1 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ
THANH TOÁN THẺ TẠI
VIỆT NAM
Chủ đề 3
Môn học: Thương mại điện tử
TÊN NHÓM: nhóm 1
Lớp: TMĐT5_113
Hà Nội, ngày 26 tháng 1 năm 2013
2
Nội dung chính:
1. Giới thiệu về thanh toán thẻ .
2. Vai trò của thanh toán thẻ tại Việt Nam hiện nay.
3. Các nhà cung cấp lớn trên thị trường.
4. Hạ tầng thanh toán thẻ quốc gia hiện nay
5. Rủi ro khi thanh toán thẻ
hàng sẽ áp dụng lãi suất.
+ Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng.
Tuy nhiên, chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn đã ghi rõ trên
bảng sao kê.
+ Dựa trên khả năng tài chính của chủ thẻ, ngân hàng sẽ cấp cho chủ thẻ thẻ tín dụng
chuẩn, hoặc thẻ tín dụng vàng. Hai thẻ này đều có công năng sử dụng như nhau, chỉ khác
ở điểm hạn mức tín dụng của thẻ vàng thường cao hơn so với thẻ chuẩn và khi sử dụng
thẻ vàng bạn sẽ có nhiều ưu đãi hơn.
c) Lợi ích:
+ Được dùng tiền của Ngân hàng, tiêu trước trả sau với tối đa 45 ngày không lãi suất
+ Được cấp hạn mức tín dụng, mà không cần qua thẩm định phức tạp. Bạn có thể vay
hàng chục, hàng trăm triệu mà không cần thủ tục vay vốn phức tạp. Sở hữu thẻ tín dụng
là tự nâng cao năng lực tài chính, dễ dàng đi vay vốn ngân hàng với thủ tục đơn giản hơn
+ Có thể sử dụng thẻ tín dụng ở khắp nơi không chỉ riêng trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam. Do các ngân hàng phát hành có liên kết với các tổ chức thẻ quốc tế như visa,
Mastercard, với mạng lưới rộng khắp trên toàn cầu sẽ giúp giao dịch thành công tại tất cả
các điểm chấp nhận thẻ và máy ATM.
+ Ngoài ra, nếu có nhu cầu đặt dịch vụ và mua hàng qua mạng, chiếc thẻ tín dụng sẽ là
phương tiện thanh toán hữu hiệu, giúp giao dịch thành công. Ví dụ các hãng máy bay
hiện nay thường có các chương trình khuyến mãi đặt vé qua mạng chỉ một vài USD, nếu
không sử dụng thẻ, khó có những cơ hội hấp dẫn này.
d) Các loại thẻ tín dụng sử dụng phổ biến ở Việt Nam
Ở Việt Nam có các loại thẻ tín dụng do các tổ chức quốc tế phát hành, phổ biến
nhất là Master card và Visa card, AE và thẻ tín dụng do các ngân hàng trong nước phát
5
hành: thẻ của ngân hàng Đông Á, Navibank, ACB, Agribank, Sacombank.
+ Thẻ American express (AMEX)
- Phí thay đổi hạn mức tín dụng
- Phí khiếu nại sai
- Phí yêu cầu bản sao kê
B. Thẻ ghi nợ:
1. Khái niệm
- Khác với thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ chỉ cho phép người sử dụng dùng số tiền đang có
trong thẻ. Loại thẻ này khi được sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ. Thẻ ghi nợ còn
được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động:
+ Thẻ on-line là thẻ ghi nợ giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài
khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn đồng
thời chuyển ngân lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn.
+ Thẻ off-line là thẻ ghi nợ mà giá trị của những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài
khoản của chủ thẻ sau khi giao dịch được thực hiện vài ngày
- Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài
khoản của chủ thẻ.
- Có hai loại: nội địa và quốc tế, trong đó thẻ nội địa chỉ được sử dụng giao dịch trong
phạm vi Việt Nam và còn thẻ thanh toán quốc tế được dùng để rút tiền và thanh toán ở
bất cứ nơi đâu trên thế giới có thể chấp nhận thẻ.
