BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
TÊN ĐỀ TÀI VÀ THÀNH VIÊN NHÓM
Bài tập môn Tài chính Công
Ngoại tác và Hàng hóa Công
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Hòa Nhân
Nhóm số 3 – Lớp 2 Tài chính Ngân hàng – Cao học K26
Thành viên nhóm: 1. Ngô Đức Chiến
2. Trần Ngọc Minh Trang
3. Nguyễn Bạch Hồng
4. Hồ Thị Tuyết
5. Trần Thanh Phương
6. Lê Thị Phương Thảo
7. Nguyễn Hồng Thái
MỤC LỤC
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 1/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Trang
Lời mở đầu 03
Phần 1: Ngoại tác 04
1.1. Khái niệm 04
1.2. Lý thuết ngoại tác 04
1.2.1. Ngoại tác sản xuất tiêu cực 04
1.2.2. Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực 07
1.2.3. Ngoại tác sản xuất tích cực 09
1.2.4. Ngoại tác tiêu dùng tích cực 10
1.3. Khu vực công giải quyết vấn đề ngoại tác 11
1.3.1. Đánh thuế điều chỉnh 11
1.3.2. Trợ cấp 13
1.3.3.Điều tiết lượng sản xuất 14
Phần 2: Hàng hóa Công 15
tốt hơn hay xấu đi, mà đối tác ban đầu vừa không phải gánh chịu chi phí, vừa không nhận
lợi ích từ hành động đó.
Ngoại tác có thể xảy ra trong nhiều tương tác hàng ngày với những mức độ và phạm vi
khác nhau. Ngoại tác xảy ra ở mức độ nhỏ, như là bạn mở radio quá lớn, làm cho người
bạn cùng phòng học không được. Ngoại tác xảy ra ở mức độ lớn như là mưa axit hoặc trái
đất nóng dần lên. Các nhà máy nhiệt điện sẽ sử dụng than đá để sản xuất điện. Sản phẩm
phụ của nó là thải ra chất nitơ và điôxít sun phơ, từ đó tạo ra axit ni tơ rít và sun phơ rít.
Những loại axit này tạo ra mưa axit, làm phá hoại mùa màng và gia tăng bệnh hô hấp
trong công chúng. Nếu không có can thiệp của chính phủ thì những nhà máy nhiệt điện
không gánh chịu bất kỳ khoản chi phí nào từ hoạt động sản xuất của nó gây ảnh hưởng
đến ô nhiễm môi trường.
1.2. Lý thuyết ngoại tác:
Ngoại tác có thể xảy ra trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa hoặc tiêu dùng, nó có thể là
tích cực hay tiêu cực.
1.2.1. Ngoại tác sản xuất tiêu cực:
Một vài nơi ở Việt Nam có nhà máy théo được xây dựng gần dòng sông. Những nhà
máy này sản xuất ra thép, nhưng nó cũng tạo ra một chất “bùn quánh” – loại sản phẩm phũ
không có ích gì đối với người chủ nhà máy thép. Để loại bỏ sản phẩm phụ không hữu ích
này, người chủ nhà máy thép xây dựng đường ống dẫn chất bùn quánh đổ vào con sông.
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 4/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Mức bùn quánh tạo ra theo tỷ lệ sản lượng thép sản xuất. Mỗi một đơn vị thép tăng thêm
tạo ra thêm một đơn vị bùn quánh.
Tuy nhiên, nhà máy thép không chỉ đơn vị sản xuất duy nhất sử dụng dòng sông. Xuôi
theo hướng dòng sông chảy là vùng câu cá mà ở đó có nhiều người câu cá, đánh bắt cá để
sinh sống. Bởi vì nhà máy thép đổ bùn quánh vào dòng sông, nên cá ít sống ở đây, và sự
đánh bắt cá trở nên khó khăn, ít lợi nhuận.
