BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y DƯỢC LÂM SÀNG 108
******************** PHẠM HỒNG HÀ
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT NỘI SOI
ĐIỀU TRỊ SAI KHỚP VAI RA TRƯỚC TÁI DIỄN
THEO KỸ THUẬT CỦA BANKART
Chuyên ngành: Chấn thương- Chỉnh hình
Mã số: 62.72.07.25
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Hà Nội- 2009
Công trình được hoàn thành tại:
Viện nghiên cứu khoa học Y - Dược lâm sàng 108 Người hướng dẫn khoa học:
bằng ph
ẫu thuật nội soi theo phương pháp Bankart tại
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”, Tạp chí Y học
thực hành, số 620+621/2008, tr. 229 - 234.
3. Phạm Hồng Hà (2009), “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật
nội soi điều trị sai khớp vai ra trước tái diễn theo kỹ
thuật Bankart”, Tạp chí thông tin Y dược, số 6/2009,
tr. 25 - 29.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Chấn thương sai khớp vai rất hay gặp trên lâm sàng, chiếm tới 45%
đến 50% các sai khớp nói chung. Sau lần sai khớp đầu tiên, tỷ lệ sai khớp
vai tái diễn (SKVTD) là cao nhất. Tình trạng sai khớp vai tái diễn ảnh
hưởng nhiều đến lao động và sinh hoạt của người bệnh, chỉ định phẫu
thuật (PT) gần như là tuyệt đối. Cho đến nay đã có rất nhiều kỹ thuậ
t khác
nhau được mô tả trong y văn. Mục đích của PT là nhằm tái tạo các cấu trúc
bị tổn thương và ngăn ngừa tái phát.
Năm 1923, Bankart A.S.B. mô tả tổn thương căn bản của SKVTD là
rách sụn viền và bao khớp phía trước. Ông đề nghị PT khâu đính lại phần
sụn viền và bao khớp bị rách vào bờ xương ổ chảo. Ưu điểm của PT là
phục hồi được các cấu trúc giải ph
ẫu, tỷ lệ thành công theo nhiều tác giả
đạt từ 80% đến 85%.
Phẫu thuật nội soi khớp (PTNS) là một bước tiến lớn trong chẩn đoán
và điều trị các bệnh lý của khớp, trong đó có chẩn đoán và điều trị các tổn
thương của SKVTD. Việc khâu sụn viền và bao khớp bị rách trong PT
nộ
i khớp và trong nội soi. Luận án đã đóng góp thêm những kinh nghiệm
về chẩn đoán, chỉ định phẫu thuật, kỹ thuật xử trí và điều trị PHCN sau
mổ. Góp phần khẳng định phẫu thuật Bankart nội soi điều trị SKV ra trước
tái diễn là một phương pháp mới có hiệu quả, can thiệp tối thiểu và tỷ lệ
thành công cao
4. Cấu trúc của luận án
Luận án có 144 trang, gồm các phần: đặt vấn đề (3 trang), tổng quan
(42 trang), đối tượng và phương pháp nghiên cứu (27 trang), kết quả (36
trang), bàn luận (33 trang), kết luận và kiến nghị (3 trang). Ngoài ra,
luận án còn có 163 tài liệu tham khảo, 10 hình và 39 ảnh minh họa, 22
bảng biểu và phần phụ lục.
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược giải phẫu và tổn thương giải phẫu bệnh của SKVTD
Khớp vai (khớp ổ chảo cánh tay - OCCT) được tạo bởi chỏm x
ương
cánh tay và ổ chảo xương bả vai. Cấu trúc giải phẫu của khớp vai gồm 2
nhóm thành phần chính:
- Những thành phần giữ vững thụ động gồm xương và các phần mềm
xung quanh như sụn viền ổ chảo, bao khớp và dây chằng OCCT.
- Những thành phần giữ vững chủ động bao gồm các cơ chóp xoay, cơ
nhị đầu, các cơ bả vai lồng ngực và các cơ bả vai cánh tay.