VD: Khi đến bất kỳ quốc gia nào, chẳng hạn đến Mỹ, khi sử dụng có thể nộp tiền vào tài
khoản thẻ là VND, nhưng khi đến Mỹ thì rút tiền mặt tại máy ATM hay thanh toán tiền
hàng hóa dịch vụ là USD. Song khi về đến Việt Nam, số tiền sẽ được quy ra VND theo tỷ
giá hiện hành để trừ đi trong tài khoản thẻ.
2. Những loại phí liên quan.
Miễn phí phát hành thẻ. Một số loại phí thông thường là:
- Phí thường niên
7
- Phí phát hành lại thẻ
- Phí khiếu nại sai
- Phí đổi mã PIN
dụng tiền mặt khi tiêu ở các nước khác nhau. Việc dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ thanh
toán đảm bảo khả năng chi tiếu đa ngoại tệ, không bị lệ thuộc vào ngoại tệ của nước
nào.
Với việc ra đời Internet và các dịch vụ toàn cầu khác, thẻ tín dụng đóng vai trò rất lớn
trong việc cho phép người mua hàng có thể đặt mua hàng qua Internet. Có thể nói
thương mại điện tử phát triển dựa vào rất nhiều khả năng sử dụng tiền điện tử, đặc
biệt là thẻ thanh toán.
b. Đối với ngưòi bán hàng (ĐVCNT) (Merchant hay Retailer)
- Thanh toán thuận tiện: Việc sử dụng thẻ làm công cụ thanh toán làm cho người
tiêu dùng thuận tiện và dễ dàng hơn trong việc mua hàng. Điều này tạo điều kiện cho
người bán hàng có cơ hội tăng doanh số bán hàng của mình.
- Tạo cơ hội mở rộng thị trường bán hàng cho người bán. Thị trường sẽ trở thành
toàn cầu đối với họ một khi cho phép người tiếu dùng mua bán hàng hoá trên Internet
hoặc trong kinh doanh thương mại điện tử.Với việc chấp nhận thẻ thanh toán, người
bán hàng có khả năng giảm thiểu các chi phí về quản lý tiền mặt như bảo quản, kiểm
đếm nộp vào tài khoản ở ngân hàng Ngoài ra, việc thanh toán giữa người mua và
người bán được ngân hàng bảo đảm vừa nhanh chóng, thuận tiện và chính xác.
c. Đối với ngân hàng
- Cơ hội mở rộng tín dụng cho các ngân hàng : Thẻ tín dụng là một cách dễ nhất
cho ngân hàng mở rộng tín dụng và cũng là một phương thức tạo thuận tiện cho
khách hàng muốn vay ngân hàng. Do hạn mức tín dụng là tuần hoàn nên khách hàng
có thể vay tiền, hoàn trả và vay lại tiếp mà không phải đến ngân hàng xin khoản vay
mới. Một khi khách hàng đã thanh toán, hạn mức tín dụng tự động được tăng lên.
Điều này đồng nghĩa với việc khách hàng đã được ngân hàng chấp nhận một khoản
vay mới (hạn mức tín dụng mới).