Kịch bản này là ví dụ điển hình về vấn đề ngoại tác. Nhà máy thép tạo ra một ngoại tác
sản xuất tiêu cực cho những người đánh bắt cá. Sản xuất của nhà máy thép tạo ra tác động
nghịch đảo đến tình trạng sinh sống của những người đánh bắt cá nhưng lại không bồi
Ứng với mỗi mức độ sản xuất, chi phí xã hội là cao hơn 100 đôla so với chi phí tư nhân,
bởi vì cứ mỗi một đơn vị sản xuất thép tạo ra 100 đôla chi phí cho những người đánh cá
nhưng không được bồi thường.
Mỗi một điểm trên đường cầu thị trường thép phản ánh tổng cộng mức sẵn lòng của các
cá nhân trong việc tiêu thụ thép hoặc là lợi ích biên tư nhân (PMB) của đơn vị thép. Kết
quả phúc lợi của tiêu dùng được xác định bằng lợi ích biên xã hội (SMB), đó là lợi ích biên
tư nhân của người tiêu dùng cộng với chi phí biên liên quan đến tiêu dùng hàng hóa đó mà
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 6/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
người tiêu dùng phải gánh chịu. Trong ví dụ này, do không có chi phí liên quan đến tiêu
dùng thép, nên SMB = PMB.
Cân bằng thị trường tư nhân là điểm A với mức sản lượng sản xuất Q1 và giá cả P1.
Đây cũng là mức tiêu dùng tối đa hóa xã hội. Thế nhưng trong điều kiện có ngoại tác, điều
này lại không phù hợp. Hiệu quả xã hội đã được xác định liên quan đến đường cong chi phí
và lợi ích biên xã hội, chứ không phải là đường cong chi phí và lợi ích biên tư nhân. Khi có
ngoại tác tiêu cực, các đường cong xã hội (SMB và SMC) cắt nhau tại điểm C, với mức
tiêu dùng là điểm Q2. Do người sản xuất thép không quan tâm đến sự kiện là cứ mỗi đơn vị
thép sản xuất giết chết cá trong dòng sông, nên đường cung không phản ánh đúng chi phí
sản xuất Q1 ứng với điểm A mà đúng ra là điểm B. Kết quá là quá nhiều thép được sản
xuất (Q1 > Q2), và cân bằng thị trường tư nhân không còn tối đa hóa hiệu quả xã hội.
Nếu di chuyển ra xa số lượng tối đa hóa hiệu quả xã hội, thì chúng ta tạo ra tổn thất xã
hội, bởi vì khi đó những đơn vị hàng hóa được sản xuất và tiêu dùng đều làm cho chi phí
xã hội (SMC) vượt quá lợi ích biên xã hội (SMB). Trong ví dụ của chúng ta, tổn thất xã
hội được đo lường bằng diện tích tam giác ABC. Chiều rộng của tam giác được xác định
bằng Q1 – Q2. Chiều cao của tam giác là chênh lệch giữa chi phí xã hội biên và lợi ích
biên, tổn hại biên xã hội.
1.2.2. Ngoại tác tiêu dùng tiêu cực:
Ngoại tác không chỉ xảy ra ở khía cạnh sản xuất mà còn ở khía cạnh tiêu dùng. Hãy
xem xét trường hợp hút thuốc lá . Trong một nhà hàng cho phép bạn hút thuốc lá. Sự tiêu
dùng thuốc lá của bạn gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến sự thưởng thức bữa ăn của tôi trong
Tất cả ngoại tác không phải là xấu cả, cũng có những ngoại tác tích cực liên quan đến
một thị trường, mà ở đó các chủ thể hưởng thụ lợi ích sản xuất lớn hơn nhiều so với người
sản xuất, nhưng người sản xuất không được bồi thường. Ví dụ, các cảnh sát thích bánh cam
khi làm nhiệm vụ. Càng có nhiều bánh cám được sản xuất gần nhà bạn, thì càng nhiều cảnh
sát chung quanh nhà bạn. Điều này tạo ra ngoại tác tích cực làm cho những người hàng
xóm của bạn được an ninh. Vì vậy, việc sản xuất bánh cam tạo ra ngoại tác sản xuất tích
cực đối với bạn: cứ mỗi một bánh cam được sản xuất làm gia tăng cơ hội một người cảnh
sát ở gần nhà bạn khi bạn cần ông ta.