Năm 1923, Bankart A.S.B mô t
ả tổn thương rách phần trước dưới sụn
viền và rách bao khớp phía trước ngay tại chỗ bám của dây chằng OCCT
giữa và dưới là tổn thương căn bản của SKVTD. Các tổn thương này có
thể liền lại được một phần khi các mặt rách áp sát nhau, nếu giữa các mặt
rách có sự di lệch hoặc giãn cách, tổn thương này sẽ không liền lại được và
tổ chức xơ sợi sẽ lấp
có các sợi chỉ ở đuôi vít để khâu sụn viền - bao khớp chắc chắn và thuận
tiện hơn. PT Bankart đã được kiểm chứng trong thời gian dài cho thấy đây
là một phương pháp t
ốt với tỷ lệ sai khớp tái phát sau mổ từ 2% - 19%.
1.3.2. Phẫu thuật Latarjet - Bristow: Năm 1954, Latarjet M. thực hiện
PT chuyển mỏm quạ cùng với cơ quạ cánh tay và đầu ngắn cơ nhị đầu đến
gắn vào bờ trước dưới của ổ chảo tạo thành một chốt xương ngăn không
cho chỏm xương cánh tay trượt ra trước. Ngoài ra, cơ quạ cánh tay và đầu
ngắn cơ nhị đầu còn có tác d
ụng tăng cường cho thành trước khớp vai. PT
này được chỉ định cho những trường hợp SKVTD có khuyết xương ổ chảo
lớn. PT Latarjet- Bristow không sửa chữa TT theo cấu trúc giải phẫu
nhưng chắc chắn và dễ thực hiện. Tỷ lệ tái phát từ 0%- 15,4% nhưng tỷ lệ
4
biến chứng cao như: thoái hoá khớp, TT mạch máu- thần kinh, lỏng vít
hoặc vỡ chốt xương.
1.3.3. Phẫu thuật Eden - Hybinette - Lange: Từ năm 1918 đến 1944,
Eden R., Hybinette S. và Lange M. thực hiện cố định mảnh xương ghép
mào chậu tự thân hoặc xương đồng loại vào phần trước dưới của ổ chảo
sau đó khâu tăng cường thành trước khớp vai. Theo Pavolainen P. PT này
có tỷ lệ tái phát từ 7,3% đến 21%. Một số bi
ến chứng hay gặp như: viêm
thoái hoá khớp sớm và cứng khớp.
1.4. PTNS khớp vai và tình hình nghiên cứu điều trị SKVTD ở
Việt Nam
PTNS khớp là một trong những tiến bộ to lớn của ngành CTCH do tìm
cách phục hồi các TT có hiệu quả mà ít xâm hại đến tổ chức xung quanh.
Năm 1918, Takagi K. dùng ống soi bàng quang để nội soi khớp gối ở tử
thi. Năm 1919, Bircher E. thực hiện nội soi khớp cho 21 BN bị viêm khớp
dụng một dụng cụ để móc bao khớp và sụn vi
ền bị rách rồi kéo luồn sợi
chỉ ở chân vít neo qua để cố định vào ổ chảo. Đây là phương pháp phổ
biến hiện nay trên thế giới với ưu điểm nổi bật là quan sát rõ ràng, đặt các
vít neo thuận tiện, các mối khâu chắc chắn và hiệu quả. Với những trường
hợp mất sụn viền, có thể khắc phục bằng cách khâu ngắn và tạo hình bao
khớp để làm cao b
ờ ổ chảo. Sẹo mổ rất nhỏ, ít tổn thương mô, thời gian
nằm viện ngắn, đau sau mổ giảm rõ rệt, phục hồi chức năng đơn giản và
nhanh, biến chứng giảm tối thiểu. Phẫu thuật Bankart nội soi được chỉ định
cho các trường hợp sau:
+ Những triệu chứng của SKVTD mà điều trị bảo tồn không kết quả.
+ Có tổn th
ương bao khớp - sụn viền làm giảm độ sâu của ổ chảo.
+ Chất lượng của bao khớp - sụn viền bị suy giảm do chấn thương.
