LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu.
Từ khi mở cửa thị trường, xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với
quốc gia nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng. Riêng về xuất khẩu, xuất
khẩu đem lại nhiều lới ích cho một quốc gia, cho các doanh nghiệp của một
quốc gia. Về khía cạnh doanh nghiệp, xuất khẩu tạo nguồn thu lớn cho doanh
nghiệp, nó là điều kiện giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Ngoài những vai
trò của xuất khẩu đối với một doanh nghiệp thì xuất khẩu cũng mang lại cho
doanh nghiệp nhiều thách thức do nhiều yếu tố từ thị trường nước ngoài như: sự
khác biệt về văn hoá, chính trị, pháp luật, chính sách kinh tế; sức cạnh tranh
khốc liệt,… Do đó, để thành công khi kinh doanh trên thị trường quốc tế thì hoạt
động xuất khẩu đóng một vai trò hết sức quan trọng. Để thành công, ngay từ
hoạt động nghiên cứu thị trường đến hoạt động thực hiện hợp đồng thanh toán
tiền hàng đều phải được thực hiện một cách coi trọng và nghiêm ngặt.
Về sản phẩm gạch đá ốp lát cao cấp có nhiều đặc tính vượt trội so với sản
phẩm gạch đá ốp lát bình thường: bền, mầu sắc đẹp,… Đây là sản phẩm tiềm
năng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thẩm mỹ của thị trường. Trong tương
lai, đây là ngành rất có cơ hội phát triển, bởi đây là ngành sử dụng công nghệ
hiện đại, hiện trên thế giới có ít nhà mấy đang sử dụng công nghệ này. Hơn nưa,
đây là ngành rất phù hợp với điều kiện của nước ta. Doanh nghiệp cần nâng cao
hơn nữa hiệu quả của hoạt động xuất khẩu nhằm nâng cao vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường thế giới.
2. Mục đích của vấn đề nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu đề tài này: thứ nhất, thấy được thực trạng hoạt động
xuất khẩu gạch đá ốp lát cao cấp của VICOSTONE; thứ hai, đưa ra giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu gạch đá ốp lát cao cấp của Công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu lý luận hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và thực
trạng hoạt động xuất khẩu gạch đá ốp lát cao cấp trong phạm vi của Công ty CP
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
1
nghiệp khi bước vào lĩnh vực kinh doanh thương mại quốc tế, nhằm : Sử dụng
những lợi thế của doanh nghiệp; giảm chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng
cao khối lượng sản xuất; nâng cao được lợi nhuận vàgiảm rủi ro do tối thiểu hoá
sự dao động của nhu cầu.
Theo Điều 2 nghị định 57/1998 của Chính phủ, hoạt động xuất khẩu hàng
hoá là hoạt động bán hàng hoá của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước
ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái
xuất và chuyển khẩu hàng hoá. Như vậy, với khái niêmj như trên xuất khẩu là
một hoạt động kinh doanh nhưng phạm vi vượt ra khỏi biên giới quốc gia, hay
nói cách khác đó là hoạt động buôn bán với nước ngoài.
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với doanh nghiệp.
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của kinh tế đối ngoại. Xét ở khía cạnh
doanh nghiệp, hoạt động xuất khẩu có vai trò:
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
3
Thứ nhất, khi tham gia vào thị trường thế giới, tức tham gia hoạt động
xuất nhập khẩu, nó tạo động lực khiến doanh nghiệp phải nâng cao năng lực
cạnh tranh để có thể đứng vững trên thị trường. Khi đó, doanh nghiệp phải: xây
dựng hệ thống sản xuất đảm bảo chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, củng cố và
nâng cao hiệu quả trong kinh doanh, luôn luôn có chiến lược trong chính sách
giá cả có tính cạnh tranh nhất… Xuất khẩu là phương án tích cực nhất giúp
doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu.
