TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – CAO HỌC KHÓA 20
MÔN: ĐẦU TƯ Q UỐC TẾ
Chuyên đề:
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG FDI
THỰC TRẠNG & GIẢI PHÁP
Ở VIỆT NAM
GVHD: GS.TS. Võ Thanh Thu
Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn T hị Ngọc Dung
2. Bùi Trang Đài
3. Nguyễn T hị Thanh Hà
4. Phạm Thị Thu Hòa
5. Nguyễn T hị Thu Trinh
Tp. Hồ Chí Minh, 01/2012
LỜ I MỞ ĐẦU
Một trong những xu hướng phát triển hiện nay là sự bùng nổ của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Công nghệ đã
làm cho năng lực sản xuất tăng nhanh chưa từng có, chất lượng sản phẩm nâng cao
thoả mãn được hầu hết những đòi hỏi khắt khe của cuộc sống hiện đại. Những
công nghiệp bằng cách sử dụng các nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và
có phương pháp ”.
Định nghĩa được trình bày trong Luật Chuyển Giao Công Nghệ của Quốc Hội
Khóa XI,kỳ họp thứ 10,số 80/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006: Công nghệ
là giải pháp , quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương
tiện dùng để biến đổi nguyên liệu thành sản phẩm”.
Dù định nghĩa như thế nào thì công nghệ phải thể hiện là việc áp dụng các quy
luật khoa học vào thực tiễn một cách có khoa học và có phương pháp và để phân
biệt rõ về công nghệ.
1.1.2 Phân loại công nghệ
1.1.2.1 Phân loại theo số lần công nghệ đã được chuyển giao
Công nghệ chia làm 2 nhóm:
- Công nghệ nguồn: là công nghệ tạo ra lần đầu từ các phát minh sáng chế, giải
pháp hữu ích. Công nghệ nguồn là công nghệ mới nhưng mang tính hiện đại,
chúng thường có nguồn gốc từ các nước công nghiệp phát triển. Các nước
đang phát triển cũng có khả năng tạo ra công nghệ nguồn như CUBA: trong
năm 2008 công bố đã tìm ra thuốc làm chậm sự phát triển của căn bệnh ung
thư.
- Công nghệ thứ cấp: Là những công nghệ đã được chuyển giao lần thứ nhất,
thứ 2, thứ 3 …Các nước đang phát triển trong đó có Việt nam thường sử dụng
công nghệ thứ cấp.
1.1.2.2 Phân loại theo mức độ tiên tiến của công nghệ
Có 3 loại công nghệ:
- Công nghệ cao, hiện đại: Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tạo ra các sản phẩm, đơn vị có
chất lượng và giá trị gia tăng cao, có khả năng hình thành các ngành sản xuất,
dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
- Công nghệ trung bình: Thường là công nghệ thứ cấp, đã được chuyển giao
nhiều lần nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu sản xuất hoạc dịch vụ, tuy nhiên khi sử
dụng công nghệ này không cho phép tạo ra các sản phẩm dịch vụ có khả năng
loại theo tiêu chí này công nghệ chia thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Công nghệ được khuyến khích chuyển giao(nêu ở điều 9 Luật công
nghệ)
Công nghệ được khuyến khích là công nghệ cao, công nghệ tiên tiến đáp ứng
một trong các yêu cầu sau:
1. Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao
2. Tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới
3. Tiết kiệm năng lượng, nguy ên liệu
4. Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo
6. Phòng, chống thiên tai dịch bệnh
7. Sản xuất sạch, thân thiện môi trường
8. Phát triển ngành, nghề truyền thống
Nhóm 2:Công nghệ hạn chế chuyển giao (nêu ở điều 10 Luật công nghệ)
Hạn chế chuyển giao một số công nghệ nhằm mục đích sau đây:
1. Bảo vệ lợi ích quốc gia
2. Bảo vệ sức khỏe con người
3. Bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc
4. Bảo vệ động vật,thực vật,tài nguyên môi trường
5. Thực hiện quy định của điều ước quốc tế mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam là thành viên.
Nhóm 3: Công nghệ cấm chuyển giao (Nêu ở điều 11 Luật công nghệ)
1. Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động,
vệ sinh lao động, bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên môi
trường.
2. Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội và
ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh , trật tự, an toàn xã hội.
3. Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc t ế mà
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên.
4. Công nghệ thuộc danh mục bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.
Công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt có đặc điểm như là một cơ thể sống,
có chu kỳ phát triển. Chu kỳ phát triển của công nghệ trải qua các giai đoạn: nghiên
cứu sản xuất thửtriển khai rộngphát triểnbảo hòalỗi thờibị thay thế
bởi các công nghệ mới khác.