+ Tổn thương xương bờ trước ổ chảo dưới 20% đường kính trước
sau.
+ BN có sự hiểu biết và hợp tác tốt qui trình điều trị sau mổ.
- Điều trị phục hồi chức năng sau phẫu thuật: Quá trình luyệ
n tập PHCN
sau mổ nhằm phục hồi lại cung phản xạ thần kinh - cơ, tăng cường sức cơ,
chống teo cơ và cứng khớp sau mổ. Đặc biệt, việc tập luyện tăng cường
sức mạnh cho cơ chóp xoay và các cơ bả vai - cánh tay sẽ giúp cho các
thành phần giữ vững chủ động của khớp được phục hồi. Vì vậy, đề ra
chương trình luyện tập PHCN sau mổ
có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng
nhiều đến kết quả phẫu thuật và đem lại chức năng vận động của khớp vai
như trước khi bị chấn thương.
- Tình hình nghiên cứu điều trị SKVTD ở Việt Nam: Theo Bùi Văn Đức,
từ năm 1990 đến 2000 có 8056 BN bị sai khớp nói chung được điều trị tại
Chính vì vậy, đây là lý do để tiến hành nghiên cứu đề tài này.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
52 BN (53 khớp vai) bị SKV ra trước tái diễn do chấn thương. Trong
đó, 14 BN hồi cứu và 38 BN tiến cứu. Tuổi trung bình là 26,3. BN ít tuổi
nhất là 16 tuổi và lớn tuổi nhất là 53 tuổi.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Tất cả các BN hồi cứu và tiến cứu
đều được lựa chọn theo chỉ tiêu
thống nhất và áp dụng cùng một quy trình kỹ thuật mổ. Về hồi cứu, tôi thu
thập dữ liệu qua nghiên cứu hồ sơ, bệnh án và mời BN đến kiểm tra lại
định kỳ để theo dõi kết quả xa. Lập danh sách thống kê kết quả tái khám,
chụp ảnh làm tư liệu và ghi chép các số liệu thu thập được. Với nhóm tiến
cứu, tiến hành theo các bướ
c sau:
7
- Trực tiếp khám BN, chẩn đoán và chỉ định PT. Đánh giá các tổn
thương giải phẫu bệnh bằng chẩn đoán hình ảnh.
- Thực hiện PT theo phương pháp được lựa chọn, đánh giá và ghi hình
các tổn thương trong mổ. Đối chiếu tổn thương giải phẫu bệnh trên phim
CHT và nội soi.
- Phương pháp PT:
+ Dụng cụ: hộp dụng cụ nội soi của Linvatec hoặc Stryker.
+ Tư thế: nằm nghiêng bên, ngả
sau 30º, tay kéo trên khung.
+ Vào khớp: qua một cổng phía sau và 2 cổng phía trước.
+ Đánh giá tổn thương, giải phóng phần xơ sợi dính ở cổ ổ chảo bằng
. Hạn chế nhẹ khi làm việc và hoạt động thể thao, không khó
chịu.
* TB
: . Không sai khớp hoặc bán sai khớp
. Cảm giác sọ vừa phải khi đưa tay cao.
. Vận động xoay ngoài đạt 50%, xoay trong và đưa tay cao đạt
75% so với trước.
. Hạn chế các vận động đưa tay quá đầu vừa phải, khó chịu vừa
phải.
* Kém
: . Sai khớp hoặc bán sai khớp tái phát.
. Cảm giác sợ rõ rệt khi đưa tay cao hoặc duỗi tay.
. Không xoay ngoài được, xoay trong và đưa tay cao 50% hoặc
đưa tay ngang mặt.
. Không thể bơi, ném hoặc duỗi tay. Khó chịu kéo dài.
- Ghi chép, chụp ảnh, làm tư liệu nghiên cứu.
