HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TỔNG QUAN KHOA HỌC
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ TUYỂN THẦU NĂM 2006
Mã số: B.06-50 NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Cơ quan chủ trì: Viện Quản lý kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Ngô Quang Minh
Thư ký đề tài: Th.S Bùi Văn Huyền
6711
Thư ký đề tài: Th.S Bùi Văn Huyền
Hà Nội, 2007
1
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1.1. Bối cảnh ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
1.1.1. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - tiền
thân của WTO
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gọi tắt theo tiếng Anh là
GATT) là một trong những thành quả của việc tổ chức lại các quan hệ kinh tế
quốc tế
sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Ban đầu, với sáng kiến của Mỹ, các
chuyên gia kinh tế Mỹ, Anh đã bắt tay soạn thảo những nội dung chính nhằm
thiết lập một tổ chức kinh tế quốc tế sau chiến tranh.
Tại Hội nghị Bretton Woods (7/1944), cùng với việc thành lập Quĩ
Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Tái thiết và phát triển Quốc tế (IBRD),
44 quốc gia tham dự hội nghị thống nhấ
t tham gia đàm phán thành lập Tổ
chức Thương mại Quốc tế (ITO) và Liên hợp quốc được giao nhiệm vụ xúc
tiến thành lập. Ngày 18/2/1946, Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc
Cục Thống kê Bắc Ninh
PGS.TS Kim Văn Chính Viện Quản lý kinh tế
ThS. Nguyễn Anh Dũng
Viện Quản lý kinh tế
ThS. Nguyễn Thị Kim Đoan
Học viện Chính trị khu vực 3
TS. Trịnh Thị Ái Hoa
Viện Quản lý kinh tế
TS. Đặng Ngọc Lợi
Viện Quản lý kinh tế
ThS. Hồ Thị Hương Mai
Viện Quản lý kinh tế
ThS. Ngô Đức Minh
Viện Quản lý kinh tế
ThS. Đinh Thị Nga
Viện Quản lý kinh tế
TS. Nguyễn Quốc Thái
Viện Quản lý kinh tế ii
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: WTO VÀ VIỆT NAM
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 1
1.1. Bối cảnh ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 1
1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổ chức thương mại Thế giới 5
1.3. Các hiệp định của WTO 16
1.4. Các hoạt động đặc biệt 31
5.6. Gia nhập WTO và lĩnh vực ngân hàng 161
Chương 6: GIA NHẬP WTO VÀ LĨNH VỰC XUẤT NHẬP KHẨU 171
6.1. Xuất khẩu Việt Nam trước khi gia nhậ
p WTO: Thành tựu và vấn đề đặt ra 171
6.2. Xuất nhập khẩu sau khi gia nhập WTO 182
6.3. Một số đánh giá ban đầu về tác động sau gia nhập WTO đến xuất nhập
khẩu của Việt Nam
185
6.4. Một số giải pháp 190
Chương 7: GIA NHẬP WTO VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 194
7.1. Tổng quan đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 194
7.2. Đánh giá chung về đầu tư nước ngoài với kinh tế Việt Nam 197
7.3. Những cam kết
đầu tư của Việt Nam trong khuôn khổ WTO 205
7.4. Đầu tư kể từ khi gia nhập WTO và một số vấn đề đặt ra 208
7.5. Cải cách đầu tư và những tác động của gia nhập WTO đối với đầu tư
nước ngoài
211
7.6. Một số giải pháp 221
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Quy trình giải quyết tranh chấp của WTO 24
Bảng 1.2 Thực thi Hiệp định Dệt – May 29
Bảng 2.1
Tốc độ tăng và đóng góp của các nhóm ngành vào tốc độ tăng trưởng
năm 2007
54
Bảng 5.1 Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của các phân ngành dịch vụ 145
Bảng 5.2 Tỷ trọng đóng góp của các ngành kinh tế cho GDP 146
Bảng 5.3
Tỷ trọng đóng góp của một số dịch vụ động lực trong GDP giai đoạn
1995-2000
148
Bảng 5.4 Vận tải hành khách và hàng hoá 7 tháng năm 2007 157
Bảng 5.5 Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng 162
B
ảng 6.1 Giá trị (triệu USD) và thị trường xuất khẩu (%) của Việt Nam 175
