tính lục địa của khí hậu và các loại biến trình năm của nhiệt độ không khí ở các đới khí hậu - Pdf 12

BÀI TẬP KHÍ TƯỢNG VÀ KHÍ HẬU ĐẠI CƯƠNG
Đề:Hãy trình bày về tính lục địa của khí hậu và các loại biến trình năm của nhiệt độ không khí ở
các đới khí hậu.
BÀI LÀM

I Tính lục địa của khí hậu
Khí tượng học là khoa học về khí quyển-vỏ không khí của Trái Đất.Do nghiên cứu các
quá trình vật lý đặc trưng cho Trái Đất,nên khí tượng học thuộc khoa học vật lý.Khí hậu học là
khoa học về khí hậu –tập hợp các điều kiện khí hậu đặc trưng cho một nơi nào đó và phụ thuộc
vào hoàn cảnh địa lý của địa phưong.Với ý nghĩa đó khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế
của con người như: nông nghiệp,sự phân bố địa lý của công nghiệp,giao thông đường bộ,đường
thủy,hàng không.
Chính vì vậy việc nghiên cứu về khí tượng và khí hậu là một điều không thể thiếu đối với chúng
ta.khí hậu ở mỗi vùng thì đều có những đặc trưng của nó trong đó việc nghiên cứu về tính lục
địa cũng như các loại biến trình năm của nhiệt độ không khí ở các đới khí hậu là một điều hết
sức cần thiết.
1.1Biên độ năm của nhiệt độ và tính lục địa của khí hậu.
Mọi khối khí mùa đông lạnh hơn còn mùa hè nóng hơn,vì vậy nhiệt độ không khí ở mỗi
nơi trên mặt đất biến đổi trong quá trình mội năm,nhiệt độ trung bình tháng vào mùa lạnh nhỏ
hơn vào mùa nóng.Nếu tính nhiệt độ trung bình thang theo dãy quan trắc nhiều năm cho một
nơi nào đó,ta sẽ đựơc những giá trị nhiệt độ trung bình tháng biến đổi đều đặn từ tháng này sang
tháng khác,chúng tăng từ tháng giêng hay tháng hai đến tháng bảy hay tháng tám và sau đó
giảm.
Như vậy hiệu nhiệt độ trung bình tháng của tháng nóng nhất với tháng lạnh nhất được gọi
là biên độ năm của nhiệt độ không khí
Trong khí hậu học người ta dùng biên độ năm của nhiệt độ tính theo giá trị trung bình nhiều
năm cho tháng.Biên độ năm của nhiệt độ không khí trước hết tăng theo vĩ độ địa lý.Tại miền
xích đạo,thông lượng bức xạ mặt trời ít bị biến đổi trong quá trình một năm,về phía cực thông
lượng bức xạ của mặt trời giữa mùa đông và mùa hè tăng,do đó biên độ nhiệt độ hàng năm cũng
tăng.Song trên đại dương cách xa miền bờ,sự biến đổi theo vĩ độ của biên độ năm không lớn
lắm.