- Phân tích, xử lý số liệu bằng các thuật toán thống kê.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu
Bảng 3.1: Số lần sai khớp (n = 53)
SỐ LẦN SAI
KHỚP
SỐ KHỚP
VAI
TỶ LỆ TB
2 - 4 lần 11 20,8%
5 - 10 lần 28 52,8%
11 - 40 lần 14 26,4%
Tổng cộng 53 100%
9,5 lần
3 năm - dưới 5 năm 14 26,4%
5 năm - 16 năm 17 32,1%
Tổng cộng 53 100%
49,9 tháng
Thời gian TB từ khi bị SKV lần đầu đến khi được PTNS là 49,9
tháng; sớm nhất là 3 tháng và muộn nhất là 192 tháng.
Bảng 3.4: Một số khám nghiệm sau khi gây mê (n = 38)
CÁCH THỰC HIỆN SỐ LƯỢNG TỶ LỆ
Nghiệm pháp ngăn kéo ra trước 38 100%
Nghiệm pháp ấn và đẩy 38 100%
Nghiệm pháp đặt lại khớp bị sai 32 84,2%
Dấu hiệu khe rãnh 38 100%
Dấu hiệu ngăn kéo ra trước dương tính 100%, 15 BN có thể làm sai
khớp ra trước hoàn toàn (độ III).
10
3.2. Những dấu hiệu tổn thương trên phim cộng hưởng từ
Bảng 3.5: Dấu hiệu các tổn thương trên phim CHT
CHT THÔNG THƯỜNG
(n = 23)
CHT CÓ TIÊM CẢN
TỪ NỘI KHỚP ( n = 17)
DẤU HIỆU TỔN
THƯƠNG
Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ
Tổn thương Bankart 18 78,3 % 16 94,1 %
Rách sụn viền trên 5 21,7 % 4 23,5 %
TT xương ổ chảo 3 13 % 1 5,9 %
TT Hill - Sachs 23 100 % 17 100 %
Rách gân cơ trên gai 4 17,4 % 2 11,8 %
(80%). Các TT khác có thể gặp như: rách sụn viền trên, viêm hoặc rách
nhóm gân cơ chóp xoay, mòn hoặc vỡ xương ổ chảo, khuyết chỏm
xương cánh tay, rách sụn viền trên, rách sụng viền sau, thoái hoá sụn
hoặc dị vật khớp.
Bảng 3.8: Những tổn thương giải phẫu bệnh theo thời gian
THỜI GIAN
Dưới 1
năm
1 năm -
< 5 năm
5 năm -
16 năm
TC
Rách sụn viền trước dưới 5 14 5 24
Rách rộng sụn viền trước 1 13 7 21
Rách sụn viền trên 3 12 5 20
Rách gân cơ trên gai 0 2 5 7
Rách gân cơ dưới gai 0 1 1 2
Rách gân cơ dưới vai 0 0 1 1
Mất sụn viền 1 3 8 12
TT Hill- Sachs 7 24 19 50
Mòn xương ổ chảo 1 2 3 6
Vỡ xương ổ chảo 1 3 2 6
Thoái hóa sụn khớp 0 2 3 5
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy TT đa dạng và phức tạp, tập trung chủ
yếu ở nhóm BN bị SKVTD từ 1 đến dưới 5 năm kể từ khi bị SKV lần đầu.