Bảng 6.2 Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu 2004-2006 177
Bảng 6.3 Các yếu tố cấu thành tăng trưởng xuất khẩu 178
Bảng 6.4 Quy mô và tốc độ tăng của từng khu vực thị trường so với năm 2005 179
Bảng 6.5 Tỷ trọng hàng hoá Việt Nam so với tổng hàng nhập khẩu của Mỹ (%)
180
Bảng 6.6
Một số chỉ tiêu sau 9 tháng gia nhập WTO (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm
trước
183
Bảng 6.7
20 nhóm hàng hoá nhập khẩu có lượng và giá trị tăng mạnh trong quý
I/2007
188
Bảng 7.1 Cải cách liên quan đến đầu tư 214 iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu Tên hình
Biến đổi cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp 111
Hình 4.3
Kim ngạch xuất khẩu một số nông sản chủ yếu 113
Hình 5.1
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của GDP và lĩnh vực dịch vụ 144
Hình 5.2
Chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2005-2007 155
Hình 6.1
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua một số năm 171
Hình 6.2
Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm của Việt Nam 172
Hình 6.3
Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP 172
Hình 6.4
Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người 173
Hình 6.5
Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD 174
Hình 6.6
Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ (triệu USD) và tốc độ tăng trưởng
hàng năm
Hình 7.7
So sánh cơ sở hạ tầng của các nước trong ASEAN 219 v
DANH MỤC CÁC HỘP
Số hiệu Tên hộp Trang
Hộp 1.1 WTO thuộc về ai? 11
Hộp 1.2
Phương thức biểu quyết có thể được áp dụng 15
Hộp 2.1
Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam 37
Hộp 2.2
Khả năng và mối quan tâm đối với việc tham gia hệ thống 42
Hộp 2.3
Thế nào là “biểu thuế tối đa” và “biểu thuế tăng dần”? 43
Hộp 3.1
Dự án Intel 84
Hộ
p 3.2
Chính sách công nghiệp cần đồng hành cùng doanh nghiệp 85
Hộp 3.3
Ý kiến doanh nghiệp về chính sách phát triển công nghiệp 86
Hộp 3.4 Nội dung cơ bản của cam kết trong lĩnh vực công nghiệp 86
Hộp 3.5
Doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được cơ hội 96
Hộp 4.1
Thế nào là “bóp méo cạnh tranh”? 118
Hộp 7.2
Nội dung chính của hiệp định TRIMs 206
Hộp 7.3
Sự khác biệt giữa cam kết gia nhập WTO và pháp luật Việt Nam 210
Hộp 7.4
Tập trung đầu tư cho nhân lực để đón dòng vốn FDI 223 vi
MỞ ĐẦU
Mục tiêu đề tài nhằm phân tích, đánh giá tác động tới nền kinh tế Việt Nam khi
gia nhập WTO. Để thực hiện mục tiêu, ban chủ nhiệm đề tài lựa chọn cách tiếp cận,
phân tích theo cơ cấu ngành (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ), ngoài ra có phân
tích thêm 2 lĩnh vực là xuất nhập khẩu và đầu tư. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,
sự tách bạch tác động theo cơ cấu nêu trên không rõ ràng, một cam kết có thể tác
động lên nhiều lĩnh v
ực, đồng thời một lĩnh vực chịu tác động từ nhiều hiệp định, cam
kết. Những tác động đan xen, hoà quyện, rất khó bóc tách gây những khó khăn
nhất định trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, thời gian gia nhập WTO của Việt Nam
chưa được 1 năm, những tác động chưa bộc lộ hết, nhiều cam kết chưa được thực
thi, do đó một số kết luận chủ yếu mang tính dự
báo.
Sau gần 1 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi
nhất định. Tuy vậy, ban chủ nhiệm và các cộng tác viên không thể bóc tách những
tác động do riêng WTO mang lại với những hiệp định đa phương và song phương
khác. Nói cách khác, những kết quả đạt được của nền kinh tế sau gia nhập WTO có
bao nhiêu phần trăm do kết quả của tổ chức này mang lại đã không được phân tích
trong phạm vi đề tài.