của mật đất và gần biên của địa phương một cách giản đơn.
Đại lượng này phụ thuộc vào tầng xuất của khối khí có nguồn gốc biển và lục địa tại địa
phương
Không những biển mà ngay trên các hồ lớn cũng giảm biên độ năm của nhiệt độ không khí và
do đó làm dịu khí hậu.Khoảng giữa hồ Bai Can biên độ nhiệt độ năm của nhiệt độ không khí là
30-31
o
C ở vùng bờ khoảng 36
O
C,còn ở vùng vĩ độ trên sông Iênhisêi là 42
o
C.
Song ở miền ngoại nhiệt đới biến trình năm còn biểu hiện rõ rệt,thậm chí ở miền trên của tầng
đối lưu và trong tầng bình lưu.Biến trình này được xác định bởi sự biến đổi theo mùa thì qua
điều kiện phát xạ và hấp thụ bức xại mặt trời của mặt đất cũng như của bản thân không khí.
Khí hậu trên biển với biên độ năm của nhiệt độ nhỏ thường gọi là khí hậu biển,khác với
khí hậu lục địa với biên độ nhiệt độ năm lớn.Song khí hậu biển lan đến cả vùng lục địa sát biển
nơi tầng xuất của không khí biển lớn.Có thể nói không khí biển đem khí hậu biển vào lục
địa.Ngược lại khu vực đại dương có không khí chuyển từ lục địa gần nhất thịnh hành khí hậu có
tính lục địa hơn là tính biển.
Khí hậu biển và lục địa:những khác biệt do đặc điểm đột nóng đại dương và lục địa cũng
như hiên tưọng bốc hơi từ bề mặt của chúng làm ảnh hưởng đến chế độ nhịêt độ và chế độ ẩm
của không khí(mây và mưa)là những yếu tố quyết định đặc điểm khí hậu ở từng khu vực.
Trước hết cần thấy rằng không khí trên các đại dương có độ ẩm tuyệt đối lớn hơn so với trên lục
địa.Điều đó dể hiểu nếu nhớ lại rằng trong một năm đại dương cấp cho khí quyển74calo/cm
2
nhờ bốc hơi và chỉ có 8kcal/cm
2
nhờ trao đổi nhiệt rối.Trong khi đó trên đất liền hai đại dương
này gần như bang nhau(25 và 24kclo/cm

C ở xích đạo đến 0,1
O
C ở vĩ độ cao).Biên độ nhiêtl không khí lớn hơn
một ít từ 1,5
o
c ở xích đạo đến 0,8
o
C0ở vĩ độ cao,vì khí quyển hấp thụ trực tiếp bức xạ mặt trời.
Sự khác biệt về quá trình năm của nhiệt độ không khí trên đại dương và lục địa ít hơn so với
quá trình ngày,tuy nhiên nó vẩn rất đáng kể.Ở xích đạo biên độ năm của nhiệt độ không khí trên
đại dương đạt giá trị cực tiểu nhỏ hơn 1
o
C.Còn trên lục địa khoảng 5/10
o
C,ở vùng nhịêt đới biên
độ có thể đạt 5
o
c trên đại dương và 20
o
c trên lục địa
Tây Âu nơi quanh năm thịnh hành không khí Đai Tây Dương kí hậu biển hiện rõ rệt,ở miền cực
tây châu âu biên nhiệt độ không khí chỉ khoảng vài độ.Cách xa Đại Tây Dương tiến sâu vào lục
địa ở xa Đại Tây Dương,biên độ năm của nhiệt độ tăng nói môt cách khác tính lục địa của khí
hậu tăng.Ở miền đong sibir biên độ năm tăng đến vài chục độ.Mùa hè ở đây nóng hơn ở tây
âu,mùa đông khí hậu khắc nghiệt hơn nhiều.Độ gần biển của miền đong sibir đối với Thái Bình
Dương không có giá trị đáng kể vì hoàn lưu chung khí quyển nhất là mùa đông không tạo điều
kiện cho không khí từ Thái Bình Dương thâm nhập vào sibir.Chỉ có ở miền viễn đông,mùa hè
các khối khí di chuyển từ đại dương làm giảm nhiệt độ và do gió làm giảm biên độ năm của
nhiệt độ.
Trên cùng vĩ độ,biên độ trung bình năm ở Torơshap là 6