Thứ hai, hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường, tăng
nhanh sản lượng tiêu thụ, tăng doanh thu, làm tăng tốc độ quay vòng vốn. Đồng
thời, khi tham gia vào thị trường thế giới, doanh nghiệp có cơ hội mở rộng mối
quan hệ, tận dụng sự hợp tác, từ đó mà doanh nghiệp chia sẻ được rủi ro.
Thứ ba, hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp
thu được lợi nhuận cao, đây là điệu kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
1.1.3. Mục tiêu của hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.
Khác với mục tiêu xuất khẩu của một quốc gia, đó là xuất khẩu để nhập
thủ tục và tương đối tin cậy.
1.2.3. Buôn bán đối lưu:
Đây là hình thức giao dịch mà xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu,
người bán đồng thời là người mua. Mục đích của hình thức này không phải
nhằm thu ngoại tệ mà nhăm thu về một lượng hàng có giá trị tương giá trị của lô
hàng đã xuất. Có nhiều loại hình buôn bán đối lưu: hàng đổi hàng, trao đổi bù
trừ, mua đối lưu, chuyển giao nghĩa vụ, mua lại hoặc thực hiện giao dịch bồi
hoàn.
1.2.4. Xuất khẩu tại chỗ.
Đó là hình thức cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho ngoại giao đoàn, cho
khách du lịch quốc tế,…Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt hiệu quả cao do
giảm bớt chi phí đóng gói, chi phí bảo quản, vận tải, thời gian thu hồi vốn
nhanh, nhưng lượng hàng xuất thì không nhiều.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
5
1.2.5. Gia công quốc tế
Là hình thức trong đó bên nhận gia công nhập nguyên liệu hoặc bán
thành phẩm của bên đặt gia công để chế biến ra thành phẩm theo yêu cầu của
bên đặt gia công. Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công
ăn việc làm cho người lao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để
phát triển sản xuất. Đây là hình thức được áp dụng phổ biến ở các nước đang
phát triển có nguồn nhân công dồi dào. Đối với nước đặt gia công cũng có lợi
khi khai thác nguồn nhân công dồi dào với giá rẻ, nguồn nguyên liệu sẵn có của
các nước nhận gia công.
1.2.6. Tạm nhập tái xuất
Là hình thức xuât khẩu đi những hàng hoá đã nhập khẩu sang nước khác
mà chưa qua gia công chế biến hay sử dụng ở nước tái xuất. Mục đích của hình
thức này là thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn số bỏ ra ban đầu. Có hai hình thức
tạm nhập tái xuất:
- Hàng hoá được nhập vào nước tái xuất, sau đó mới xuất sang nước khác.
quán buôn bán, hệ thống pháp luật,.v.v. Mục tiêu của việc phân loại để nắm bắt
thị trường và có kế hoạch giói thiệu snả phẩm cụ thể thông qua chào hàng.
- Gạn lọc sơ bộ những thị trường không thích hợp : Đó là các thị trường
có chế độ bảo hộ mậu dịch khắt khe ; yêu cầu quá cao đối với chất lượng sản
phẩm; đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó quá mạnh;…
- Tiếp theo đó là lựa chọn thị trường mục tiêu để thực hiện xuất khẩu.
Trong một thị trường có rất nhiều khách hàng, và để chọn đối tác thường dựa
vào những điều kiện sau:
- Thương nhân có uy tín trong kinh doanh hoặc có quen biết.
- Thương nhân có thế lực về tài chính.
- Có thiện chí trong quan hệ buôn bán với ta, không biểu hiên hành vi
lưa đảo.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
7
1.3.2. Lập phương án xuất khẩu.
Công tác lập phương án xuất khẩu là một công tác quan trọng, bởi trong
giai đoạn này nguồn vốn bắt đầu được huy động, do đó các vấn đề cần được
xem xét, tính toán một cách chính xác nhất. Công việc trong công tác lập
phương án xuất khẩu bao gồm:
1.Tính toán đưa ra dự trù tổng chi phí
Tổng chi phí = Tổng giá vốn + chi phí lưư thông + chi phí quản lý DN +
chi phí tài chính( lãi xuất vay vốn, chênh lệch tỷ giá) + Tổng thuế phải chịu.