Một số yếu tố khác, có ảnh hưởng đến những kết quả đạt được của nền kinh tế
trong giai đoạn vừa qua như cải cách cơ cấu kinh tế trong nước, hoàn thiện hệ thống
Chúng ta đánh giá quá cao, quá mức sự kiện gia nhập WTO. Đánh giá
quá cao theo cách lạc quan tếu. Nếu như vậy thì rất nguy hiểm. Vào WTO
là đất nước "đổi đời", không có chuyện đó đâu.
Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển
trong cuộc giao lưu với báo vietnamnet
Không ở đâu như Việt Nam, người dân tổ chức đi bộ, míttinh chào mừng
tổ chức thành công APEC và gia nhập WTO. Tôi hoàn toàn không phê
phán, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chẳng giải quyết được vấn đề gì. Các
phong trào đó cần khẳng định quyết tâm, tận dụng được cơ hội, vượt qua
thách thức … để làm cái gì tốt hơn. Nếu đặt không đúng, không phấn đấu
đượ
c thì lại tạo ra thất vọng, lúc bấy giờ lại đổ tại đàm phán.
"Việt Nam được nhiều hay mất nhiều phụ thuộc vào chính Việt Nam"
Pascal Lamy, Tổng giám đốc WTO
2
ITO vẫn chưa được thông qua. Chiến tranh Thế giới II vừa kết thúc, các nước
đều muốn sớm thúc đẩy tự do hoá thương mại, và bắt đầu khắc phục những
hậu quả của các biện pháp bảo hộ còn sót lại từ đầu những năm 1930. Do vậy,
ngày 23/10/1947, 23 nước đã ký "Nghị định thư về việc áp dụng tạm thời"
(PPA), có hiệu lực từ 1/1/1948, thông qua nghị định thư
này, Hiệp định
62
1973-
1979
Geneva
(Vòng Tokyo)
Thuế quan, các biện pháp phi quan thuế,
các hiệp định "khung"
102
1986-
1994
Geneva
(Vòng Uruguay)
Thuế quan, các biện pháp phi quan thuế,
dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, giải quyết
tranh chấp, hàng dệt, nông nghiệp, thành
lập WTO, v.v
123
Năm vòng đàm phán đầu tiên chủ yếu tập trung vào đàm phán giảm
thuế quan. Bắt đầu từ Vòng đàm phán Kenedy, nội dung của các vòng đàm
phán mở rộng dần sang các lĩnh vực khác. Vòng đàm phán cuối cùng - Vòng
Uruguay - đã mở rộng nội dung sang hầu hết các lĩnh vực của thương mại bao
gồm: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và
3
cho ra đời một tổ chức mới thay thế cho GATT - đó là WTO.
Trong suốt quá trình tồn tại, GATT đã trở thành hệ thống thể chế và
pháp lý của nền thương mại quốc tế, hiệp định của GATT cũng là hiệp định
đa phương duy nhất điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế. Mặc dù còn
những khiếm khuyết nhất định nhưng trong thời gian 48 năm tồ
n tại, GATT
4
và 80 đã thúc đẩy các nước xây dựng các loại hình bảo hộ phi thuế quan để đối
phó với hàng nhập khẩu, đồng thời thực hiện nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp.
Những biến đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị mà việc giảm
thuế quan mang lại cho thương mại quốc tế. Trong khi đó, phạm vi của GATT
không cho phép đề cập một cách cụ thể và sâu r
ộng đến các vấn đề này.
- Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu điều tiết
thương mại hàng hoá hữu hình. Đến những năm 80, GATT đã không còn
thích ứng với thực tiễn thương mại thế giới bởi sự phát triển nhanh chóng của
các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng
không, vận tải biển, du lịch, xây d
ựng, tư vấn . Cùng với các loại hình
thương mại dịch vụ, các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng và trở thành
một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế, đòi hỏi những thay đổi sâu
rộng trong các hiệp định cũng như mô hình tổ chức.
- Một s
ố khiếm khuyết trong lĩnh vực thương mại hàng hoá dần bộc lộ.