12
Nhóm BN bị SKVTD từ 5 năm đến 16 năm, tình trạng mòn xương hoặc
Rách sụn viền Không rách Cộng
Thay đổi tín hiệu dạng
rách sụn viền
14 4 18
Không thay đổi tín hiệu 1 4 5
Cộng 15 8 23 13
Bảng 3.11: So sánh dấu hiệu về hình dáng sụn viền trên phim CHT có
tiêm thuốc tương phản từ nội khớp và nội soi
Hình dáng phần trước sụn viền trong nội soi
Hình dáng sụn viền trên
phim CHT
Rách sụn viền Không rách Cộng
Thay đổi tín hiệu dạng
rách sụn viền
15 1 16
Không thay đổi tín hiệu 1 0 1
Cộng 16 1 17
Xem xét về mặt hình ảnh của phần trước sụn viền trên phim CHT, sau
khi đối chiếu với nội soi cho thấy mức độ chẩn đoán chính xác của CHT
thông thường là 18/23 khớp vai, đạt tỷ lệ 78,3%. Có 4 trường hợp dương
tính giả và 1 trường hợp âm tính giả. Giá trị chẩn đoán hình ảnh tổn
thương Bankart của kỹ thuật này như sau: Độ nhạy Sn = 14/18 = 78%. Độ
đặc hiệu Sp = 4/5 = 80%
Tương tự như
vậy, tỷ lệ chẩn đoán chính xác của CHT có tiêm thuốc
tương phản từ nội khớp là 15/17 khớp vai, đạt tỷ lệ 88,2%. Có một trường
hợp dương tính giả và một trường hợp âm tính giả. Giá trị chấn đoán của
Bảng 3.14: Biên độ vận động khớp vai bên TT (n = 51)
ĐỘNG TÁC
BIÊN ĐỘ VẬN
ĐỘNG
TB
Dang vai 110° - 180° 174,6° ± 11,9°
Xoay ngoài 25° - 90° 81,6° ± 11,8°
Xoay trong 50° - 90° 88,1° ± 7,6°
Bảng 3.15: Biên độ vận động khớp vai bên đối diện (n = 51)
ĐỘNG TÁC
BIÊN ĐỘ VẬN
ĐỘNG
TB
Dang vai 165° - 180° 178° ± 4,5°
Xoay ngoài 75° - 90° 86,1° ± 4,4°
Xoay trong 90° 90° ± 0°
15
.
3.6.2.2. Đánh giá khớp vai trước mổ theo thang điểm Rowe
Bảng 3.16: Đánh giá khớp vai trước mổ theo thang điểm Rowe
ĐÁNH GIÁ
SỐ ĐIỂM THEO
TỪNG CHỈ TIÊU
TỔNG SỐ
ĐIỂM
Độ vững của khớp 15
Chức năng 10
Vận động 20
26 51%
TỐT
18 35,5%
TRUNG BÌNH
03 5,9%
KÉM
04 7,8%
TỔNG CỘNG
51 100%
Như vậy, theo thang điểm Rowe, kết quả rất tốt và tốt là 44/51BN
(86.3%). 4/51(7,8%) BN có kết quả kém trong đó 3 BN bị SKVTD và một
BN bị viêm dính khớp vai.
3.7. Biến cố và biến chứng
3.7.1. Biến cố trong mổ
Bảng 3.20: Biến cố xảy ra trong mổ
BIẾN CHỨNG SỐ LƯỢNG TỶ LỆ
Tuột chỉ 7 12,7%
Gãy vít 2 3,6%
Vỡ Cannul 2 3,6%
Biến chứng khác 5 9,1%
3.7.2. Biến chứng trong mổ
3/53 BN bị vỡ đường hầm xương ổ chảo khi đặt vít neo. Tôi đã khắc
phục bằng cách đặt lại vít ở vị trí lân cận. Sau khi đặt lại vít neo mới, tiếp
tục khâu lại sụn viền và bao khớp. 17
3.7.3. Biến chứng sau mổ
Không có BN nào bị nhiễm khuẩn ổ khớp, TT da cũng như những vấn
đề liên quan đến quá trình gây mê. Có 3 BN bị SKVTD, đều do nguyên
ện để PHCN,
thậm chí cả những BN là VĐV đang luyện tập tại Trung tâm huấn luyện
thể thao Quốc gia. Qua phần này, tôi đưa ra đề nghị nên thực hiện chế độ
tập phục hồi chức năng triệt để cho những BN bị sai khớp vai lần đầu tại
các cơ sở điều trị để ngăn ngừa tái phát. Quá trình tập luyện còn nhằm mục
đích tăng cường sức mạnh cho các cơ đai vai, nhất là các cơ chóp xoay
18
giúp cho các thành phần giữ vững chủ động của khớp vai sớm được phục
hồi.