Pt (giá bánh cam)
S = PMC
P1 A SMC = PMC - EMB
P2 B EMB
D = PMB = SMB
C
0 Q1 Q2 Qt (số lượng bánh cam)
Hình minh họa: Ngoại tác sản xuất tích cực
Hình trên mô tả thị trường bánh cam và ngoại tác sản xuất tích cực đối với sản xuất
bánh cam: chi phí biên xã hội sản xuất bánh cam thực tế là thấp hơn chi phí biên tư nhân
bởi vì sản xuất bánh cam có tác động tích cực đến sự an toàn của người hàng xóm. Giả sử
lợi ích biên đối với người hàng xóm cho mỗi đơn vị bánh cam được sản xuất (thông qua
gia tăng sự hiện diện của cảnh sát và cải thiện tình hình an ninh), là một hằng số EMB. Kết
quả là SMC thấp hơn PMC với một mức là EMB. Vì thế, cân bằng tư nhân trong thị trường
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 9/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
bánh cam là điểm A, tương ứng với số lượng Q1 là cân bằng sản xuất dưới mức khả năng
so với mức tối ưu xã hội ở điểm B và số lượng Q2. Điều này do bởi người chủ cửa hàng
bán bánh cam không nhận được lợi ích tạo ra cho những người hàng xóm (vì ông ta không
được bồi thường một khoản lợi ích nào từ người hàng xóm).
1.2.4. Ngoại tác tiêu dùng tích cực:
Bên cạnh ngoại tác sản xuất tích cực cũng có ngoại tác tiêu dùng tích cực. Hãy hình
1.3.1. Đánh thuế để điều chỉnh:
Pt (giá cả) SMC = PMC2 = PMC1 + MD
P2 B MD = thuế S = PMC1
P1 A
D = PMB = SMB
0 Q2 Q1 Qt (số lượng thép)
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 11/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Hình minh họa: Đánh thuế để giải quyết vấn đề ngoại tác
Chúng ta đã thấy rằng mục tiêu nội hóa ngoại tác của Coase có lẽ rất khó để đạt được
trong thực tiễn của thị trường tư nhân. Chính phủ có thể đạt được kết quả tương tự bằng
cách đánh thuế vào nhà máy thép với giá trị MD cho mỗi đơn vị thép được sản xuất.
Hình vẽ bên trên chứng minh sự tác động của một chính sách thuế như vậy. Thị trường
thép ban đầu cân bằng ở điểm A, ở đó cung (PMC
1
) bằng với cầu (PMB = SMB) và Q
1
đơn vị thép được sản xuất ở mức giá P
1
. Xét ngoại tác với mức chi phí MD, thì sản xuất tối
ưu xã hội ở tại điểm B, ở đó chi phí và lợi ích biên xã hội bằng nhau. Giả sử chính phủ
đánh thuế trên một đơn vị thép sản xuất với mức thuế là MD. Thuế này được xem như là
một khoản chi phí đối với người sản xuất thép và như vậy sẽ làm dịch chuyển đường chi
phí biên tư nhân lên bằng MD cho mỗi đơn vị thép được sản xuất. Điều này tạo ra đường
cong PMC mới, đó là PMC
2
, bằng với đường cong SMC. Kết quả là, thuế đã làm nội hóa
ngoại tác một cách hiệu quả và dẫn đến kết quả tối ưu hóa xã hội (điểm B, số lượng Q
bánh cam được sản
xuất với mức giá P
1
. Xét ngoại tác tích cực với lợi ích MD, thì sản xuất tối ưu xã hội ở
điểm B, ở đó chi phí biên xã hội bằng với lợi ích biên xã hội. Giả sử chính phủ trợ cấp trên
đơn vị bánh cam được sản xuất là S = MD. Mức trợ cấp này làm giảm đi chi phí biên sản
xuất bánh cam, theo đó làm dịch chuyển đường cong chi phí biên tư nhân xuống bằng MD
cho mỗi đơn vị được sản xuất. Kết quả là tạo ra đường cong PMC mới, PMC
2
bằng với
đường cong SMC. Trợ cấp đã khiến cho chủ cửa hàng nội hóa ngoại tác tích cực và thị
trường di chuyển từ một tình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng đến mức sản xuất tối ưu.