- Cơ hội mở rộng thị trưởng và giảm thiểu chi phí hoạt động: Việc sử dụng thẻ
thanh toán tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể mở rộng thị trường và tăng thêm
khách hàng mà không cần phải mở thêm nhiều chi nhánh. Ngoài ra, một cách gián
9
10
- Sự thiếu kết nối tổng thế giữa các ngân hàng, khách hàng và nhà cung cấp dịch
vụ, hàng hóa khiến người tiêu dùng chưa mạnh dạn tham gia cũng như thụ hưởng các
tiện ích từ TTĐT
- Thanh toán điện tử ở Việt Nam đang có sự giao thoa, mỗi bên (ngân hàng và nhà
cung cấp) đều chủ động đưa ra những giải pháp riêng mà thiếu vai trò chỉ huy của
Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Kết luận: Thanh toán điện tử tại Việt Nam đã và đang triển khai cà ngày càng dần
hoàn thiện,mặc dù còn tồn tại nhiều khó khan cần phải giải quyết. Lợi ích từ TTĐT
cần được phổ biến để đi vào trong nhân thức của mọi tầng lớp nhân dân. Sẽ là quá
muộn nếu không chú ý đến việc xây dựng nền tảng cho hệ thống thanh toán thẻ đa
mục tiêu. Sự phát triển của thị trường TTĐT thành công hay không, không chỉ nhờ
vào sự ủng hộ của cơ quan quản lý, của ngân hàng mà quan trọng còn từ ý thức của
người dân. Và chúng ta có thể lạc quan vào thị trường thẻ TTĐT của Việt Nam trong
tương lai không xa.
III. NHỮNG NHÀ CUNG CẤP TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY:
1. Tổng quan thị trường:
Việt Nam là thị trường thẻ thanh toán năng động hàng đầu thế giới với mức
tăng trưởng 18.5% trong giai đoạn từ nay tới 2014 ( Research and Markets. US). Theo
số liệu thống kê, tính đến tháng 6/2011, cả nước có 37 triệu thẻ với 250 thương hiệu thẻ
từ 47 tổ chức phát hành. Trong đó thẻ nội địa chiếm 94%, thẻ thanh toán và tín dụng
quốc tế chiếm 6%. Số lượng máy ATM là 12000 máy, 58000 POS được vận hành.
Với quy mô dân số trẻ hơn 85 triệu dân cùng với sự phát triển của công nghệ
và xu hướng thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ là yếu tố thúc đẩy cho sự phát triển
của thị trường thẻ bao gồm cả thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ. Trong thời gian tới, sản phẩm
dịch vụ thẻ nằm trong hướng phát triển ưu tiên số một của các ngân hàng để chiếm lĩnh
thị phần. Mật độ sử dụng tài khoản ngân hàng của Việt Nam chỉ ở mức 5-6%, ở đô thị
của Việt Nam thì khá hơn, đạt 22% trong khi đó trong khu vực ở Thai Lan và Malaysia,
năm 2010, Vietcombank đã phát triển hệ thống Autobank với gần 16.300 máy ATM và
điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc tương đương với 14% thị phần ATM
và 26% thị phần POS so với cả nước.
13
Lợi ích của các ngân hàng khi tham gia phát hành thẻ là:
- Lợi ích chủ yếu từ hoạt động kinh doanh thẻ nội địa của các ngân hàng là số dư
tiền gửi không kỳ hạn cá nhân gắn với tấm thẻ ghi nợ/ ATM, tính đến cuối tháng 6/2012
là 40 nghìn tỷ đồng trên các tài khoản thẻ toàn hệ thống.
- Đa dạng hóa bộ sản phẩm, dịch vụ cung cấp đến cho khách hàng.
- Giảm giao dịch tiền mặt tại ngân hàng.
- Tăng hiệu quả kinh doanh: Việc tăng tiện ích cho tài khoản ngân hàng, thẻ thanh
toán sẽ góp phần thúc đẩy thêm lượng khách hàng mở thẻ, mở tài khoản thanh toán tại
Ngân hàng. Qua đó, giúp Ngân hàng tăng được doanh thu từ hoạt động thanh toán qua tài
khoản và hoạt động thanh toán thẻ, đồng thời giảm bớt đầu tư cho các hoạt động liên
quan đến thanh toán bằng tiền mặt.
- Giúp Ngân hàng nâng cao hình ảnh và thương hiệu.