Ngày nay chu kỳ sống của công nghệ rút ngắn đi rất nhiều: Nếu ở đầu thế kỷ
20 “tuồi thọ” của công nghệ bình quân 15 -20 năm, đến giữa thế kỷ: 7-12 năm, đầu
thế kỷ 21: 3 – 5 năm, thậm chí tuổi thọ sản phẩm trong ngành sản xuất điện thoại di
động chỉ còn 3-6 tháng lại ra công nghệ mới hiện đại hơn. Cho nên khi chuyển giao
công nghệ các doanh nghiệp phải ước đoán công nghệ mình lựa chọn ở giai đoạn
nào của chu kỳ sống, bao lâu công nghệ sẽ bị lạc hậu, bị thay thế. Từ đó mới xây
dựng chiến lược mua sắm hoặc nâng cấp công nghệ.
1.1.4.3 Công nghệ mang thuộc tính đặc thù
Đây là sự biểu hiện tính tương thích của công nghệ
- Tính đặc thù về địa điểm: Mổi công nghệ chỉ phù hợp với môi trường khí
hậu,văn hóa,đất đai,vị trí địa lý cụ thể…điều này chẳng những đúng trong lĩnh
vực công nghệ sinh học: Công nghệ có thể ứng dụng t ốt ở vùng này, nhưng ở
vùng khác không phát huy tác dụng…mà còn thể hiện trong lĩnh vực công
nghiệp: ví dụ TV, sản phẩm điện tử có thể dùng tốt ở Châu Âu nơi khí hậu
khô, lạnh. Nhưng cũng sản phẩm đó khi mang về Việt Nam thì dùng không tốt
vì nó chưa được nhiệt đới hóa, nên các sản phẩm điện tử không vận hành có
hiệu quả trong môi trường có khí hậu ẩm.
- Tính đặc thù về mục tiêu: Sử dụng công nghệ, sản phẩm nào thì công nghệ ấy,
khi quy cách sản phẩm thay đổi thì công nghệ cũng phải điều chỉnh cho phù
hợp. N goài ra khi mục tiêu về thị trường, phân khúc thị trường thay đổi thì
việc chọn sử dụng công nghệ cũng thay đổi.
- Tính tương thích về môi trường văn hóa và trình độ lao động: Có những công
nghệ được sử dụng hiệu quả ở các nước công nghiệp sử dụng tốt nhưng đưa
sang nước khác kém phát triển ít phát huy tác dụng vì năng lực và trình độ của
người lao động kém hay công nghệ biểu diễn ở nước này được chấp nhận
nhưng đưa sang nước khác bị “tẩy chay”
1.2 Chuyển giao công nghệ và các hình thức chuyển gi ao công nghệ
1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
- Theo tổ chức ESCAP
+ Khái niệm hẹp : CGCN là sự cho phép của một Người có thẩm quyền tuyệt
đối cho một Người khác để sử dụng nội dung công nghệ trong một thời gian
nhất định và cam kết không sử dụng quyền tuyệt đối của mình để chống lại
Người được trao quyền trong suốt thời gian đó.
+ Khái niệm mở rộng: Là sự chuyển giao các kiến thức kỹ thuật từ Người có
kiến thức sang Người chưa có kiến thức và mong muốn có được kiến thức
đó.
- Khái niệm CGCN ở Việt Nam: “CGCN là chuyển giao quyền hoặc quyền sử
dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công
nghệ sang bên nhận công nghệ.
- Thực chất về hoạt động CGCN: là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng các đối tượng sỡ hữu công nghiệp như: sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa,.
1.2.2 Các hình thức CGCN
1.2.2.1 Phân loại theo mức độ khống chế của bên chuyển giao công nghệ
Có 3 hình thức chuyển giao: chuyển giao giản đơn, chuyển giao không độc
quyền, chuyển giao độc quyền.
a) Chuyển giao giản đơn: Là hình thức người chủ công nghệ trao cho người
mua nó quyền sử dụng công nghệ trong một thời gian và phạm vi hạn
chế. Đặc điểm của hình thức chuyển giao này là:
- Người chủ công nghệ có thể bán cho một hoặc nhiều người muốn mua trên
cùng một địa phương.
- Người mua công nghệ không có quyền bán lại công nghệ đã được chuyển
giao
- Giá cả công nghệ thấp
b) Chuyển giao công nghệ không độc quyền (chuyển giao đặc quyền)
Đặc điểm của hình thức này là:
nhiệm bàn giao một phần thị trường của mình, nơi mà họ đã xâm nhập thành
công cho bên mua công nghệ. Thông thường, mức độ chuyển giao “trao thị
trường” được thực hiện dưới dạng liên doanh sản xuất.