1.3.3. Điều tiết lượng sản xuất:
Đánh thuế, trợ cấp là các công cụ giải quyết vấn đề ngoại tác theo cơ chế giá. Bên cạnh
đó, chính phủ có thể điều tiết lượng sản xuất để giải quyết ngoại tác. Trở lại nhà máy thép,
chính phủ có thể yêu cầu nhà máy thép không được sản xuất ở mức nhiều hơn Q
2
.
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 13/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Pt (giá cả) SMC = PMC + MD
P2 B S = PMC
P1 A
D = PMB = SMB
0 Q2 Q1 Qt (số lượng thép)
Hình minh họa: Quy định số lượng để giải quyết vấn đề ngoại tác
Trong một thế giới lý tưởng, đánh thuế Pigou và điều tiết lượng sản xuất có tác động
như nhau. Thế nhưng trong thực tế, thuế chưa phải là phương tiện có hiệu quả để giải quyết
trong
khi
nhu cầu mua là rất lớn. Giả sử, còn 1 chiếc xe mà có 2 người muốn mua thì
sẽ có 1
người
không mua được xe. Rõ ràng, chỉ có 1 người có được lợi ích tăng thêm từ
việc có được xe
máy.
Vậy, hàng hóa cá nhân có tính cạnh tranh và tính loại trừ trong tiêu
dùng.
- Hàng hoá công: ví dụ: dịch vụ an
ninh
Một ông cảnh sát khu vực cung cấp dịch vụ bảo vệ an ninh cho 1 khu phố. Giả
định có
1
người đến tạm trú tại khu phố đó
thì:
Những người trong khu phố không vì thế mà giảm đi mức độ được bảo vệ an
ninh.
Người mới đến cũng được hưởng dịch vụ bảo vệ như những người
khác.
Ông cảnh sát cũng không mất thêm chi phí (thời gian hay tiền bạc) để đảm bảo mức
độ
cung cấp an ninh không giảm
đi.
Vậy, hàng hóa công là những hàng hoá không có tính cạnh tranh và không có tính
loại trừ trong tiêu dùng; việc một cá
nhân
này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo
ra không ngăn cản những người khác cùng
những con đường
khác, nên
họ sẽ đánh giá thấp hơn về giá trị của con
đường.
Ví dụ 2: Xét 1 tên lửa mang đầu đạt hạt nhân do bộ quốc phòng chế tạo
thì:
Đối với những người xem hệ thống tên lửa như là sự tăng cường an ninh của họ, thì họ
cho
rằng tên lửa có giá trị tích cực. Còn đối với những người xem tên lửa làm leo thang
cuộc chạy
đua
vũ trang, làm giảm đi sự an toàn cho an ninh quốc gia, thì họ xem tên lửa
có giá trị tiêu cực.
(CH
DCND Triều
Tiên).
- Tính không loại trừ trong tiêu dùng; hoặc chi phí loại trừ rất tốn kém. Có nghĩa là,
sẽ
rất
tốn kém hay hoàn toàn không thực hiện được việc ngăn cản người khác sử dụng
hàng hoá
công cộng.