Chẳng hạn trong nông nghiệp và dệt may, các cố gắng tự do hoá thương mại
đã không đạt được thành công như mong muốn. Kết quả là còn rất nhiều
ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này.
- Cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng tỏ ra
không thích ứng vớ
i tình hình thế giới. Thương mại quốc tế ở những năm 80
và 90 đòi hỏi phải có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc
để đảm bảo thực thi các hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế,
trong khi đó GATT chỉ là một hiệp định. Về hệ thống giải quyết tranh chấp,
GATT chưa có một cơ chế đ
nhằm giảm đáng kể thuế, hàng rào cản trở thương mại và loại bỏ sự phân biệt
đối xử trong TMQT. Mục tiêu gián tiếp của WTO nhằm:
- Nâng cao mức sống;
- Bảo đảm tạo đầy đủ việc làm, đảm bảo tăng trưởng vững chắc thu
nhập và nhu cầu thực tế;
- Phát triển vi
ệc sử dụng các nguồn lực của thế giới;
- Mở rộng sản xuất và trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Có thể cụ thể hoá mục tiêu của WTO theo ba giác độ: kinh tế, chính trị,
xã hội.
Mục tiêu kinh tế của WTO là đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế
theo hướng tự do. Thông qua việc thiết lập hệ thống các cam kết đa phương,
WTO hướng đến tạo l
ập và duy trì môi trường thương mại tự do có thể quản
lý được, hướng các quốc gia tới việc thực thi chính sách thương mại ổn định,
minh bạch, có thể dự đoán được nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kinh
doanh có thể ra các quyết định đúng, nhờ đó không chỉ các quốc gia tham gia
thương mại quốc tế có thể tăng trưởng việc làm, thu nhập và phát triển bền
v
ững, mà nền kinh tế thế giới cũng đạt tới trạng thái hiệu quả.
Mục tiêu chính trị của WTO là thiết lập một thể chế pháp lý toàn cầu
1
Vụ Chính sách thương mại đa biên -Bộ Thương mại (2000), Kết quả vòng đàm phán Urugoay về hệ thống
thương mại đa biên, NXB Thống kê, Hà Nội.
6
cho phép duy trì môi trường thương mại ổn định, khuyến khích thương mại tự
do, hạn chế các quốc gia đưa ra các chính sách thương mại tuỳ tiện làm tổn
hại đến quá trình phát triển thương mại quốc tế.
dựa trên hai nguyên tắc: (1) Nhân nhượng lẫn nhau: Một quốc gia không thể
chỉ “nhận” mà cần có những điều khoản để đổi lại; (2) Đối xử đặc biệt với
nước đang phát triển, nhất là các nước kém phát triển.
Ba là: Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên trên cơ sở Quy
7
định và thủ tục giải quyết tranh chấp. WTO nỗ lực xây dựng một cơ chế giải
quyết tranh chấp độc lập và công bằng những vấn đề khúc mắc, tranh chấp
nảy sinh giữa các thành viên của WTO thông qua các thủ tục pháp lý khách
quan. Tuy nhiên, do khả năng gây ảnh hưởng không chính thức cũng như khả
năng tham gia vào hoạt động pháp lý thực tế để giải quyết các tranh chấp cụ
thể là khác nhau giữ
a các nước có tiềm lực, có sức mạnh ngoại thương khác
nhau, nên thực tế giải quyết tranh chấp hiện nay trong WTO chưa đạt được
mức độ khách quan như mong muốn. Song, theo đánh giá chung, cơ chế giải
quyết tranh chấp của WTO đã ít nhiều thể hiện được tính độc lập và khách
quan của nó.
Bốn là: Thực hiện rà soát chính sách thương mại thông qua Cơ chế rà
soát chính sách thương mại. Định kỳ theo quy
định của WTO, các quốc gia
phải gửi báo cáo về chế độ thương mại của mình cho WTO và cơ quan giúp
việc của WTO có trách nhiệm gửi báo cáo này cho các thành viên quan tâm.