Trong đó, chi phí lãi xuất trong chi phí tài chính là chi phí chiếm tỷ trọng
lớn trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu và loại chi phí này phụ thuộc vào các
yếu tố chủ quan :
+ Phụ thuộc vào khả năng huy động vốn với lãi suất phải chăng, vào thời
hạn huy động vốn.
+ Phụ thuộc vào năng lực khai thác các nguồn vốn tài trợ của chính phủ
chi xuất khẩu, cho mua công nghệ, trang thiết bị cấp cao.
- Giá thành xuất khẩu + lợi nhuận + chi phí bán hàng = giá xuất xưởng(Ex
Works Price).
- Giá xuất xưởng + chi phí vận tải nội địa + các chi phí lưu kho, lưu bãi
cầu cảng, bốc xếp = giá FOB
- Giá FOB + chi phí vận tải = giá CFR
- Giá CFR + phí bảo hiểm = giá CIF
Ngoài ra còn cần phải cộng thêm chi phí khác như : phí ngân hàng, phí ký quỹ
( phí bảo đảm); ngoại hối kỳ hạn (cost of forward exchange cover); các phí
EFIC v.v...
Giá hàng xuất khẩu được xác định liên quan đến 2 điểm cơ bản: Mức giá
nào người nhập khẩu có thể đảm bảo chi phí lợi nhuận dự tính hợp lý và mức giá
nào được thị trường chấp nhận. Gía xuất khẩu dự tính ở mức thấp nhất cho phép.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
9
Lưu ý: Doanh nghiệp không nên đặt ra một mức giá thấp giả tạo ( giá thấp
không phải do chi phí thấp) khi đưa sản phẩm vào một thị trường xuất khẩu bởi
vì nếu đã đặt giá thấp thì sẽ rất khó để có thể nâng mức giá đó lên mức thực tế
của nó trong thời gian sau.
3. Ngoài những công việc trên, doanh nghiệp xuất khẩu còn phải dự báo
tỷ giá hối đoái .
Tỷ giá hối đoái dự báo ở thời điểm thanh toán ở mức xuống thấp nhất của
đồng USD so với VND
1.3.3. Tạo nguồn hàng.
Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ những hoạt động từ đầu tư, sản
xuất, kinh doanh cho đến các nghiệp nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng, vận chuyển, bảo quản, sơ chế, phân loại nhằm tạo ra hàng
hoá có đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu. Yêu cầu đối với việc thu gom
hàng xuât khẩu là phải đúng về phẩm chất, đủ về số lượng hàng hoá và đảm bảo
thời gian giao hàng.
Như vậy công tác tạo nguồn hàng cho xuất khẩu có thể được chia thành 2
2. Tiếp nhận hàng.
Có hai công việc chính trong giai đoạn này
• Chuẩn bị nhận hàng:
Chuẩn bị kho chứa, phương tiện bốc dỡ- vận chuyển, thiết bị dụng cụ cân
đo đong đếm và dụng cụ kiểm nghiệm hàng; chuẩn bị cán bộ và công nhân tiếp
nhận; chuẩn bị các giấy tờ và chứng từ cần thiết theo thủ tục quy định.
• Nhận hàng:
Tiến hành đồng thời việc nhận hàng theo số lượng ( kiểm tra số lượng
hàng thực nhận và đối chiếu với số lượng hàng giao trên chứng từ kèm theo như
hợp đồng kinh tế, phiếu giao hàng , hoá đơn .v.v..) và nhận hàng theo chất
lượng( xác định hàng hoá giao có đúng chất lượng quy định trong hợp đồng hay
không).
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
11
1.3.4. Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu
quan trọng trong hoạt động xuất khẩu. Đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng
trong mua bán quốc là cả một quá trình cần có kiến thức sâu rộng. Bởi, việc mua
bán ở đây là mua bán giữa các quốc gia khác nhau về nhiều mặt : ngôn ngữ, văn
hóa, luật pháp,…Do vậy, trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng phải hiểu rõ
các điều khoản mà đối tác đưa ra. Trong quá trình đàm phán còn phải căn cứ
vào nhu cầu sản phẩm trên thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng điều kiện và
mục tiêu của doanh nghiệp cũng như mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác.