o
E -15 +22 +3 37
Tây sibir 80
o
E -18 +22 +3 40
Nêinxkơ 116
o
E -30 +23 -2 53
Ở vùng vĩ độ trung bình biên độ năm của nhiệt độ không khí thường rất đa dạng ngay trên
cùng một vĩ độ.ví dụ đối với vĩ tuyến 52
0
bắc chúng biến đổi từ 8 đối với vùng đảo đến 48
0
đối
với vùng sâu trong lục địa .Ở vùng cận cực,biên độ năm có giá trị còn lớn hơn nữa,đạt tới 60
o
c
trên lục địa và 20
o
C trên đại dương.gần về cự biên dộ năm của nhiệt độ không khí giảm một ít .
Đại dương có sự ảnh hưởng lớn đến sự thành tạo mây,mưa trong khí hậu lục địa và biển.Trong
vùng nhiệt đới do sự thịnh hành dòng gió đông nên ở các bờ đông lục địa đối diện gió có sự tích
tụ v à nâng lên của các khối không khí ẩm gần các dãy núi.Do đó ở các bờ biển và các vùng
phía tây của các đại dương trong đới gió tín phong thường quan trắc thấy độ ẩm tương đối
cao,nhiều mây và nhiều mưa,lượng mưa đạt tới 2000/4000mm trong năm.
Các phần tay lục địa vì gió tín phong thổi từ đất liền nên có khí hậu tưiưng đối khô và ít mưa.
ở vùng vĩ độ trung bình nơi thịnh hành gió tây,đại dương ảnh hưỏng nhiều nhất đến phía tây các
lục địa.vùng này có nhiệt độ không khí trung bình năm cao hơn và biên độ ngày và biên độ
ngày và năm nhỏ hơn so với vùng trung tâm và đông các lục địa.Trong mùa lạnh các khối
không khí thổi từ đại dương vào với nhiệt độ cao hơn nhiệt độ lục địa tạo nên điều kiện tốt để

lạnh.Độ nghiêng mặt đẳng áp sẽ làm xuất hiện chuyển động về hướng khối không khí lạnh
dòng khí đó làm cho trọng lượng cột không khí giảm trên biển và tăng trên lục địa,điều đó làm
xuất hiện trên mặt trái đất vùng áp suất cao trên lục địa và thấp trên biển và do đó làm phát sinh
dòng chuyển động của khối không khí từ lục địa ra biển(gió mùa mùa đông),mùa hè hiện tượng
xảy ra ngược lại(gió mùa mùa hạ)
tuy nhiên cần chú ý rằng mùa hè chênh lệch nhiệt độ giữa đại dương và lục địa ít hơn mùa
đông,nói chung trong dòng hưóng đông hình thành điều kiện dòng lực (hội tụ và phân kỳ các
dòng không khí trên cao)làm cho áp suất phân bố trên đại dương và lục địa phù hợp với tác
động của các yếu tố nhiệt.
Ở bờ đông các lục địa dòng gió mùa được tăng cường vì nó cùng hướng với dòng địa đới.Mùa
hè dòng hướng đông giảm vì gradien nhiệt độ theo kinh tuyến giảm,vì vậy ở bờ đông các lục địa
gió mùa mùa hạ trở nên mạnh hơn các dòng địa đới còn ở các bờ tây hoàn lưu gió mùa lại làm
tăng dòng địa đới vì vào mùa này hoàn lưu gió mùa cũng có hướng đông.
ở Bắc cực do tồn tại thảm băng tác dụng sưởi ấm của đại dương nhỏ hơn so với ôn đới,ở các
biển ven thủy vưc Bắc Cực vào mùa hè một số nơi băng tan,khí hậu mang tính lục địa hơn so
với vùng trung tâm,dù sao lương nhiệt cung cấp qua lớp băng cũng làm cho khí hậu mang tính
lục địa hơn ở vùng nam cực,nơi mà phần lớn là đất liền.Việc nghiên cứu sự trao đổi nhiệt giữa
các vĩ tuyến và giữa đại dương với lục địa thúc đẩy v.v.sulykin phát biểu một lý thuyết về
nguồn gốc vật lý giữa khí hậu và thời tiết.Ông gọi nó là lý thuyết sóng xâysin nhiệt áp .Theo lý
thuyết này sự biến đỏi thời tiết cũng như khí hậu của một khu vực nào đó là hậu quả dao động
cường độ các dòng nhiệt giữa xích đạo với các cực và giữa đại dương với lục địa.
Bầu khí quyển và dòng hải lưu có ảnh hưởng đặc biệt đến khí hậu lục địa,hơi nước và nhiệt
độ di chuyển từ đại dương vào bầu khí quyển và rồi được gió mang đến lục địa,nhiều yếu tố
khống chế khí hậu ở một số khu vực nhưng chắc chắn đóng vai trò quan trọng nhất là gió và hải
lưu.
ở nam bán cầu cũng có dòng hải lưu và gió như bắc bán cầu nhưng thay vì lệch về hướng phải
chúng lệch về phía trái trong nhóm hải lưu về cực,ngược lại dòng hải lưu lạnh chạy dọc theo bờ
phía đông của bồn đại dương về xích đạo.Như vậy trên đường trên đường di chuyển hải lưu
chảy xuyên qua đới gió mậu dịch và đới gió tây,hơi nước và bầu khí quỷên nhận từ dòng hải lưu
được phân bố lại cho gió.