Thông qua việc giám sát chính sách thương mại quốc gia, WTO thúc đẩy
quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa các nước thành viên, qua đó khuyến khích các
thành viên tuân thủ các quy định, cam kết và thủ tục mà các nước thoả thuận.
Các quốc gia có ảnh hưởng lớn đến thương mại quốc tế như Mỹ
, EU, Nhật
Bản … định kỳ rà soát chính sách là hai năm, các quốc gia khác thường là 4-6
năm tuỳ thuộc mức độ ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu. Riêng đối với các
nước chậm phát triển, thời gian này có thể dài hơn.
tắc này; Nguyên tắc NT: Trong khi nguyên tắc MFN yêu cầu một nước thành
viên không được phép áp dụng đối xử phân biệt giữa các nước thành viên thì
nguyên tắc NT yêu cầu một nước phải đối xử bình đẳng và công bằng giữa
hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước. Nguyên tắ
c này
quy định rằng, bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới
(đã trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu) sẽ được hưởng sự
đối xử không kém ưu đãi hơn sản phẩm tương tự sản xuất trong nước.
Nguyên tắc MFN và NT lúc đầu chỉ được áp dụng trong lĩnh vực
thương mại hàng hoá, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang
thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các
lĩnh vực khác, tuy vậy mức độ áp dụng của quy tắc này trong các lĩnh vực là
khác nhau. Trong thương mại hàng hoá: MFN và NT được áp dụng tương đối
toàn diện và triệt để. Trong thương mại dịch vụ: MFN và NT cũng được áp
dụng với những lĩnh vực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường,
với những lĩnh vực dịch vụ còn duy trì hạn chế thì việc dành MFN và NT tuỳ
thuộc vào kết quả đàm phán các cam kết cụ thể. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ,
các NT trên đã được thể chế hoá cụ thể và phổ biến trong các công ước quốc
tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Nguyên tắc 2: Chỉ bảo hộ bằng thuế quan
Trong WTO, việc bảo hộ các ngành công nghiệp nộ
i địa không bị ngăn
9
cấm. Tuy nhiên, WTO đưa ra một nguyên tắc là các nước chỉ được thực hiện
bảo hộ chủ yếu thông qua thuế quan, không được sử dụng các biện pháp
thương mại khác. Mục tiêu của nguyên tắc này để đảm bảo sự minh bạch của
việc bảo hộ và giảm thiểu những tác dụng bóp méo thương mại phát sinh.
Nguyên tắc 3: Tạo dựng một nền tảng ổn định cho thương mại
Một nguyên tắc cơ bản của WTO là các nước thành viên có nghĩa vụ
10
và lao động liên quan đến sản xuất sản phẩm. Về phương diện xã hội, các quy
định của một số nước liên quan đến bảo vệ môi trường và an toàn lao động
cho phụ nữ và trẻ em mang tính nhân đạo. Nhưng về mặt điều kiện thương
mại thì các quy định mới này có thể cản trở hoạt động thương mại và gây bất
lợi cho hàng hoá của các nước kém phát triển. Do đó, quá trình hoạch đị
nh và
thực thi chính sách thương mại tự do của WTO trong mối liên hệ đến các vấn
đề công bằng và phát triển còn tiềm ẩn nhiều khía cạnh phức tạp và mâu
thuẫn nhau.
Nguyên tắc 5: Tạo lập môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng
WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do,
công bằng và không bị bóp méo. Tất cả các Hiệp định của WTO như về nông
nghiệp, dịch vụ, quyền sở h
ữu trí tuệ đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường
cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các quốc gia.
WTO khuyến khích thương mại theo khuynh hướng cạnh tranh kinh tế
thuần tuý dựa trên lợi thế cạnh tranh nhằm thiết lập cơ cấu phân công lao
động quốc tế hiệu quả. Chính vì thế, trong các nội dung đàm phán, cũng như
trong các hiệp định đã ký kết của WTO các biện pháp can thiệp của nhà nước
làm h
ạn chế phạm vi hoạt động của cơ chế thị trường cạnh tranh tự do hoặc
làm méo mó giá cả thường bị gây áp lực phải hạn chế dần, đi tới xoá bỏ.