4.2. ý nghĩa của việc đánh giá độ vững của khớp sau khi gây mê
Cofield R.H. và CS khi thực hiện 4 nghiệm pháp (nghiệm pháp ngăn
kéo, ấn đẩy, đặt lại khớp vai bị sai và tạo dấu hiệu khe rãnh) và so sánh với
vai bên đối diện thấy có độ nhạy 93% và độ đặc hiệu 100% cho các trường
hợp mất vững khớ
p vai. Bảng 3.4 cho thấy dấu hiệu ngăn kéo ra trước đều
có ở tất cả các BN. Nghiệm pháp đặt lại khớp bị sai chiếm tỷ lệ 84,2%.
Như vậy, việc đánh giá sau khi gây mê rất có ý nghĩa trong việc đánh giá
độ vững của khớp.
4.3. Về chỉ định phẫu thuật
Khi PTNS cho 48 BN bị SKV lần đầu, Hertz H. nhận thấy TT Bankart
có ở 38/48 BN. Các trường hợp này đều được khâu sụn viền bằng chỉ neo.
Với thời gian theo dõi TB 2,4 năm thấy không có trường hợp nào bị
SKVTD. 10 BN còn lại không có TT sụn viền nhưng cũng được bất động
sau mổ từ 2- 3 tuần. Theo dõi trong 3 năm thấy có 1 BN bị sai khớp tái
phát. Năm 2008, Robinson C.M. tiến hành nghiên cứu với 2 nhóm BN bị
SKV lần đầu, một nhóm chỉ được PTNS rửa khớp đơn thuần và nhóm thứ
2 được PT khâu sụn viền theo kỹ thuật của Bankart. Kết quả cho thấ
y
PTNS sớm để sửa chữa TT Bankart làm giảm nguy cơ SKVTD rõ rệt .
Ngoài ra, các TT phối hợp có thể gặp như: rách sụn viền trên, rách sụn
viền sau, rách gân cơ chóp xoay, mòn hoặc vỡ xương bờ tr
ước ổ chảo, TT
Hill- Sachs, viêm bao hoạt dịch và chuột khớp
Theo Ozbaydar M.U. TT Bankart thấy ở 90% BN bị SKVTD. Năm
2008, Arrigoni P. nội soi khớp cho 33 BN trước khi PT Latarjet, 24/33 BN
có những TT phức tạp mà nếu chỉ PT mở đơn thuần thì sẽ không thấy
được.
TT khuyết xương ổ chảo ảnh hưởng nhiều đến việc lựa chọn BN và
kết quả PT. Năm 1998, Bigliani L.U. gặp TT ổ chảo loại I là 16/25 BN,
loại II và IIIA là 5/15 BN. Chỉ có một BN loạ
i IIIB và được chỉ định PT
Latarjet. Trong nghiên cứu của tôi, 6 BN có TT ổ chảo loại I và II (15,8%),
loại IIIA 7 trường hợp (18,4%). Không có BN nào bị TT loại IIIB, do đã
được loại trừ từ trước bằng chụp CLVT hoặc CHT (mục 3.2). Trong quá
trình lựa chọn BN, khi chụp X quang hoặc CHT nếu có TT Hill - Sachs
lớn thì sẽ chuyển sang mổ mở chứ không nên PTNS.
4.6. Về kỹ thuật
Tỷ lệ sai khớp tái phát sau PTNS tương đương mổ mở, tuy nhiên nếu
lựa chọ
n BN và chỉ định đúng có thể làm giảm tỷ lệ này. Năm 2001, Pap
G. thực hiện PTNS theo kỹ thuật Bankart cho 53 BN bị SKVTD. Với thời
gian theo dõi TB 18 tháng, có 11 BN (20,7%) bị sai khớp trở lại, tỷ lệ tái
phát tăng ở những BN có hơn 4 lần sai khớp hoặc có TT xương ở bờ trước
ổ chảo. Như vậy, số lần sai khớp và tình trạng xương ổ chảo góp phần làm
tăng tỷ lệ tái phát sau PT. Nhữ
ng chỉ định PT của tôi là:
20
- Sai khớp vai ra trước tái diễn do chấn thương.
