Đánh giá tác dụng hỗ trợ của nước khoáng bùn khoáng Mỹ Lâm trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp và thoái hoá khớp - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

HỮU THỊ CHUNG ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG HỖ TRỢ CỦA NƯỚC KHOÁNG
BÙN KHOÁNG MỸ LÂM TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
VIÊM KHỚP DẠNG THẤP VÀ THOÁI HÓA KHỚP

Chuyên ngành: Bệnh học nội khoa
Mã số: 62.72.20.10

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Hà Nội – 2009
1
Công trình được hoàn thành tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI Người hướng dẫn khoa học: 1: GS.TS Trần Ngọc Ân
2: PGS.TS Nguyễn Kim Ngọc
Phản biện 1: PGS.TS Đoàn Văn Đệ
Phản biện 2: PGS.TS Lê Thu Hà
Phản biện 3: PGS.TS Ngô Ngọc Cát
òi hỏi sự phối
hợp của các cấp các ngành. Suối khoáng Mỹ Lâm có trữ lượng lớn có
tiềm năng khai thác lâu dài, về mặt chất lượng thì đây là loại nước
khoáng sulfua nóng có giá trị sinh học cao có tác dụng tốt cho các
bệnh xương khớp. Tuy nhiên các nghiên cứu đánh giá tác dụng, hiệu
quả chữa bệnh của NK-BK Mỹ Lâm còn quá ít với các phương pháp
nghiên cứu có chất lượng chưa cao dẫn đến các kết quả còn chưa
được thuyết phục. Vấn đề đánh giá tác dụng , hiệu quả chữa bệnh của
NK-BK Mỹ Lâm là cần thiết để mở rộng khai thác nguồn NK chữa
bệnh và áp dụng rộng rãi hơn cho các đối tượng bệnh nhân. Trong
các bệnh về cơ xương khớp, bệnh viêm khớp dạng thấp và thoái hóa
khớp là những bệnh thường gặp, chiếm một tỉ lệ khá cao, việc điều trị

còn gặp nhiều khó khăn và phải phối hợp nhiều phương pháp điều trị
trong đó điều trị vật lý có vai trò hết sức quan trọng. Từ các vấn đề
trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài nhằm hai mục đích :
1. Đánh giá tác dụng hỗ trợ của nước khoáng – bùn khoáng
Mỹ Lâm trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp và thoái hóa
khớp.
2. Đánh giá tính an toàn của liệu pháp n
ước khoáng – bùn
khoáng
2
Những đóng góp mới của luận án
− Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp phân tích, đánh giá
kết quả theo qui chuẩn quốc tế, hiện đại và đáng tin cậy trong lĩnh
vực nghiên cứu lâm sàng về VKDT đối với điều trị bằng NK-BK.
− Kết quả của NC cho thấy: Điều trị kết hợp thuốc với NK-BK
Mỹ Lâm ở bệnh nhân VKDT có hiệu quả tố
t hơn so với điều trị

i tượng và phương pháp NC : 18 trang, 5 bảng, 2 hình.
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu – 27 trang, 33 bảng, 13 biểu đồ .
Chương 4 : Bàn luận – 32 trang, 20 bảng.
Kết luận : 2 trang.
Kiến nghị : 1 trang.
Tài liệu tham khảo có 134 ( 26 tiếng việt, 108 tài liệu tiếng Anh)
NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
3
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Viêm khớp dạng thấp : Những tiến bộ trong điều trị
Sự thay đổi về quan điểm điều trị
Quan điểm điều trị VKDT ngày nay đã có nhiều thay đổi. Trước đây
người ta coi VKDT là một bệnh lành tính và tiên lượng bệnh là tốt và
vì vậy điều trị một cách tuần tự theo kiểu bậc thang . Trong những
n
ăm gần đây, các nhà lâm sàng đã xác định tầm quan trọng của điều
trị sớm viêm khớp với một cố gắng thay đổi trong một thời gian ngắn
nhất để có được một kết quả lâu dài. Điều trị sớm và kết hợp ngay từ
ban đầu, điều trị có kiểm soát chặt chẽ hoạt động của bệnh, tăng liều
nếu bệ
nh nhân chưa đáp ứng và can thiệp tích cực với các tác nhân
sinh học mới nếu bệnh dai dẳng chưa đạt đích thuyên giảm.
Các tác nhân sinh học mới
− Nhóm thuốc ức chế cytokin .
− Nhóm ức chế tế bào T.
− Nhóm ức chế tế bào B.
1.2 Các phương pháp điều trị thoái hóa khớp
− Điều trị không dùng thuốc.
− Điều trị thuốc
+ Thuốc giả