Có các hình thức đàm phán sau thường được áp dụng :
- Đàm phán qua thư tín.
Đàm phán qua thư tín là phương thức trao đổi thông tin giữa các đối tác
bằng hình thức viết thư. Phương thức này cho phép đàm phán được nhiều bạn
hàng nhưng lại giảm được chi phí đàm phán. Các quyết định đưa ra đượccân
nhắc kỹ lưỡng vì có sự chuẩn bị trước của cả một tập thể. Bên cạnh những ưu
điểm thì việc đàm phán qua thư tín có hạn chế là khó kiểm soát được ý đồ của
Đây là bước nhà xuất khẩu chào hàng tới nhà nhập khẩu. Có 2 loại chào
hàng là chào hàng cố định (Firm offer or Binding offer) và chào hàng tự do
( Free offer).
Nội dung chào hàng: Số hiệu chào hàng, tên người mua, tên người bán,
tên hàng, quy cách phẩm chất, số lượng, giá cả, điều kiện cơ sở giao hàng, thời
hạn giao hàng, điều kiện thanh toán, bao bì, kỹ mã hiệu, thể thức giao nhận hàng
v.v....
2. Hoàn giá ( Counter Offer)
Có thể xuất phát từ phía người bán hoặc người mua.
Thực chất hoàn giá là việc mặc cả các điều kiện giao dịch trong thương
mại. Khi một hoàn giá đã được đưa ra, nó làm vô hiệu bản phát giá trước đó và
được coi là một bản phát giá mới.
3. Chấp nhận ( Acceptance)
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
13
Bên nhận chào hàng hoặc hoàn giá thông báo chấp nhận toàn bộ nội dung
đã nêu ra trong chào hàng hoặc hoàn giá.
* Điều kiện hiệu lực của chấp nhận:
- Chấp nhận hoàn toàn không có bảo lưu: Không thay đổi 6 nội dung chủ
yếu: Tên hàng, Chất lượng, Số lượng, Giá cả, Thanh toán, Giao hàng.
- Chấp nhận đó phải do chính tay người được chào hàng (Offeree) chấp
nhận.
* Giá trị pháp lý của chấp nhận:
- Đối với chào hàng tự do: Hợp đồng chưa được ký kết.
- Đối với chào hàng cố định: Hợp đồng được ký kết.
4. Xác nhận ( Confirmation)
Là việc khẳng định lại các điều kiện hai bên đã thoả thuận bằng văn bản.
Xác nhận thường làm thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi cả hai
bản cho phía bên kia, sau khi ký bên nhận giữ lại một bản rồi gửi trả lại một bản
cho bên lập xác nhận.
ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng việc thu đòi tiền.Chứng từ thanh toán cần
được lập hợp lệ, chính xác và được nhanh chóng giao cho ngân hàng nhằm
nhanh chóng thu hồi vốn.
Hình thức L/C là hình thức thanh toán phổ biến vì đảm bảo được lợi ích
của cả hai bên.
1.3.6. Hoạt động xúc tiến xuất khẩu.
Hoạt động xúc tiến xuất khẩu là việc làm rất quan trọng nó sẽ quyết định
việc tồn tại hay phát triển của một doanh nghiệp. Hoạt động xúc tiến xuất khẩu
cần phải thực hiện cùng một lúc hướng vào cả hai đối tượng là người tiêu dùng
và các nhà nhập khẩu. Cụ thể:
Về xúc tiến bán hàng: Các doanh nghiệp xuất khẩu gửi hàng đến các khác
hàng và khuyến khích họ dùng sản phẩm của doanh nghiệp, kịp thời nắm bắt
những phản ứng của họ đối với sản phẩm, thời gian giao hàng, phương thức giao
hàng,… Các doanh nghiệp tổ chức những hội nghị khác hàng, tham gia hội chợ,
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
15
…chủ yếu với khách hàng nước ngoài nhằm giới thiệu cho họ thấy rõ khả năng
trong việc đáp ứng tốt các nhu cầu của các nhà nhập khẩu.