như sau: dang vai 174,6° ± 11,9°; xoay ngoài 81,6° ± 11,8° và xoay trong
88,1° ± 7,6° (bảng 3.14). 48/51 BN không bị sai khớp tái phát, khớp vững
và không còn cảm giác sợ sai khớp. Hầu hết BN thỏa mãn với kết quả PT
và trở lại nghề cũ. Phân loại kết quả chung theo thang điểm của Rowe cho
thấy rất tố
t là 26/51 BN (51%), tốt 18/51 BN (35,3%), TB 3/51 BN (5,9%)
và kém 4/51 BN (7,8%) (bảng 3.17).
21
Năm 1997, Koss S. PTNS cho 27 BN theo dõi trong 40 tháng cho thấy
67% có kết quả rất tốt; 4% tốt; 11% TB và 18% kém. Năm 2003, Kim S.H.
thực hiện PTNS theo kỹ thuật Bankart cho 174 BN bị SKVTD. Đánh giá
theo thang điểm Rowe với thời gian theo dõi 44 tháng thấy 78% rất tốt,
17% tốt, 4% TB và 1% kém. Động tác đưa tay ra trước giảm 2,2°, xoay
ngoài giảm 2° so với bên đối diện.
Bảng 4.1: So sánh kết quả điều trị với 1 số tác giả có nghiên cứu tương tự
Tác giả/ thời điể
m Số BN Thời gian Kết quả
Hoffmann F. và CS/
1995 [64]
26 24 tháng
53,9% rất tốt; 34,6% tốt và
11,5% kém.
Koss S.và CS/ 1997
[85]
27 40 tháng
67% rất tốt; 4% tốt; 11% TB
và 18% kém.
Ide J. và CS/ 2004
[71]
4.8. Về những biến cố
và biến chứng
Trong quá trình PT, vít neo có thể bị lỏng do đường hầm xương quá
rộng hoặc kim dẫn đường không vào xương mà chỉ cắm vào phần sụn
khớp. Khi đó, tôi tháo bỏ vít cũ và thay bằng loại vít neo khác có kích
thước lớn hơn.
Dẫn liệu từ mục 3.6.2.7 cho thấy tỷ lệ tái phát là 5,9%. Kết quả này
tương đương với các tác giả khác trên thế giới. 3 BN bị tái phát đều có
nguyên nhân chấn thương mới. Tôi thấ
y rằng việc lựa chọn BN là đúng
22
tiêu chuẩn, kỹ thuật thực hiện không có gì sai sót. Việc BN bị sai khớp tái
phát sau mổ do chấn thương mới là điều bất khả kháng. Viêm hoặc cứng
khớp sau PT rất hiếm gặp trong y văn, có BN bị viêm khớp sau mổ. BN nữ
18 tuổi, bị SKVTD bên trái 8 lần. BN được PTNS khâu lại sụn viền và
khâu ngắn bao khớp trước bằng 3 vít neo. Sau 4 tuần, BN thấy đau nhiều
khớp vai, hạn chế vận động. Tầ
m vận động thụ động: dang 45°, khép 45°,
xoay ngoài 50° và xoay trong 15°. Phim CHT cho thấy hình ảnh viêm
xương khớp OCCT. BN được PTNS lần 2 để giải phóng khớp, tình trạng
đau có giảm nhưng tầm vận động không được cải thiện. 4 tháng được mổ
mở lại để lấy bỏ tổ chức viêm, tháo vít neo, giải phóng bao khớp trước
dính vào cơ dưới vai. Kết quả sau mổ 6 tháng cho thấy tầm vận động của
BN đã được c
ải thiện rõ rệt, dang vai 75°, đưa tay cao 105°, xoay ngoài
70° và xoay trong 60°. BN hết đau vai và sinh hoạt còn hạn chế ít.
4.9 Một số kinh nghiệm thực tế
- Tư thế BN: Ở tư thế nằm nghiêng, BN được cố định vững chắc trên bàn
mổ, gây mê thuận lợi, khảo sát các tổn thương được dễ dàng. Ở tư thế này,