Nguyên tắc này đặc biệt liên quan đến thương mại nhà nước và trợ cấp của
nhà nước, nhất là trong các vòng đàm phán gần đây, khi vấn đề trợ cấp nông
sản và chi tiêu của Chính phủ được nhiều nướ
c quan tâm đề xuất đưa vào
chương trình đàm phán. Mục đích của nguyên tắc này là xây dựng một môi
trường trong đó hàng hoá và dịch vụ cạnh tranh bình đẳng với nhau, không có
i khoảng 2/3 số
thành viên của mình là các nước đang và kém phát triển, WTO luôn khuyến
khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các
quốc gia này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họ vào hệ
thống thương mại đa phương. WTO cũng dành cho các nước đang phát triển,
các nền kinh tế chuyển đổi những ưu đãi nhất định trong việc thự
c thi các
hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này.
Những ưu đãi được khuyến khích trong WTO khá đa dạng, từ cam kết
giảm thuế quan bất tương xứng đến lộ trình thực hiện cam kết dài hơn cho các
nước đang phát triển, thậm chí WTO cho phép miễn nghĩa vụ cam kết cho các
nước chậm phát triển nhất.
Hộp 1.1. WTO thuộc về ai?
WTO được điều khiển bởi chính các chính phủ là thành viên của tổ chức. Tất cả
các quyết định lớn đều có sự tham gia của toàn thể các thành viên, được đưa ra hoặc ở
cấp Hội nghị bộ trưởng (họp ít nhất là 2 năm một lần), hoặc ở cấp các đại sứ và đại biểu
(họp thường xuyên ở Geneva). Thông thường các quyết định được đưa ra theo nguyên
tắc
đồng thuận.
Do nguyên tắc này, WTO khác với một số tổ chức quốc tế khác, ví dụ như Ngân
hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế. Tại WTO không có sự uỷ quyền cho một Uỷ ban
12
điều hành hoặc một nhân vật đứng đầu tổ chức quốc tế trong quá trình ra quyết định.
Các chế tài áp dụng cho các nước thành viên, được quy định trong các quy tắc
của WTO, là kết quả của những cuộc thương lượng giữa các thành viên của Tổ chức
này. Chính bản thân các thành viên này giám sát việc áp dụng các nguyên tắc theo đúng
các trình tự đã được họ thoả thuận, bao gồm cả việc dùng đến các biện pháp trừng phạt
thương mại. Nhưng những biện pháp trừng phạt này do chính các nước đặt ra và được
toàn thể các thành viên cho phép áp dụ
Dưới Đại Hội đồng, WTO có ba Hội đồng về ba lĩnh vự
c thương mại
cụ thể là Hội đồng Thương mại Hàng hoá, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và
Hội đồng về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Các hội đồng
13
này có các cơ quan cấp dưới (các uỷ ban và các tiểu ban) để thực thi các công
việc cụ thể trong từng lĩnh vực. (Ví dụ, Hội đồng Thương mại Hàng hoá có 11
uỷ ban, 2 nhóm công tác và Cơ quan Giám sát Hàng dệt, Hội đồng Thương
mại Dịch vụ có 2 uỷ ban, 2 nhóm công tác ).
Tương đương với các Hội đồng này, WTO còn có một số uỷ ban với
phạm vi chức năng nhỏ hơn, nhưng cũng báo cáo trực tiếp lên Đại Hộ
i đồng,
đó là các Uỷ ban về Thương mại và Phát triển, Thương mại và Môi trường,
Hiệp định Thương mại Khu vực, Hạn chế bảo vệ Cán cân Thanh toán, Uỷ ban
về Ngân sách, Tài chính và Quản lý, và Tiểu ban về các nước Chậm phát
triển. Bên cạnh các uỷ ban đó là các Nhóm công tác về Gia nhập, và Nhóm
Công tác về Mối quan hệ giữa Đầu tư và Thương mại, về Tác động qua lại
giữa Thương mại và Chính sách cạnh tranh, về
Minh bạch hoá và Mua sắm
của Chính phủ. Ngoài ra còn có hai uỷ ban về các hiệp định nhiều bên.