Về hoạt động quảng cáo: Quảng cáo không chỉ đơn thuần là vấn đề thông
tin mà còn giới thiệu, thuyết phục người tiêu dùng. Thông qua các phương tiện
thông tin như truyền hình, qua các webside, các tạp chí ở nước ngoài… để giới
thiệu sản phẩm của doanh nghiệp.
Về bán hàng trực tiếp: Các doanh nghiệp tổ chức bán hàng tại các cửa
hàng, các văn phòng đại diện. Doanh nghiệp cần bố trí gian hàng và đào tạo
nhân viên bán hàng.
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ CHỈ
TIÊU ĐÁNH GIÁ.
1.3.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu.
1.3.1.1. Những nhân tố khách qua.
1. Nhân tố luật pháp và chính trị.
bị ảnh hưởng nhiều của kinh tế thế giới.
Đối với công ty, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu, cùng với đó
là nguyên vật liệu để sản xuất cũng chủ yếu là nhập khẩu, do đó, tình hình kinh
tế thế giới, tình hình kinh tế trong nước và của nước nhập khẩu đều là nhân tố
ảnh hưởng lớn của công ty.
Trong thời gian qua, giá dầu thô trên thế giới không ngừng biến động đã
có ảnh hưởng đáng kể đến đơn giá nguyên vật liệu nhập khẩu của công ty, đồng
thời ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động của công ty. Tuy nhiên, do tạo
dựng được thị trường tiêu thụ ổn định, có uy tín, bên cạnh đó nhờ có chiến lược
hợp lý, công ty luôn ổn định được nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu có chất
lượng yêu cầu và giá cả cạnh tranh cao nhất. Đồng thời chính sách thị trường
linh hoạt, phù hợp có thể hạn chế ảnh hưởng của sự biến động đầu vào.
Trong thời gian tới, công ty sẽ tập trung tối đa nguồn nguyên vật liệu sản
xuất trong nước, hợp tác xây dựng với các nhà máy khai thác, chế biến thạch
anh ngay tại mỏ để giảm được chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chủ động nguồn
thạch anh.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
17
3. Nhân tố xã hội.
Nhân tố xã hội cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt
động sản xuất và xuất khẩu của công ty, thể hiển ở nhu cầu của xã hội về sản
phẩm của công ty.
Thị trường đá ốp lát cao cấp nhân tạo thế giới đang ở giai đoạn phát triển
mạnh mẽ. Trên thực tế, nguồn cung các sản phẩm đá nhân tạo vẫn thấp hơn cầu
trên thị trường thế giới. Trong khi đó, nguồn đá tự nhiên thì hữu hạn và chi phí
khai thác đá tự nhiên ngày càng cao, vì vậy nhu cầu sử dụng đá ốp lát nhân tạo
thay thế cho đá tự nhiên trên thế giới, đặc biệt trong các ứng dụng ốp mặt đứng,
lát sàn, bàn bếp, bồn rửa trong nhà tắm là tất yếu. Bởi đá nhân tạo có nhiều ưu
việt như: tính thẩm mỹ cao, đảm bảo yêu cầu vệ sinh, an toàn đối với các loại
sản phẩm, có thể ứng dụng đa dạng vào các công trình xây dựng, sản xuất đồ nội
ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó, trên thế giới có khoảng 40 doanh nghiệp có
kinh nghiệm 30 – 40năm cùng hoạt động trong lĩnh vực này .