Trong đó A là biên độ năm của nhiệt độ,còn biểu thức 12sinα là biên độ trung bình năm của
nhiệt độ trên đại dương trong đới giữa 30 và 60 vĩ độ,trong đó α là vĩ độ.
Như vậy ta lấy biên độ năm thực tế hàng năm trừ đi biên độ năm của vĩ độ α trong khí hậu đại
dương trung bình nào đó.Hệ số C được xác định theo giả thuyết là tính lục địa trung bình trên
đại dương bằng 0(nghĩa là A=12sinα)đối với veckhôianxkơ,C=100.
Từ công thức có dạng
K=
s.p khromop đưa ra chỉ số lục địa đỗi khác về nhiều.Biên độ đơn thuần đại dương,nghĩa là biên
độ hoàn toàn ở trên đại dưong không có ảnh hưởng của lục địa,tương tự như phần trung tâm của
miền nam Thái Bình Dương rất xa lục địa được xac định tùy thuộc vào vĩ độ.Đối với biên độ
đơn thuần đại dương bằng không có nghĩa là A=12sinα ta có biểu thức
A=5,4sinα
Sau đó lấy hiệu giữa biên độ năm thực tế của địa phương Avà biên độ đơn thuần đại dương nói
trên và chia cho nhiệt độ thực tế
K=
Chỉ số lục địa này chỉ rõ phần biên độ năm của nhiệt độ không khí ở nơi nào đó gây nên do ảnh
hưởng của nhiệt độ không khí trên trái đất và ảnh hưởng của lục địa trong biên độ năm của
nhiệt độ.
Tại những vùng trung tâm của ba đại dương Nam bán cầu chỉ số k nhỏ hơn 10%.Nhưng ở miền
bắc Đại Tây Dương ,giá trị này lớn hơn 25%,ở miền cực tây châu âu giữa khoảng 50-70% ở
miền trung và tây bắc châu á ,thậm chs lớn hơn 90%.Chỉ só này cũng lớn hơn 90% tại những
vùng miền tây châu úc và miền bắc châu phi và nam mỹ.
Như vậy nếu chỉ xét biên độ năm của nhiệt độ thì khí hậu có tính chất biển lớn nhất hình thành
trên lục địa dù sao vẫn chịu ảnh hưởng của lục địa hơn trên đại dương.Hơn nữa thậm chí ở vùng
trung tam dại tây dương,ảnh hưởng của lục địa tới biên độ năm của nhiệt độ chỉ lớn hơn ảnh
hưỏng của đại dương một ít.
Điều đó rõ rang là do không khí ở lục địa thường lan ra biển,chỉ ở miền ôn đói của đại dương
nam bán cầu ,ảnh hưởng của lục địa tới biên độ năm của nhiệt độ không đáng kể .
N.N Ivanop khi tính hệ số lục địa,ngoài biên độ năm của nhiệt độ ông còn tính đến những đặc
trưng có liên quan với tính lục địa như biên độ ngày của nhịêt độ và độ hụt bão hòa .ông đề ra

tương đối thấp.Ví dụ:
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Biên
độ
Jacacta(Inva 6,2
o
N;106,8
o
Đ)
25,8 25,8 26,2 26,7 26,8 26,5 26,3 26,5 26,8 26,8 26,5 26,1 26,4 1,0
Môngala(Xuđăng,5,2
o
B,1,8
o
Đ)
27,2 27,8 28,5 27,2 26,1 25,4 24,3 24,4 25,1 25,7 25,7 26,4 26,2 4,2