3. Các công ty chuyển mạch tài chính:
Là dịch vụ làm trung gian kết nối, xử lý, truyền dẫn dữ liệu giao dịch thông qua
ATM, POS và các kênh điện tử khác giữa các ngân hàng với nhau hoặc giữa các tổ chức
cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính; thực hiện việc trao đổi, đối chiếu dữ liệu bằng
điện tử và bù trừ các nghĩa vụ tài chính phát sinh đối với các giao dịch thanh toán thông
qua ATM, POS và các kênh điện tử khác, gửi kết quả bù trù cho Ngân hàng Nhà nước
hoặc ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận để thực hiện việc quyết toán.
Trên thực tế, dịch vụ này thể hiện qua việc kết nối hạ tầng và truyền các lệnh giao
dịch thanh toán giữa hệ thống ATM/POS của các ngân hàng khác nhau, giúp hệ thống
ATM/POS của một ngân hàng có thể liên kết với hệ thống ATM/POS của ngân hàng
14
Smartlink
300,6
1500,4
2211,3
3859,5
5517,6
VNBC
140
719,2
1082,9
1867,8
2662
VISA
45
210,8
336,7
Khác
10,6
62,3
101,4
95,2
8,6
Tổng cộng
1250
6200
9100
15500
22000
Thống kê giá trị giao dịch qua các tổ chức từ 2005-2009 ( đơn vị: VNĐ tỷ)
Tên tổ chức
2005
2006
2007
1941,7
3533,8
5370
VISA
1778,2
1906,6
2093,1
2370,7
2647,1
MASTER
Card
862
908,2
986,5
1134,7
1268,4
38510,5
58149,7
(Nguồn: SBV, Hiệp hội thẻ Việt Nam)
a. Smartlink:
- Tổng quan: Công ty Cổ phần Dịch vụ Thẻ Smartlink được thành lập bởi Ngân
hàng TMCP Ngoại thương VN và 15 Ngân hàng TMCP khác nhằm cung cấp dịch vụ
trung gian hỗ trợ thanh toán, cung ứng các giải pháp thanh toán điện tử hiện đại theo
hướn g chuyên nghiệp hóa và đa dạng hóa các dịch vụ hỗ trợ xử lý giao dịch thanh
toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam.
16
Hiện tại Smartlink đang vân hành hệ thống xử lý thông tin kết nối với 30 ngân hàng
thành viên và các công ty hàng không, viễn thông và các doanh nghiệp lướn ở Việt
Nam để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán tiện ích trên các kênh giao dịch
điện tử ATM, POS, điện thoại di động, Internet.
- Đối tác: Hiện tại, Smartlink có 31 ngân hàng thành viên, trong đó 23 ngân hàng
là thành viên của riêng Smartlink, 8 ngân hàng còn lại cũng đồng thời là thành viên
của Banknetvn và/hoặc VNBC.Đối tác của Smartlink bao gồm: Vietnam Airline,
Viettel, Mobifone, Vinaphone, IBM, VnExpress, Visa, MasterCard, American
Express, JCB, Vincom, MEPS, FPT Online, ACI Payment, Diners Club
International ….Mạng lưới của Smartlink: 5.624 máy ATM, chiếm 43,9% thị trường;
32.837 máy POS, chiếm 51,7% thị trường; phục vụ 10.391.000 chủ thẻ ghi nợ nội
địa, chiếm 32% thị trường.Hệ thống của Smartlink đã kết nối thành công với hệ thống
của Banknetvn và VNBC với tổng số 18 ngân hàng, trong đó có 6 ngân hàng đồng
thời là thành viên Banknetvn.