Từ những phân tích thấy được, thị trường thế giới đang là cơ hội cho
VICOSTONE thâm nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu, nhưng Công ty cũng
phải có những chiến lược riêng cho mình để năng cao năng lực cạnh tranh với
các doanh nghiệp có kinh nghiêm lâu năm,
1.3.1.2. Những nhân tố chủ quan.
1. Tài chính của công ty.
Tài chính công ty là một trong những nhân tố quan trọng, nó quyết định
sức mạnh, năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường. Một khi công ty có
nguồn vốn, công ty sẽ có những kế hoạch hợp lý cho sản xuất để đem lại hiệu
quả cao nhất. Cụ thể như: công ty có sẵn nguồn vốn lớn công ty sẽ mua được
nguyên vật liệu đầu vào với giá rẻ, từ đó giảm được giá thành sản phẩm. Một
mặt nữa là công ty sẽ không phải huy động nguồn vốn ở bên ngoài như vay ngân
hàng, điều đó có nghĩa cơ cấu Nợ/ Vốn chủ sở hữu thấp, chi phí lãi vay giảm.
Sự trường vốn cũng tạo ra khẳ năng nắm bắt thông tin nhanh chóng hơn,
chính xá hơn do có điều kiện sử dụng các thông tin hiện đại. Ngoài ra, nó còn
cho phép công ty thực hiện các công cụ marketing quốc tế trên thị trường về giá
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
19
cả, cách thức phân phối, hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán hàng, do vậy mà
tạo điều kiện xuất khẩu được nhiều hơn.
Vicostone là công ty hoạt động theo hình thức cổ phần, công ty có thể huy
động vốn thông qua phát hành cổ phiếu. Đây là hình thức huy động vốn tối ưu.
2. Mặt hàng xuất khẩu.
Mặt hàng xuất khẩu là một yếu tố quan trọng, nó quyết định sự thành
công của doanh nghiệp trên thị trường thế giới. Ảnh hưởng của nhân tố này đến
hoạt động xuất khẩu thể hiện ở: chất lượng, màu sắc, kích thước, chủng loại của
sản phẩm. M ặt hàng xuất khẩu càng có được nhiều các đặc tính trên thì càng
đáp ứng cao nhu cầu của thị trư ờng.Một khi sản phẩm của doanh nghiệp được
đã nhanh chóng xây dựng được uy tín và thương hiệu của mình trên những thị
trường lớn và khó tính. Hiên nay, uy tín và thương hiệu sản phẩm của công ty
đang được thị trường thế giới biết đến và đón nhận lồng nhiệt. Công ty nhanh
chóng giành được chỗ đứng trên thị trường thế giới , ngày càng tăng nhanh thị
phần. Công ty đang mở rộng phạm vi xuất khẩu sang những thị trường mới đầy
khó tính.
1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hoạt động xuất khẩu.
1.3.2.1. Chỉ tiêu định tính.
Thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp:
Uy tín của doanh nghiệp là sự tin tưởng của khách hàng. Uy tín ở đây bao
gồm: đảm bảo đúng thời gian giao hàng, giao hàng đúng chất lượng, đủ số
lượng,… . Đặc biệt trên thị trường thế giới, uy tín của doanh nghiệp được coi là
vấn đề quan trọng đầu tiên quyết định một mối làm ăn lâu dài, mở ra những thị
trường mới.
Ngay từ khi tham gia thị trường Vicostone đã tạo được niềm tin với mọi
đối tác, từ ngay khâu quản lý chất lượng nhằm đảm bảo sản phẩm luôn giữ được
tiêu chuẩn chất lượng, đến thời gian giao hàng, đủ số lưọng và các điều khoản
trong hợp đồng.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
21
1.3.2.2. Chỉ tiêu định lượng.
1. Chỉ tiêu kết quả :
Kim ngạch xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu thể hiện giá trị của tổng lượng hàng xuất
khẩu.Thông thường kim ngạch xuất khẩu được thống kê theo hàng năm, (thể
hiện dưới đơn vị tiền tệ VND hoặc đơn vị ngoại tệ của nước xuất khẩu). Giá trị
kim ngạch xuất khẩu càng lớn thì càng thể hiện được năng lực hoạt động xuất
khẩu của công ty.
Kim ngạch xuất khẩu của VICOSTONE trong những năm qua liên tục
tăng, đã khẳng định được năng lực xuất khẩu của công ty. Năm 2005 là 8,04
Bảng sau đã được tính toán và đưa ra kết qủa.