tác dụ
ng bao gồm:
+ Giảm đau : một số NC thấy tăng β- Endorphin sau tắm NK, trong
quá trình tắm có sự hấp thu một số chất khoáng có tác dụng ức chế
lên các thụ thể đau như H
2S, Radon, CO2.
+ Chống viêm : một số NC thấy tắm khoáng làm giảm PGE
2 và
Leukotrien B
4 trong máu .
+ Giãn cơ : do tác dụng của nhiệt độ cao.
+ Tăng cường khả năng vận động do được sức nổi của nước nâng đỡ.
+ Giãn mạch, tăng bài niệu, hạ huyết áp.
+ Tăng tuần hoàn, tăng nhịp tim.
+ Trong quá trình tắm diễn ra sự trao đổi ion qua da, làm thay đổi
chuyển hóa, trao đổi chất ở tế bào, thay đổi về thần kinh và thể dịch .
− Tác dụng của bùn khoáng còn chưa được hiể
u biết rõ, một số
các NC đã chứng minh bùn khoáng có các tác dụng sau đây trên bệnh
VKDT và thoái hóa khớp :
+ Giảm Inter-leukin 1, giảm TNFα, giảm thụ thể của TNFα.
+ Giảm PGE
2 và Leukotrien B4 (là những chất gây viêm).
+ Tăng IGF 1 β (là chất tăng đồng hóa sụn).
+ Giảm Nitric oxide (NO) , là chất thúc đẩy phá hủy sụn.
+ Tăng các enzym giải độc và các enzym chống oxy hóa.
1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng NK-BK chữa bệnh.
Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Nhiều NC đã đưa ra những bằng chứng cải thiện bệnh VKDT, một
NC quan sát có giá trị là NC Cochran đã thu thập 54 NC từ 1966-

1-2007 và phân tích mới nhất của trường ĐH Mỏ Địa Chất 2008 cho
thấy tính chất của NK Mỹ Lâm không đổi theo thời gian. Kết quả
phân tích sơ b
ộ thành phần bùn khoáng Mỹ Lâm ngày 08- 8 -2008
cho thấy bùn chứa nhiều chất hữu cơ, P
2
O
5
, K
2
O, N, các cation và
nhiều các hợp chất vi lượng. Từ 1976- 1999 số bệnh nhân đến chữa
tại viện điều dưỡng Mỹ Lâm là 10.687 tỷ lệ chữa khỏi từ 72- 90%.
Năm 2004 Nguyễn Bảo Đông và Bùi Đức Thịnh hồi cứu 215 bệnh
nhân điều trị tắm NK Mỹ Lâm, 62,71% bệnh nhân hư khớp gối ( n=
59) và 40,41% bệnh nhân đau thắt lưng (n=146) hết triệu chứng đau.
Năm 2007 NC c
ủa Nguyễn Thị Minh cho biết tắm NK Mỹ Lâm đạt
hiệu quả khá và tốt ở 77,5% bệnh nhân vảy nến thông thường. Các
kết quả trên đây mặc dù còn rất ít nghiên cứu và chất lượng nghiên
cứu còn hạn chế nhưng cũng cho thấy NK – BK Mỹ Lâm có tác dụng
chữa bệnh đặc biệt là trên bệnh lý cơ xương khớp.
6
Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhóm viêm khớp dạng thấp :
+ Chọn những bệnh nhân VKDT có mức độ hoạt động trung bình đến
khám và điều trị tại bệnh viện E từ năm 2005 - 2007 theo phương
pháp chọn mẫu không sác xuất. Các bệnh nhân VKDT được chẩn
đoán xác định theo tiêu chuẩn ARA 1987.