- Sản phẩm dịch vụ:
+ Dịch vụ xử lý dữ liệu điện tử các giao dịch tài chính – Smartlink Switching
hơn 1.800 máy ATM, 2.000 máy POS phủ rộng khắp các tỉnh thành trong cả
nước, phục vụ hơn 5 triệu chủ thẻ Việt Nam và quốc tế. Các thành viên của
hệ thống VNBC bao gồm DongA Bank, HabuBank, SaigonBank,
CommonwealthBank, GP.Bank, DaiA Bank, MaiLinh Group, MHB, ANZ,
Citibank và UOB.Trong kế hoạch phát triển của mình, V.N.B.C. ưu tiên tập trung
phát triển nhiều hơn nữa các tiện ích, ứng dụng trên nền ATM, POS và giao
dịch trực tuyến nhằm đa dạng hóa các loại hình giao dịch, đẩy mạnh loại hình
thanh toán không dùng tiền mặt. V.N.B.C. có liên kết với các đối tác chiến lược
như China Union Pay, IBM, Euronet, GRG Banking, MDS, …
- Sản phẩm dịch vụ:
+ Dịch vụ chuyển mạch thẻ
+ Cung cấp thiết bị và giải pháp công nghệ
+ Dịch vụ ATM
+ Thương mại điện tử
- Phân tích và nhận định : Các dịch vụ chủ chốt mang lại doanh thu chính cho
V.N.B.C, bao gồm: Chuyển mạch thẻ; Dịch vụ bảo hành, bảo trì ATM; Sản xuất và
kinh doanh máy ATM bán vàng.Trong các dịch vụ này, dịch vụ bảo hành, bảo trì
18
ATM là dịch vụ mang lại doanh thu lớn nhất cho VNBC. Dịch vụ chuyển mạch thẻ
chỉ chiếm khoảng 40% doanh thu (tuy nhiên con số này chưa được kiểm chứng).
c. BANKNETVN:
- Tổng quan: Banknetvn được thành lập với mục tiêu chính là xây dựng hệ
thống chuyển mạch tài chính quốc gia nhằm kết nối các hệ thống thanh toán
thẻ nói chung, hệ thống ATM/POS nói riêng của các ngân hàng Việt Nam.
Việc kết nối này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thành viên có khả năng
mở rộng mạng lưới dịch vụ của mình với đầu tư hợp lý, tránh được việc đầu tư
trùng lặp của các ngân hàng cho hệ thống cơ sở hạ tầng và mạng lưới các
thiết bị đầu cuối trên phạm vi toàn quốc.
of time with prepaid, pay now with debit or later with credit products.
e. Master Card:
Là một trong những thương hiệu thanh toán được công nhận trên
toàn thế giới, MasterCard đã tạo dựng hình ảnh của mình trong mắt khách
hàng bằng những giá trị ,lợi ích và sự tiện dụng. Hệ thống MasterCard được
chấp nhận trên toàn cầu và được sử dụng ở hơn 15 triệu khu vực trên thế giới
với hơn 3.800 khách hàng mới đăng ký mỗi ngày.
SẢN PHẨM
Là một trong những thương hiệu thanh toán được công nhận trên toàn thế
giới, MasterCard đã t ạo dựng hình ảnh của mình trong mắt khách hàng bằng
những giá trị , lợi ích và sự tiện dụng. Hệ thống MasterCard được chấp nhận
trên toàn cầu và được sử dụng ở hơn 15 triệu khu vực trên thế giới với hơn
3.800 khách hàng mới đăng ký mỗi ngày và chương trình thẻ ghi nợ Maesstro,
ATM Cirrus cũng được khách hàng đón nhận.
Thành viên của MasterCard bao gồm các ngân hàng, các tổ chức tài chính
hoặc những công ty cung cấp dịch vụ tài chính và mỗi ngành đều có những
luật l ệ, sự giám sát khác nhau. Các thành viên của MasterCard sẵn sàng đáp
ứng những sản phẩm và thẻ tín dụng mang thương hiệu MasterCard. Hiện nay ,
các Thành viên của MasterCard còn đưa ra loại thẻ quốc tế Platinum MasterCard -
thẻ có uy tín và giá trị cao hơn. Ngoài ra, còn có World MasterCard - loại thẻ
cao cấp nhất và có giá trị vĩnh viễn.
20
Ngoài phạm vi chi trả cho thương mại, kinh doanh và tập thể, MasterCard
còn giúp các công ty theo dõi , quản lý chi ti êu trong du lịch, giải trí hoặc
các bất cứ sự chi tiêu nào khác.