Ví dụ 3: các chương trình phát thanh và truyền hình của đài truyền hình: VTV1,
VTV2,…
khi đã phát thì rất khó có thể ngăn cấm họ không thưởng thức những chương
trình đó, không
thể
cấm được 1 người không được hưởng dịch vụ an
ninh,…
Ví dụ 4 : Một công viên, để loại trừ những người không trả tiền cần: thuê người
hết cáp),…
1
Mức độ . B
Loại trừ
. C
. A
0 Mức tiêu dùng chung 1
Chú ý: Mức 0 (hoàn toàn không thể), mức 1 (hoàn toàn có thể)
Tại A: Không thể loại trừ và hoàn toàn có thể tiêu dùng chung. A là hàng hóa công thuần
túy
Tại B: Hoàn toàn có thể loại trừ và hoàn toàn không thể tiêu dùng chung. B là hàng hóa tư
nhân thuần túy
Tại C: Có thể loại trừ với 1 chi phí nào đó. Có thể tiêu dùng chung, C là hàng hóa công
không thuần túy
Đối với hàng hoá tư nhân thì để tiêu dùng người ta sẵn sàng trả tiền và trả theo giá thị
trường
nhưng đối với hàng hoá công thuần tuý thì người ta sẽ không trả tiền khi tiêu dùng.
Còn đối
với
hàng hoá công không thuần tuý thì người ta sẽ trả tiền theo một mức độ nào
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 17/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
đó mà thôi và giá
cả
của nó không phải là giá cả thị trường mà chỉ mang ý nghĩa: (1)
bù đắp 1 phần chi phí sản
xuất
hàng hoá công đó (2) là cơ sở để loại trừ một số trường
hợp ra khỏi việc sử
Cả hàng hoá công và hàng hoá cá nhân đều được sử dụng để thoả mãn lợi ích của con
người.
Khi tiêu dùng nó thì cái mà người ta nhận được là lợi ích tăng thêm và cái giá
mà người ta
sẵn
lòng trả để có được hàng hoá phụ thuộc lợi ích tăng thêm mà người ta
nhận được. Khi khối
lượng
hàng hoá tăng thêm thì lợi ích tăng thêm của mỗi đơn vị
hàng hoá giảm đi, do vậy cái giá
mà
người ta sẵn lòng trả cũng giảm đi. Điều này lý giải
quan hệ nghịch biến giá cả và sản lượng
(quy
luật
cầu).
- Đối với hàng hoá công thuần tuý thì chính phủ nên cung cấp cho xã hội hơn là để
cho
tư
nhân cung cấp mặc dù vì lợi ích của mình thì người tiêu dùng vẫn sẵn sàng trả tiền
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 18/25
Tổn thất Phúc lợi
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
do bởi: nếu
tư
nhân cung cấp hàng hoá công thì hiệu quả xã hội đạt được là nhỏ hơn so
với việc chính phủ
cung
cấp vả lại những người nghèo nhất trong xã hội là những người
cần sử dụng hàng hoá công
2
người qua cầu. Thu nhập của khu vực tư
nhân (thu nhập được
coi
là lợi ích) là P*Q
2
= diện tích OPAQ
2
; thặng dư tiêu dùng
trong trường hợp này là diện tích
PEA
→ tổng lợi ích kinh tế đạt được chính là diện tích
OEAQ
2
.
Nhắc lại: mục đích của tiêu dùng là hữu dụng (cái gì mang lại lợi ích cho người sử
dụng
thì
sẽ được tiêu dùng). Thặng dư tiêu dùng là sự biểu thị của hữu dụng được đo bằng
mức chênh
lệch
giữa mức giá sẵn lòng trả và mức giá phải trả. Kinh tế công gọi đây là
phúc lợi xã
hội.
Trường hợp 2: Nếu để chính phủ cung
cấp
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 19/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
Nếu khả năng chịu tải của cây cầu lớn hơn nhu cầu đi lại thì chính phủ sẽ cung cấp
Nếu năng lực cung cấp của hàng hoá công nhỏ hơn nhu cầu tối đa của việc sử dụng
hàng
hoá công khi đó chính phủ sẽ tiến hành thu phí sử
dụng.