2.2 Loại nhiệt đới.

Biên độ lớn hơn so với xích đạo,biên độ khoảng 5
o
C trong lục địa khoảng 10-15
o
C.có một cực
đại và một cực tiểu trong quá trình một năm,phần lớn là sau khi mặt trời ở cao nhất và thấp
nhất.Ở khu vực gió mùa,cực đại của loại biến trình này thường thấy trước gió mùa mùa hè,gió
này làm giảm nhiệt độ do đem lại mây và mưa.

2.3 Loại ôn đới.
Tại đây cực trị của nhiệt độ thường thấy sau ngày đông chí và hạ chí,cần thêm là trong khí hậu
biển,chúng chậm xuất hiện hơn trong khí hậu lục địa,ở Bắc Bán Cầu,cực tiểu thường thấy trên

o
C,còn ở châu Á có thể đạt quá 60
o
C.
Có thể chia miền ôn đới thành các đới nhỏ:cận nhiệt đới,ôn đới và đới cận cực.Mùa chuyển tiếp
chỉ biểu hiện rõ ở ôn đới,trong đó khí hậu lục địa và khí hậu biển có sự khác biệt nhau lớn nhất.
2.4 Loại cực
Cực tiểu trong biến trình hàng năm chuyển dịch tới thời gian xuất hiện của Mặt Trời trên đường
chân trời sau đêm cực kéo dài,nghĩa là sang tháng 2 tháng 3 ở Bắc Bán Cầu và tháng 7 tháng 1
ở Nam Bán Cầu,biên độ trên lục địa(Grennamdi,châu Nam Cực)rất lớn khoảng 30-40
o
C.Trong
khí hậu biển của miền cực trên các đảo và miền rìa lục địa,biên độ nhỏ hơn,song vẫn tới khoảng
20
o
C hay lớn hơn.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Biên
độ
Montevideo(24,9
o
S,56,2
o
E)
+23 +22 +20 +17 +14 +11 +10 +11 +13 +15 +18 +21 +16 13
Batda(33,3
o
N,44,4
O
E)
+9 +12 +16 +22 +28 +32 +35 +35 +32 +25 +18 +11 +23 26

Veckhôianxkơ(67,5
o
N,133,4
o
E)

-50 -44 -30 -13 +2 +13 +15 +11 +2 -15 -37 -46 -16 65
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Biên
độ
Grinkhabo(78
o
N,14,2
O
E)
-16 -18 -20 -14 -5 +2 +5 +5 0 -6 -11 -14 -8 25
Môngala(72,1
o
N,96,6
o
E)
-34 -44 -55 -63 -63 -67 -67 -71 -67 -59 -44 -32 -55 39
Ngoài ra biến trình năm của nhệt độ không khí còn liên quan đến biến thiên của nhiệt độ trung
bình tháng:
Vì những biến đỗi không có chu kỳ mỗi năm xảy ra khác nhau nên nhiệt độ trung bình năm của
không khí ở mỗi nơi vào những năm khác nhau sẽ khác nhau.Chẳng hạn ở Matxcơva,nhiệt độ
trung bình năm vào năm 1962 là 1,2
o
,vào năm 1965 là 6,1
o
.

chính điều đó đã tạo nên sự phân bố khác nhau ở từng vùng miền trên trái đất tạo nên sự thay
đổi khí hậu hiện nay .Vì vậy khó mà chỉ bằng một lý thuyết nào đó mà giải thích được tất cả sự
da dạng của đặc trưng thời tiết và chế độ khí hậu mà chúng ta được thấy hàng ngày ở khắp nơi
Vì vậy con người chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về khí hậu để ta có thể đoán
bắt được tình hình khí hậu mà có kế hoạch hợp lí hơn cho cuộc sống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status