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời Đơn vị
tính
2005 2006 2007 2008
1. Tỷ xuất lợi nhuận trước thuế/
Doanh thu thuần.
% -5,96 2,76 15,22 22,35
2.Tỷ xuất lợi nhuận sau thuế/
Vốn chủ sở hữu.
% -34,72 15,89 22,50 24,93
3.Tỷ xuất lợi nhuận sau thuế/
Tổng tài sản.
% -2,13 1,47 8,7 13,44
(Nguồn: BCTC
Vicostone)
Các tỷ suất sinh lời của công ty năm 2008 tăng mạnh so với năm 2007,
2006, 2005. Cụ thể, Hệ số lợi nhuận sau thế/doanh thu thuần năm 2005 vẫn còn
ở mức ( -5,96)% đến năm 2007 tăng 15,22% và ở mức cao là 22,35%. Hệ số lợi
nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu tăng nhanh từ -34,72 năm 2005 tăng lên 24,93%
vào năm 2008. Hệ số này tăng cho thấy khả năng huy động và sử dụng vốn
ngày càng có hiệu quả.
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47
23
Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, có rất nhiều yếu
tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty, không ít doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên Công ty vẫn hoạt động tốt, duy trì các chỉ
số tài chính ở mức cao và ổn định.
1.4. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GẠCH ĐÁ VIỆT NAM.
Nhiều trung tâm khai thác chế biến đá ốp lát đã hình thành ở các địa
phương, nổi bật nhất là tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Định, Khánh Hoà, Phú
được đá chất lượng tốt, khối lượng lớn.
Về chế biến đá ngoại trừ một số công ty lớn có năng lực trang thiết bị
thiết bị cưa, xẻ mài, đánh bóng hiện đại, sử dụng máy cưa dây, cưa dàn, máy
mài liên tục 10-16 đầu mài tự động, máy cắt mài cạnh chuẩn xác, sản phẩm đạt
chất lượng cao cấp, kích thước lớn. Còn lại đa số xí nghiệp nhỏ dùng công nghệ
cũ, kết hợp cơ giới và thủ công sản xuất sản phẩm kích thước nhỏ, chất lượng
không đồng nhất, thiếu sức cạnh tranh, không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, không
vào được các công trình xây dựng cao cấp.
1.4.2. Về tiềm năng phát triển.
Tiềm năng khoáng sản để sản xuất đá ốp lát của nước ta rất đa dạng
phong phú về chủng loại đá Granite, đá cẩm thạch, đá gabro, đá bazan, đá
mabro, thạch anh màu sắc các loại: màu đỏ, vàng, trắng, hồng, xanh, lục, đen…
với trữ lượng rất lớn, theo tài liệu tìm kiếm thăm dò của 6 vùng: Tây Bắc, Đông
Bắc Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và duyên hải miền Trung,
miền Đông Nam bộ và Tây Nam Bộ, có 325 mỏ, với trữ lượng tìm kiếm là 37 tỉ
m
3
, đến nay chưa có khảo sát đầy đủ, chỉ khảo sát một số lượng mỏ rất nhỏ do
các chủ xí nghiệp khảo sát để khai thác. Dự kiến trữ lượng có thể khai thác được
trên 4 tỉ m
3
. Đây là một trữ lượng đá rất lớn có thể khai thác, chế biến hàng trăm
tỷ m
2
đá ốp lát phục vụ xây dựng đất nước và xuất khẩu lâu dài.
Về thị trường tiêu thụ đá ốp lát ngày càng mở rộng theo khuynh hướng
“kiến trúc thân thiện với môi trường” dùng đá xây dựng, đá ốp lát trong nhà, sân
vườn, làm hàng nội thất tạo ra môi trường mát mẻ đưa cuộc sống gắn liền với
thiên nhiên. Cộng với những yếu tố khác lượng đá ốp lát tiêu thụ nội địa ở nước
Nguyễn Thị Thu Thùy Lớp: Thương mại quốc tế 47