Purchasing card lại là một loại thẻ khác, nó giúp cho các công ty có thể
theo dõi và kiểm soát chi tiêu trong dịch vụ và giải trí hoặc bất kỳ sự chi tiêu
nào khác. Tóm lại, dưới bất kỳ hình thức nào thì các sản phẩm của MasterCard
cũng đã đáp ứng được bản chất “mọi lúc, mọi nơi” của tín dụng.
quả và thực thi một mạng luới chi trả được chấp nhận trên toàn cầu. Điều
này bảo đảm rằng sản phẩm của thương hiệu MasterCard - một sản phẩm chất
lượng cao - trong tương lai có thể sẽ thay thế những sản phẩm chi trả khác
(bao gồm tiền mặt và séc). Những nhà kinh doanh cũng được khuyến cáo sử
dụng dịch vụ MasterCard trong các giao dịch thương mại . Không có một trở
ngại nào đối với khách hàng sử dụng dịch vụ của MasterCard. MasterCard cung
cấp cho các thành viên của mình những sản phẩm và dịch vụ độc quyền. Như
thế, cả nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ đều có trách nhiệm đối với
việc phát triển thương hiệu của gia đình MasterCard ít nhất trong vi ệc thực
hiện những quy định đã đề ra.
Dịch vụ chi trả được cung cấp bởi thương hiệu MasterCard đều hoạt động
rất hiệu quả, chất lượng, an toàn. Để ngày càng phát triển và thu hút nhiều
khách hàng hơn trong nền kinh tế toàn cầu, MasterCard cần cung cấp cho
khách hàng nhiều dịch vụ chi trả tốt hơn thông qua thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ,
thẻ trả trước…Đi ều đó sẽ giúp cho MasterCard nhận được sự đồng thuận của
khách hàng trên toàn cầu và điều đó sẽ mang lại lợi ích cho việc kinh doanh
thẻ của các thành viên trong gia đình MasterCard.
f. AMEX:
Được xem là dẫn đầu với các loại thẻ tín dụng và Travellers Cheque (séc
du lịch), American Express thực sự đã giành được vị trí thương hiệu toàn cầu,
và vẫn luôn khẳng định vị thế của mình bằng những kinh nghiệm trong lĩnh
vực du lịch và dịch vụ tài chính. Sản phẩm và dịch vụ của hãng có mặt trên
22
hơn 200 quốc gia và công ty cũng có hơn 78.000 chi nhánh trên toàn thế giới
. American Express nổi tiếng trên toàn thế giới nhờ vào uy tín và những kết
quả thành công của sự tận tâm, tận tụy để đưa Hãng phát triển hơn nữa. Mặc
dù có rất nhiều sản phẩm tương tự nhưng American Express luôn chứng minh
được những điểm khác biệt của mình trong thị trường đầy cạnh tranh bằng
việc kết nối những sản phẩm hàng đầu với dịch vụ khách hàng ngày càng tốt
dịch trung bình khoảng 104.000 tỷ đồng/ngày, có khả năng đáp ứng tăng trưởng thanh
toán đến năm 2020 với năng lực xử lý đến 2 triệu giao dịch/ngày. Có thể nói, đây là hệ
thống thanh toán xương sống của quốc gia, tạo ra bước phát triển đột phá về nền tảng cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho TTKDTM, đồng thời làm cơ sở cho việc phát triển các phương
tiện, dịch vụ thanh toán mới.
- Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử (TTBTĐT): Là một trong những hệ thống thanh
toán quan trọng do NHNN chi nhánh quản lý, vận hành và triển khai tại từng địa bàn tỉnh,
thành phố ( trừ 5 tỉnh, thành phố đã triển khai Hệ thống TTĐTLNH giai đoạn I là: TP Hà
Nội, Hải Phòng, TP HCM, Cần Thơ và Đà Nẵng, áp dụng hình thức thanh toán bù trừ
giấy). Hệ thống được bắt đầu triển khai từ tháng 5/2002 và đến tháng 6/2008, TTBTĐT
đã được triển khai rộng khắp trên toàn quốc. Hệ thống TTBTĐT thực hiện chức năng xử
lý và quyết toán bù trừ các giao dịch thanh toán điện tử liên ngân hàng giữa các ngân
hàng thành viên tham gia bù trừ điện tử trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Đến nay, Hệ thống đang hoạt động ổn định, an toàn và phát huy hiệu quả tích cực
với số lượng và giá trị giao dịch thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong thanh toán liên ngân
hàng. Đến cuối năm 2010, toàn Hệ thống TTBTĐT có khoảng 950 thành viên, với khối
lượng giao dịch trong năm 2010 là 9,5 triệu giao dịch, đạt 2.444.827 tỷ đồng, tăng xấp xỉ
48% về số lượng giao dịch và tăng gần 95% về giá trị giao dịch so với năm 2009.
- Xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất (TTCMTTN): NHNN đã phối hợp
các Bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án xây dựng TTCMTTN, trình Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt (thực hiện từ 2009 - 2012) nhằm tiến tới kết nối các hệ thống thanh toán
đối với giao dịch bán lẻ của các NHTM, các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống
thống nhất trên toàn quốc, tăng tính thuận tiện cho người sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ.
Phát triển hệ thống thanh toán nội bộ của các NHTM: Hệ thống thanh toán nội bộ của
các NHTM, nhất là các ngân hàng lớn, đã có sự phát triển vượt bậc, nhờ sự đầu tư về cơ
sở hạ tầng và triển khai ứng dụng mạnh mẽ công nghệ phục vụ cho hoạt động thanh toán.
24
Hầu hết, các NHTM đã thiết lập được hệ thống ngân hàng lõi (core banking), hệ thống
thanh toán nội bộ với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, cho phép các NHTM cung ứng các
phần cứng, phần mềm tương thích phục vụ hoạt động TTKDTM; tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin truyền thông để phát triển những phương thức thanh toán điện tử
mới.
- Nhà nước có các chính sách ưu đãi giá thuê đất, thuê mặt bằng cho các TCCUDVTT,
các tổ chức trung gian thanh toán và các doanh nghiệp thực hiện đầu tư phát triển, sản
xuất ATM, POS, thẻ trong nước; lắp đặt ATM, POS phục vụ cho việc cung ứng các dịch
vụ TTKDTM và thanh toán thẻ qua POS.
- Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống
thanh toán, nâng cao hiệu lực giám sát hoạt động của các hoạt động thanh toán mang tính
hệ thông, giảm thiểu rủi ro;
- Ưu tiên đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm trao đổi và
học tập kinh nghiệm của các nước phát triển để hoàn chỉnh hoạt động thanh toán tại Việt
Nam, đáp ứng yêu cầu thực tế và phù hợp với thông lệ quốc tế.
V. CÁC RỦI RO THANH TOÁN THẺ TẠI VIỆT NAM:
1. Khái niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ:
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất
có liên quan đến hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành, sử dụng và
thanh toán thẻ. Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ.
2. Tình hình rủi ro thanh toán thẻ tại Việt Nam:
Hoạt động thanh toán thẻ đang phát triển ngày càng mạnh ở hầu hết các nước trên thế
giới. Ở Việt Nam, nhờ sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, ứng dụng công
nghệ mới trong các hoạt động ngân hàng và sự chuyển hướng tập trung của các ngân
hàng vào lĩnh vực bán lẻ. Công nghệ thông tin kích thích mạnh mẽ quá trình hiện đại hoá
hệ thống ngân hàng và là yếu tố tiên quyết tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển mạnh
mẽ của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, qua đó mang lại những lợi ích lớn cho
ngân hàng, người tiêu dùng và toàn xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình phát hành và thanh toán thẻ khiến các ngân hàng gặp nhiều khó