Đánh giá số khớp sưng, số khớp đau , đánh giá thời gian cứng khớp
buổi sáng.
Đánh giá mức độ hoạt động bệnh và mức độ đau của bệnh nhân bằng
thang nhìn.
7
Bác sĩ đánh giá mức độ hoạt động bệnh bằng thang nhìn
Đánh giá chức năng vận động của bệnh nhân bằng bộ câu hỏi HAQ
(Health Assessment Questionnaire) .
Làm các xét nghiệm cơ bản, tốc độ lắng máu, tìm yếu tố thấp; chụp
XQ 2 bàn tay thẳng, XQ tim phổi thẳng, siêu âm ổ bụng.
Các thăm khám đánh giá về lâm sàng và các xét nghiệm cơ bản được
làm 2 lần ở 2 thời điểm trước và sau 4 tuầ
n điều trị. Xét nghiệm tìm
yếu tố thấp và XQ, siêu âm làm 1 lần trước điều trị.
Phương pháp điều trị
− Nhóm nghiên cứu (NC):
+ Corticosteroid: Prednisolon < 20 mg/ngày, hoặc NSAIDs (thuốc
chống viêm không Steroid) .
+ Chloroquin: 0,25 g/ngày .
+ Methotrexat: 7,5 mg/tuần .
+ Tắm bùn : Bệnh nhân được ngâm tắm toàn thân trong bể bùn 1
lần 15-30 phút mỗi ngày, 6 lần một tuần, trường hợp không ngâm
được thì đắp bộ phận, đắp trực tiếp vào khớp đau. Nhiệt độ tắm,
đắp
bùn từ 40-42°C
+ Tắm nước khoáng : Ba ngày đầu bệnh nhân được tắm dội từ 15-
20 phút ở nhiệt độ 36-38°C để làm quen với NK. Các ngày tiếp theo
bệnh nhân được tắm ngâm toàn thân trong bồn NK nóng, tăng dần
nhiệt độ, mỗi tuần tăng 1°C, đến tuần thứ 4 có thể đạt tới 40 - 42°C.
Mỗi ngày ngâm tắm 1- 2 lần, mỗi lần từ 15-30 phút tùy theo mức

− Nhóm NC:Điều trị tắm khoáng và đắp bùn như nhóm VKDT,
không sử dụng thuốc. Riêng bùn có thể tắm toàn thân trong bể bùn
hoặc đắp bộ phận ở khớp gối bị tổn thương trong thời gian 15-30
phút một lần mỗi ngày ở nhiệt độ 40 - 42°C.
− Nhóm chứng: Điều trị
B-nalgesine 100 mg/ngày; Glucosamin
1,5g/ngày, không sử dụng NK-BK
Đánh giá kết quả và so sánh
+ So sánh trước – sau .
+ So sánh nhóm NC và nhóm chứng.
Nhận xét các tác dụng không mong muốn

+ Theo dõi các thay đổi tế bào máu ngoại vi , sinh hóa máu
+ Các biểu hiện không mong muốn xuất hiện trong khi điều
trị.
Thống kê y học : Sử dụng phần mềm thống kê EPI-INFO 6.04.
9
Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