Giả sử khả năng chịu tải của cây cầu chỉ cho phép tại mức Q
2
lượng người qua lại.
Khi
đó,
chính phủ sẽ tiến hành thu phí với mức phí là P được xác định bởi điểm cân bằng
giữa nhu cầu
và
đường chi phí
biên.
Mức phí P này bao gồm 2 ý
nghĩa:
P mang tính chất hạn chế để việc cung cấp hàng hoá công được hiệu quả chứ
không
mang
ý nghĩa thu hồi chi phí cung cấp hàng hoá công (P bằng 1 chi phí biên
nào đó, tương đối
nhỏ).
Trong nhiều trường hợp mức thu phí mang ý nghĩa khuyến khích tiết kiệm sử
dụng
hàng hoá công để việc cung cấp trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhiều đối tượng trong cộng
đồng hơn.
Giá cả E
Khả năng cung cấp
MC
P
O Q2 Qc Q0 Q1 Số lượng
(Trở lại ví dụ) Việc đi lại trên cầu có thể gây tắc nghẽn, tức là chi phí biên của việc
cung
cấp
sẽ lớn hơn 0 trước khi đạt mức tiêu dùng tối đa. Điều này được mô tả bằng
việc Q
c
(công
suất
thiết kế của cây cầu) nhỏ hơn Q
1
(mức tiêu dùng tối đa khi việc đi
lại trên cầu là miễn phí).
Như
vậy, lượng tiêu dùng hiệu quả nhất nên dừng lại ở mức Q
0
khi chi phí biên bằng lợi ích biên.
Mức
lệ phí sử dụng tối ưu là
OA.
Nếu chính phủ cung cấp miễn phí (P=0) thì sản lượng cung cấp sẽ là Q
1
và lúc này xã
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 21/25
BÀI TẬP TÀI CHÍNH CÔNG GVHD: PGS.TS. NGUYỄN HÒA NHÂN
hội
sẽ
phải gánh chịu một khoản tổn thất do tiêu dùng quá mức bằng diện tích EFQ
1
.
Như vậy, để quyết định xem nên cung cấp HHCC này theo hình thức nào, cung cấp
miễn
phí
(cung cấp công cộng) hay thu phí (cung cấp tư nhân), đòi hỏi phải so sánh giữa
những tổn thất
khi
cung cấp công cộng (diện tích EFQ
1
) và tổn thất khi cung cấp tư nhân
(CEQ
c
Q
2
). Nếu EFQ
1
nhỏ
hơn thì với HHCC này, cung cấp công cộng có thể là một
hình thức cung cấp hiệu quả
hơn.
* Tư nhân có cung cấp hàng hoá công hay không?
Hàng hoá công không nhất thiết là chỉ do chính phủ cung
cấp.
Ví dụ: các đội thu gom rác dân lập do tư nhân thực hiện, một người hiến đất để làm
nhà
hay
công viên, các trường học dân lập, tư
thục…
Tư nhân thực hiện dịch vụ công khi dịch vụ đó gắn trực tiếp với quyền lợi của
người
tiêu dùng và tất cả mọi người vì quyền lợi của mình sẵn lòng trả một số tiền nhất định
Thành, TS. Bùi Thị Mai Hoài – Trường Đại học Kinh tế TP.HCM – Nhà xuất bản Lao
động 2010.
Giáo trình Tài chính Công – Chủ biên: GS.TS. Dương Thị Bình Minh – Trường Đại học
Kinh tế TP.HCM – Nhà xuất bản Tài chính 2005.
Giáo trình Quản lý Tài chính Công – Chủ biên: PGS.TS Dương Đăng Chinh, TS. Phạm
Văn Khoan – Học viện Tài chính – Nhà xuất bản Tài chính 2009.
2. Danh mục các trang web tham khảo
www.google.com.vn
www.vneconomy.com.vn
www.chinhphu.vn
www.mpi.gov.vn
Nhóm 3 – Lớp 2 – K26 – Tài chính Ngân hàng Trang 24/25