chỉ đem lại lợi ích cho một số công ty Hoa Kỳ và gây
thiệt hại cho những người nông dân nghèo vùng đồng bằng sông Cửu long. Tuy nhiên
việc tập trung vào khía cạnh công bằng hay không công bằng của vụ tranh chấp đòi hỏi
Việt nam phải xem xét một vấn đề lớn hơn, đó là: Liệu bằng cách nào Việt nam có thể đối
phó với những vụ kiện tương tự trong tương lai một cách hiệu quả nhất. Cần phải thừa
nhận một thực tế là sẽ tiếp tục có những vụ kiện chống bán phá giá và đây chưa phải là
vụ cuối cùng. Vụ kiện cá da trơn chỉ là một trong số 276 vụ kiện chống bán phá giá trên
toàn thế giới năm 2002.
Qua đây, điều quan trọng nhất mà Việt nam rút ra được, đó là chuẩn bị cho mình
một cách có hệ thống các biện pháp đối phó với các vụ kiện trong tương lai, cũng như
hiểu được tầm quan trọng của việc chúng ta đã trở thành thành viên WTO, bởi WTO đưa
ra một bộ quy tắc mà các nước nhập khẩu phải tuân thủ khi tiến hành các vụ kiện chống
bán giá- cơ chế minh bạch để chống lại các phán quyết về chống bán phá giá được đưa ra
không phù hợp với các quy tắc nêu trên. Trong vụ kiện cá da trơn, Việt nam không được
áp dụng bộ quy tắc này vì khi đó chưa là thành viên WTO. Nói cách khác, mặc dù cho
rằng phán quyết cuối cùng về chống bán phá giá của Mỹ đã vi phạm các nguyên tắc của
WTO, nhưng Việt nam cũng không thể khiếu nại phán quyết đó tại một hội đồng xét xử
của WTO.
CBPG được xem như một cái “van an toàn” để điều tiết hàng húa của từng quốc
gia trong nền kinh tế mở. Đối phó với những vụ kiện CBPG rất tốn thời gian, tiền của và
công sức. Do vậy, mỗi DN cần phải đa dạng húa sản phẩm, tìm kiếm nhiều thị trường
hơn, có chiến lược xây dựng thương hiệu một cách bài bản để đủ sức đương đầu với
những thương hiệu mạnh và xa hơn là đối phó với những vụ kiện CBPG có thể xảy ra.
Chúng ta có thể rút ra một số bài học sau qua vụ kiện:
+ Điều tiên quyết khi sản phẩm xuất sang một thị trường nào đó thì phải hiểu rõ
tập quán thương mại và luật pháp của nước đó.
+ Nâng cao vai trò của hiệp hội ngành nghề để tập trung sức mạnh của cộng đồng
doanh nghiệp VN và của các nhà nhập khẩu.
tranh của hàng xuất khẩu thay cho cạnh tranh bằng giá thấp. Đó là phải đầu tư nâng cao
chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh các dịch vụ hậu mãi, tiếp thị quảng cáo, áp dụng các điều
kiện mua bán có lợi cho khách hàng
- Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về thị trường xuất khẩu, về luật thương mại
quốc tế, luật chống bán phá giá của các nước và phổ biến, hướng dẫn cho các doanh
nghiệp các thông tin cần thiết nhằm tránh những sơ hở dẫn đến các vụ kiện.
Các giải pháp đối phó với vụ kiện chống bán phá giá đã xảy ra
* Về phía chính phủ: cần tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong kháng
kiện
- Thành lập quỹ trợ giúp theo đuổi các vụ kiện để hỗ trợ tài chính cho các doanh
nghiệp kháng kiện.
- Cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết về các thủ tục kháng kiện,
giới thiệu các luật sư giỏi ở nước sở tại có khả năng giúp cho doanh nghiệp thắng kiện
* Về phía các hiệp hội ngành hàng: cần phát huy vai trò là tổ chức tập hợp và tăng
cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành nhằm nâng cao năng lực kháng kiện
của các doanh nghiệp.
- Thông qua hiệp hội quy định hành vi bảo vệ lẫn nhau, phối hợp giá cả trên thị
trường, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh có thể tạo ra cớ gây ra các
Thiết lập cơ chế phối hợp trong tham gia kháng kiện và hưởng lợi khi kháng kiện
thành công để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia kháng kiện.
+ Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thông tin về giá cả, định hướng phát
triển thị trường, những quy định pháp lý của nước sở tại về chống bán phá giá để các
doanh nghiệp kháng kiện có hiệu quả giảm bớt tổn thất do thiếu thông tin.
* Về phía các doanh nghiệp: cần chủ động theo đuổi các vụ kiện khi bị nước ngoài
kiện bán phá giá.
- Hoàn thiện hệ thống sổ sách chứng từ kế toán phù hợp với các quy định của luật
pháp và chuẩn mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh doanh nhằm chuẩn bị
sẵn sàng các chứng cứ, các lập luận chứng minh không bán phá giá của doanh nghiệp, tổ
chức nhân sự, dự trù kinh phí, xây dựng các phương án bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp
- Tạo ra những mối liên kết với các tổ chức lobby để vận động hành lang nhằm lôi
thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và thị trường xuất khẩu, tăng cường vai trò
của các hiệp hội ngành hàng, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về thông tin, tiến hành cam
kết giá khi cần thiết