đoạn
Stain-
Brocker
IV 5,3% 4 5,3% 4 >0,05
* Nhận xét : Thời gian mắc bệnh và giai đoạn bệnh của các bệnh
nhân ở hai nhóm không khác biệt( p>0,05 ).
* Bảng 3.3 : Mức độ bệnh ở thời điểm trước điều trị
Chỉ số TB
Nhóm NC
n
Nhóm C
n P
CKBS(phút)
154,6±
334,1
75 191 ± 373 75 >0,05
Sốkhớpsưng 14 ± 10 75 12 ± 9 75 >0,05
Số khớp đau 23 ± 14 75 20 ± 12 75 >0,05
Richie 26 ± 16,9 75 22,6±15,8 75 >0,05
HAQ 1,4 ± 0,7 75 1,37 ± 0,7 75 >0,05
DAS 28 5,3 ± 1,0 75 5,1 ± 1,1 70 >0,05
DAS 4,6 ± 1,4 75 4,3 ± 1,3 70 >0,05
T Đ M L 33,6 ±13,4 75 33,3±16,5 71 >0,05
VAS (1) 5,4 ± 1,8 75 5,2 ± 1,8 75 >0,05
VAS (2) 5,2 ± 1,8 75 4,9 ± 1.8 75 >0,05
VAS (3) 5,2 ±1,7 75 5,2 ± 1,67 75 >0,05
* Nhận xét : Mức độ bệnh của hai nhóm tương đồng (p > 0,05)
10
* Bảng 3.4 : Mức độ bệnh ở thời điểm sau điều trị
Chỉ số TB

CKBS(phút)
-85,7±
244,2
75
-21,2±
238,5
75 >0,05
Sốkhớpsưng -7 ± 7 *** 75 -3 ± 8 * 75 <0,01**
Số khớp đau -10 ±12*** 75 -5 ± 11** 75 <0,05*
Richie
-11,9±
13,4**
75 -7,2±13,3* 75 <0,05*
HAQ -0,5 ± 0,6* 75 -0,4 ± 0,6* 75 >0,05
DAS 28 -1,1 ± 1,1** 75 -0,6 ± 1,4* 70 <0,05
DAS -1,3 ± 1,2** 75 0,7 ± 1,4* 70 <0,01**
T Đ M L -10,9 ±12** 75 -6,1±20,3 71 >0,05
VAS (1) -1,7 ± 1,2** 75 -1,3 ± 2,1* 75 >0,05
VAS (2) -1,8 ± 1,2** 75 -1,3 ± 1,9* 75 >0,05
VAS (3) -1,7 ±1,3** 75 -1,1± 1,8* 75 <0,05*
(Dấu * : có ý nghĩa thống kê)
11
* Nhận xét : Mức độ cải thiện bệnh rõ rệt hơn ở nhóm NC với các
chỉ số số khớp sưng, số khớp đau, chỉ sỏ Ritchie, DAS28, DAS,
VAS3.
* Bảng 3.6 :Tỉ lệ bệnh nhân cải thiện ≥ 20% của các chỉ tiêu đánh
giá
NhómNC
(n=75)
Nhóm C

thiện ACR70 rất thấp ở cả hai nhóm , sự khác biệt không có ý nghĩa
với p>0,05.
12
* Bảng 3.8 : Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện DAS 28
Nhóm NC (n=75) Nhóm C(n=70)
Cải thiện DAS 28
BN % BN %
P
Không cải thiện 24 32 36 51,4 <0,05*
Tốt 32 42,7 23 32,8 >0,05
TB 19 25,3 11 15,7 >0,05
Cải thiện
Tổng 51 68 34 48,5 <0,05*
* Nhận xét : Tỉ lệ bệnh nhân cải thiện DAS28 ở nhóm NC là 68%
so với nhóm chứng là 48,5%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
P<0,05. Tỉ lệ cải thiện theo từng mức độ tốt , trung bình không có sự
khác biệt.
* Bảng 3.9 : Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện DAS
Nhóm NC
(n=75)
Nhóm C
(n=70)
Cải thiện DAS
%
BN % BN %
P
Không cải thiện 15 20 36 51,4 <0,0001***
Tốt 32 42,7 22 31,4 >0,05
TB 28 37,3 12 17,1 <0,01**
Cải

TB ± SD
Min,
Max
TB ± SD
Min,
Max
P
Tuổi
64,1 ± 7,9
(n=64)
51;
81
61,4±10,1
(n=54)
46;
85
>0,05
Nam 9(14,1%) 4(7,4%) >0,05
Giới
Nữ 55(85,9%) 50(92,6%) >0,05
Chiều cao
153,0 ± 6,4
(n=62)
138;
172
152,7 ± 5,2
(n=51)
140;
165
>0,05