- Ban thư ký WTO: Là một cơ quan quan trọng của WTO đặt tại
Geneva. Đứng đầu Ban Thư ký là Tổng Thư ký, dưới đó là các Phó tổng thư
ký, phụ trách từng mảng cụ thể. Nhiệm vụ chính của Ban thư ký là:
+ Hỗ trợ về kỹ thuật và quản lý cho các cơ quan chức năng của WTO
(các hội đồng, u
ỷ ban, tiểu ban, nhóm đàm phán) trong việc đàm phán và thực
thi các hiệp định;
+ Trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước
chậm phát triển;
cạnh liên quan đến
thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ
Hội đồng về thương mại
dịch vụ
Các uỷ ban nhiều bên
Uỷ ban về thương mại hàng không dân dụng
Uỷ ban về chi tiêu chính phủ
Chương trình phát triển Doha: Uỷ ban đàm phán
thương mại và các cơ quan trực thuộc
Các phiên họp đặc biệt của
Uỷ ban dịch vụ/Uỷ ban về các khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ/ Cơ quan
giải quyết tranh chấp/Uỷ ban nông nghiệp/Uỷ ban
về thương mại và phát triển/Uỷ ban về thương mại
và môi trường
Nhóm đàm phán về
Tiếp cận thị trường/các quy định
Ban hội thẩm
Hội đồng giải quyết tranh chấp
Các uỷ ban về
Thương mại và môi
trường
Thương mại và phát triển
Tiểu ban về các nước
đang phát triển
Trợ cấp và các biện pháp đối
kháng
Chống bán phá giá
Định giá hải quan
Quy tắc xuất xứ
‘Giấy phép nhập khẩu
Các biện pháp đầu tư liên quan
đến thương mại
Các biện pháp tự vệ
Cơ
quan giám sát về dệt may
Nhóm công tác về
Các doanh nghiệp thương mại
nhà nước
Các uỷ ban về
Thương mại các dịch vụ tài chính
Các cam kết cụ thể
Các nhóm lao động
Quy định nội bộ
Các quy tắc của GATS
Uỷ ban đa biên
Uỷ ban về Hiệp định Công
nghệ thông tin
Đại hội đồng nhóm họp với chức năng là cơ
quan giải quyết tranh chấp
Uỷ ban về đàm
phán thương mại
Các Uỷ ban trực thuộc Hội đồng thương mại hàng hoá: Thâm nhập thị
trường; Nông nghiệp; Các biện pháp kiểm dịch động thực vật; Cơ quan giám sát hàng dệt
may; Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại; Trợ cấp và các biện pháp trả đối kháng;
Chống bán phá giá; Định giá hải quan; Các quy tắc xuất xứ; Các giấy phép nhập khẩu;
Các biện pháp liên quan đến đầu tư; Tự vệ; Các doanh nghiệp thươ
ng mại Nhà nước
(Nhóm công tác).
Liệu cùng một nhóm người có thể đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau?
Không hoàn toàn như vậy. Tuy các Hội đồng và các Uỷ ban bao gồm đại diện của
tất cả các thành viên WTO, nhưng điều đó không có nghĩa là các thiết chế này là một
hoặc là sự phân biệt giữa các thiết chế này chỉ mang tính hình thức.
Trong thực tiễn, không có chuyện cùng một nhóm người tham gia vào công việc
của các hội đồng và ủy ban khác nhau vì cấp bậc của đại biểu và thẩm quyền đòi hỏi là
khác nhau.
Trưởng phái đoàn ở Geneva (thông thường là cấp đại sứ) đại diện cho đất nước
mình ở Đại hội đồng. Do có một vài Uỷ ban rất chuyên môn, các chính phủ đôi khi cử các
chuyên gia đương chức trong nước đại diện cho đất nước mình tham dự các cuộc họp
của các Uỷ ban này.
Thậm chí ngay ở cấp độ Hội đồng thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và
quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, nhiều đoàn đại biểu được đại diện bởi
những người khác nhau.
Nguồn: Tìm hiểu Tổ chức Thương mại Thế giới, tr. 88
16
1.3. Các hiệp định của WTO
Có thể nói, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất điều chỉnh các quy tắc về
ản cơ bản về