XQ

Nhóm NC
(n=64)
Nhóm C
(n=54)
P
T mắc bệnh (năm) 7,6 ± 8,9 5,6 ± 5,5 >0,05
I 4 (6,2 %) 7 (13%) >0,05
II 47 (73,4 %) 42 (77,8%) >0,05
III 11 (17,2 %) 5 (9,3%) >0,05
Giai đoạn
XQ
IV 2 (3,1 %) 0 (0%)
* Nhận xét: thời gian mắc bệnh của nhóm NC cao hơn nhóm
chứng không có ý nghĩa thống kê ( P>0,05).
Tỉ lệ bệnh nhân ở các giai đoạn bệnh theo XQ ở hai nhóm không có
sự khác biệt có ý nghĩa.( P > 0,05 ).

14
* Bảng 3.13 : Thay đổi chỉ số Lequesne (L) trung bình
Nhóm NC (n=64) Nhóm C (n=54) P
Trước ĐT 10,6 ± 3,8 9,7 ± 3,7 > 0,05
Sau ĐT 6,4 ± 4,1 8,3 ± 4,2 < 0,05*
Cải thiện L
(Sau - Trước)
-4,2 ± 2,9 -1,5 ± 3,3
<
0,0001**
P < 0,0001** > 0.05

* Bảng 3.16 : Thay đổi chỉ số WOMAC đánh giá cứng khớp TB
Nhóm NC (n=64) Nhóm C(n=54) P
Trước ĐT 1,7 ± 1,4 1,4 ± 1,2 > 0,05
Sau ĐT 1,2 ± 1,2 1,1 ± 1,1 > 0,05
CT (sau - trước) -0,52 ± 1,20 -0,2±1,08 > 0,05
P < 0,05* > 0,05
* Nhận xét: Cải thiện chỉ số WOMAC cứng khớp trung bình ở
nhóm NC có ý nghĩa (P< 0,05), giảm ở nhóm chứng không có ý
nghĩa (P> 0,05); trước và sau điều trị điểm trung bình ở hai nhóm
như nhau (P > 0,05).
* Bảng 3.17 : Thay đổi chỉ số WOMAC Toàn phần trung bình
Nhóm NC (n=64) Nhóm C (n=54) P
Trước ĐT 31,9 ± 13,7 28 ± 13,3 > 0,05
Sau ĐT 15,5 ± 12,3 21,1 ± 12,7 < 0,05*
Cải thiện TB
(Sau -Trước)
-16,3 ± 9,9 -6,9 ± 8,6
<
0,0001***
P <0,0001*** <0,01**
* Nhận xét: Cải thiện chỉ số WOMAC toàn phần trung bình có ý
nghĩa thông kê với ở cả hai nhóm, tuy nhiên cải thiện nhiều hơn có
ở nhóm NC có ý nghĩa.
3.2 Tính an toàn của liệu pháp NK-BK
3.2.1 Nhóm viêm khớp dạng thấp
* Bảng 3.18 : Một số biểu hiện không mong muốn trong khi điều
trị tắm khoáng
Biểu hiện
BN Tỉ lệ %
Biểu hiện

u hiện phụ ghi nhận được trong quá trình điều trị
- Nhóm NC : Trong số 64 bệnh nhân được điều trị NK – BK, có
một số biểu hiện trong khi tắm khoáng :
 Mệt thoáng qua : Đây là một biểu hiện thường gặp với 21 bệnh
nhân (32,8%)
 Chóng mặt nhẹ : 18 ( 28,1% )
 Hồi hộp : 10 ( 15,6 )
 Nôn : 2 ( 3,1% )
Các biểu hiện trên thường là nhẹ và thường xuất hiện ở tuần đầu. Các
biể
u hiện thoáng qua không cần điều trị và bệnh nhân vẫn dung nạp
được với điều trị, không có bệnh nhân nào bỏ nghiên cứu.
Không thấy bất kì sự thay đổi nào ở các chỉ số sinh hóa và huyết học
sau điều trị ở cả hai nhóm.
17
Chương 4 : BÀN LUẬN
4.1 Đánh giá hiệu quả của điều trị nước khoáng – bùn khoáng
4.1.1 Nhóm viêm khớp dạng thấp
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy các đặc điểm về tuổi, giới, chiều cao cân
nặng của hai nhóm không khác biệt, so sánh các NC khác như :
Elkayem 1991, Franke 2000, Hall 1996, tuổi của bệnh nhân trong các
nhóm của chúng tôi đều thấp hơn có ý nghĩa, về giới cũng có sự khác
biệt có ý nghĩa. Sự khác biệt về
tuổi có lẽ bởi bệnh nhân của chúng

hiệu quả cải thiện bệnh hoạt động.
18
* Bảng 4.1: So sánh tỷ lệ BN đạt mức cải thiện ≥20%
Mức cải thiện
≥20%
CK
BS
Số khớp
sưng
Số
khớp
đau
TĐLM
Chỉ số

Ritchie
N . X . Nghiên
( n=54 )
59,4 52,2 53,8 81,6 66,5
Chúng tôi
( n =75 )
50,7 80 76 73,3 78,7
P >0,05
<0,001**
*
<0,01*
*

nhân và tính chất của các nguồn NK - BK được sử dụng trong các
NC.
19
Đánh giá cuối cùng của một nghiên cứu đối với một phương pháp
điều trị là phương pháp đó có đem lại lợi ích cải thiện bệnh hay
không và có bao nhiêu bệnh nhân được cải thiện. Kết quả bảng 3.7 và
đã giải đáp cho vấn đề này. Đánh giá theo tiêu chuẩn ACR tỷ lệ bệnh
nhân đạt cải thiện ACR20 (tức là có đáp ứng với điều trị) ở nhóm NC
đạt 65,3% so vớ
i nhóm chứng là 36%, sự khác biệt có ý nghĩa với
p<0,01. Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện ở mức ACR50 ở nhóm N C là
25,3% so với nhóm chứng là 10,7%, sự khác biệt có ý nghĩa với
p<0,05. Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện ACR70 rất thấp và không có sự
khác biệt giữa 2 nhóm. Tiêu chuẩn ACR được hầu hết các nghiên cứu
ngày nay sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị trong nghiên cứu lâm
sàng VKDT. Tuy nhiên các nghiên cứu điều tr
ị NK-BK hầu như
không có nghiên cứu nào sử dụng để đánh giá. Chúng tôi coi NK-BK
không phải là thuốc nhưng là một phương pháp điều trị bổ sung nên
đã mạnh dạn sử dụng tiêu chuẩn ACR để đánh giá hiệu quả điều trị
và chúng tôi thiết nghĩ đây là một công cụ đánh giá tương đối chặt
chẽ.
Chúng tôi cũng sử dụng thêm tiêu chuẩn đánh giá của châu Âu dựa
theo chỉ
số hoạt động bệnh DAS28 và DAS nhằm củng cố thêm kết
quả nghiên cứu và so sánh với kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn ACR.
Bảng 3.8 chỉ ra một tỷ lệ bệnh nhân cải thiện DAS
28
ở nhóm NC là
68% so với nhóm chứng là 48,5%, sự khác biệt có ý nghĩa với

i
Kết quả ở bảng 3.11 cho thấy các đặc điểm về tuổi, giới, chiều cao
cân nặng, chỉ số khối cơ thể ở hai nhóm không có sự khác biệt. Bảng
3.12 cho thấy tương đồng giữa hai nhóm về thời gian mắc bệnh và
giai đoạn XQ. So sánh với các tác giả khác như Tishler 2004, Flusser
2002 thì không có sự khác biệt về tuổi, nhưng tỉ lệ bệnh nhân nữ của
chúng tôi cao hơn, cân nặng c
ũng như chỉ số khối cơ thể của bệnh
nhân của các tác giả cũng cao hơn có ý nghĩa. Thời gian mắc bệnh
trong các nhóm bệnh nhân của chúng tôi thấp hơn và tỉ lệ BN ở giai
đoạn 2 cao hơn , giai đoạn 3 thấp hơn, có nghĩa là bệnh nhân của
chúng tôi đến sớm hơn, mức độ bệnh nhẹ hơn.
Bảng 3.13 cho thấy cải thiện chỉ số Lequesne rõ rệ
t hơn ở nhóm NC
so với nhóm chứng có ý nghĩa. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp
với các tác giả khác, tuy nhiên có sự khác biệt về mức độ cải thiện
giữa các NC.
* Bảng 4.3: So sánh cải thiện(CT) chỉ số Lequesne
Tácgiả PPNC n trước Sau
CT

P
Flusser
2002
I: BK
C: Bùn BT
40
18
12,9
13,7

:Deadsea
I
3
: I
1
+I
2

C: Chứng
10
10
10
10
15,5
13
13
14,9
11,9
12,2
11,7
14
- 3,6
- 0,8
- 1,3
- 0,9
S
S
S
NS
Chúng tôi I:sulfua+bk

chất của mỗi nguồn NK cũng khác nhau.
Bảng 3.14, 3.15, 3.16, 3.17 cho các kết quả cải thiện các chỉ số
WOMAC ở các mức độ khác nhau, nhưng đều cho thấy cải thiện
vượt trội hơn ở nhóm NC so với chứng có ý nghĩa. Kết quả này của
chúng tôi cũ
ng phù hợp với đa số các tác giả nhưng có sự khác biệt
về mức độ cải thiện.
Các kết quả trên đây đã chứng minh điều trị NK-BK có tác dụng
giảm đau và cải thiện chức năng trong thoái hóa khớp.
Đa số các thiết kế nghiên cứu điều trị NK – BK đối với THK đều
vẫn phải kết hợp thuốc giảm đau ở các nhóm có can thi
ệp NK – BK .
Trong NC của chúng tôi, nhóm bệnh nhân THK điều trị NK-BK
tuyệt nhiên không sử dụng thuốc giảm đau mà vẫn đạt được hiệu quả
cải thiện bệnh, điều này cũng có thể do mức độ bệnh lúc đầu vào
nghiên cứu của bệnh nhân của chúng tôi nhẹ hơn.
Với hiệu quả đạt được ở nhóm bệnh nhân THK sử dụng NK-
BK(mà thông thường thì với những bệnh nhân như
vậy trên thực tế
chúng tôi vẫn phải kê toa với một số lượng thuốc tối thiểu như ở
nhóm chứng) chúng tôi thấy điều trị NK-BK rõ ràng làm giảm các
chi phí cho thuốc men, giảm các độc tính do thuốc và tận dụng được
nguồn dược liệu thiên nhiên sẵn có của nước ta.
4.2 Tính an toàn của liệu pháp nước khoáng - bùn khoáng
4.2.1 Nhóm viêm khớp dạng thấp
Hầu hết các nghiên cứu đều ít chú ý đến tính an toàn trong điều trị

NK-BK. Nghiên cứu của chúng tôi thấy một tỷ lệ khá cao các tác
dụng phụ trong khi tắm khoáng như mệt mỏi (46%), chóng mặt
22

vực nghỉ dưỡng NK. Chúng tôi đặc biệt khuyến cáo cho các bệnh
nhân có tiền căn về bệnh tim mạch nhất là đối với những bệnh nhân
suy tim tiềm tàng, suy mạch vành, huyết áp cao cần phải thận trọng
và phải khám bệnh nhân toàn diện trước khi điều trị NK-BK.
Phân tích các chỉ số huyết học sinh hoá trước và sau điều trị
thấy không có gì thay đổi . Điều này cho thấy sử dụng NK-BK
là an toàn đối với bệnh nhân VKDT.
Nhóm thoái hóa khớp gối
Ở nhóm thoái hóa khớp gối không ghi nhận được các biểu hiện trầm
trọng, các biểu hiện thoáng qua như: mệt 32,8%, chóng mặt 28,1%,
23
hồi hộp 15,6% và nôn 3,1%. Các biểu hiện trên đây chỉ xuất hiện ở
tuần đầu khi bệnh nhân mới điều trị ở những tuần sau khi bệnh nhân
đã quen với điều trị nước khoáng thì không còn xuất hiện nữa. Các
biểu hiện trên không cần phải xử trí gì và không có bệnh nhân nào bỏ
nghiên cứu. Các xét nghiệm sinh hóa và huyết học hầu như không có
sự thay đổi nào có ý nghĩa (p>0,05
KẾT LUẬN
Đánh giá hiệu quả, tính an toàn của điều trị hỗ trợ NK-BK Mỹ Lâm
sau 4 tuần trên 75 bệnh nhân VKDT và 64 BN THK gối có so sánh
đối chứng , nghiên cứu rút ra hai kết luận sau đây :
1 . Tác dụng điều trị hỗ trợ của nước khoáng, bùn khoáng Mỹ Lâm
đối với bệnh nhân VKDT và THK gối
1.1 Tác dụng của điều trị kết hợp NK – BK trên nhóm bệnh nhân
VKDT
Hiệu quả điều trị cao hơn rõ rệt ở nhóm có sử dụng NK – BK Mỹ
Lâm thể hiện ở sự cải thiện có ý nghĩa thống kê các chỉ tiêu đánh giá
sau đây :
− Các chỉ số trung bình của CKBS, số khớp sưng, số khớp đau,
chỉ số Ritchie, thang điểm đánh giá bệnh hoạt động của thầy thuốc,

nhóm VKDT; 32,8% với nhóm THK), chóng mặt (29,3% BN VKDT;
28,1% BN THK), hồi hộp ( 10,6% BN VKDT;15,6% BN THK). Các
biểu hiện này chỉ thoáng qua không cần can thiệp.
Một số các biểu hiện khác gặp một tỉ lệ đáng kể như : buồn nôn và
nôn, nhức đầu, sẩn ngứa, run tay,…Các biểu hiện này cũng chỉ
thoáng qua, không cần can thiệp.
Có 4 trường hợp ở nhóm VKDT bi
ểu hiện phù hai bàn chân, tuy
nhiên sau đợt điều trị cùng tự khỏi không cần điều trị.
Duy nhất một BN VKDT giai đoạn 4 xuất hiện suy tim do bệnh nhân
tắm quá liều chỉ định và ở bệnh nhân này có tiền sử tăng huyết áp.
Không có sự thay đổi đáng kể các chỉ số sinh hóa và huyết học.
Không có trường hợp nào phải bỏ nghiên cứu vì các tác dụng không
mong muốn. Điều này cho thấy liệ
u pháp NK-BK Mỹ Lâm là an toàn
cho bệnh nhân VKDT và THK
KIẾN NGHỊ
1.Với các kết quả thu được, NC đưa ra một số kiến nghị sau :
1.1 Đối với các bệnh nhân VKDT, sau khi điều trị qua khỏi đợt cấp
trở về với mức độ bệnh hoạt động trung bình nên cho điều trị NK –
BK kết hợp với thuốc chống viêm và thuốc điều trị cơ bản theo phác
đồ chuẩn.
1.2 Bệnh nhân thoái hóa khớp gối mức độ 1 hoặc 2( theo phân độ của
Kallgrence và Lawrence), không kèm theo viêm bao hoạt dịch hoặc
tràn dịch khớp gối có thể cho điều trị NK – BK đơn độc mà không
cần phải kết hợp với thuốc giảm đau chống viêm.
1.3 Khám lâm sàng toàn diện cho các bệnh nhân đi điều trị NK-
BK. Không nên điều trị NK-BK Mỹ Lâm cho các bệnh nhân
suy tim, suy mạch vành và thận trọng với những bệnh nhân
tăng huyết áp. Cần theo dõi quản lý chặt chẽ chế độ điều trị của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status