1.2.2.3 Phân loại theo hình thái công nghệ được chuyển giao
Có 2 hình thức chuyển giao:
Các chu kỳ của quá trình phát triển công nghệ:
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu khoa học để phát minh ra công nghệ (nghiên cứu cơ
bản)
- Giai đoạn 2: Triển khai thực nghiệm (cho ra đời sản phẩm trong phòng thí
nghiệm)
- Giai đoạn 3: Triển khai sản xuất (để nhằm hoàn thiện sản xuất)
- Giai đoạn 4: Sản xuất đại trà (đưa ra thị trường)
a) Chuyển giao công nghệ theo chiều dọc.
Là hình thức chuyển giao thực hiện bao gồm các công đoạn:
- Giai đoạn 1 và 2
- Giai đoạn 1; 2 và 3
- Giai đoạn 1; 2; 3 và 4
Như vậy, CGCN dọc thể hiện dòng công nghệ từ nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm qua các giai đoạn triển khai và cuối cùng là thương mại hóa.
Ưu điểm của CGCN theo chiều dọc:
- Bên nhận công nghệ có thể sỡ hữu công nghệ mới chưa xuất hiện trên thị
trường
- Bên nhận công nghệ hoàn toàn làm chủ công nghệ được chuyển giao
Hạn chế:
- CGCN theo chiều dọc đòi hỏi bên nhận công nghệ phải có trình độ và cơ sở
vật chất kỹ thuật để tiếp nhận công nghệ.
- Người CGCN mất quyền kiểm soát quyền sỡ hữu trí tuệ đối với công nghệ
- Giá CGCN cao
b) Chuyển giao công nghệ theo chiều ngang
Là hình thức chuyển giao bao gồm các công đoạn:
- Bên CGCN có thể bị mất các chuyên gia giỏi
- Bên CGCN có thể bị đối t ác vi phạm hợp đồng CGCN
1.3.2 Lợi ích và hạn chế đối với bên tiếp nhận công nghệ
1.3.2.1 Những lợi ích đối với bên tiế p nhận công nghệ:
- Giảm thiểu chi phí cho việc nghiên cứu và triển khai công nghệ
- Giúp cho bên tiếp nhận công nghệ cải thiện nâng cấp về trình độ khoa học kỹ
thuật và công nghệ nhờ đó làm cho sản phẩm mang tính ưu việt hơn, mang
khả năng cạnh tranh cao hơn.
- Giúp cho bên tiếp nhận nâng cao trình độ cán bộ và tay nghề công nhân qua
công tác huận luyện và đào tạo để thực hiện CGCN và qua việc tiếp xúc với
đội ngũ chuy ên gia của bên CGCN.
- Có thể mở rộng thêm thị trường và lĩnh vực kinh doanh
- Nâng cao năng lực kinh doanh đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa về kinh tế, củng
cố thương hiệu, nâng cao giá trị của sản phẩm
1.3.2.2 Những hạn chế (bất lợi) đối với bên tiếp nhận công nghệ:
- Bị lệ thuộc vào bên CGCN về việc huấn luyện, đào tạo, chỉ dẫn lắp đặt máy
móc trang thiết bị…
- Có thể bị mất vốn đầu tư vào mua công nghệ
- Bên CGCN có vấn đề: không có năng lực hoặc không có kinh nghiệm
chuyển giao dẫn tới CGCN không đầy đủ kéo dài thời gian… gây thiêt hại
cho bên tiếp nhận công nghệ.
- Do việc đàm phán kém hiệu quả nên hợp đồng CGCN có một số điều khoản
bất lợi cho bên tiếp nhận công nghệ: tiếp thu công nghệ không trọn vẹn, thời
gian sở hữu công nghệ quá ngắn chưa kịp thu hồi vốn, không được chuyển
giao thị trường, giá cả công nghệ đắt…
1.4 Hợp đồng chuyển giao công nghệ quốc tế
1.4.1 Những hiểu biết về hợp đồng CGCN
Hợp đồng CGCN quốc tế là sự thỏa thuận bằng văn bản mang tính pháp lý
giữa các bên tham gia ký kết, trong đó nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền
lợi của mỗi bên có lien quan đến quá trình CGCN.
đổi mới phát triển công nghệ được chuyển giao.
6. Miễn trừ trách nhiệm của Bên CGCN trong các trường hợp:
- Sai sót hoặc chuyển giao không đầy đủ
- Máy móc trang thiết bị chuyển giao không đảm bảo chất lượng đã thỏa
thuận
7. Ngăn cấm Bên tiếp nhận công nghệ được tiếp tục sử dụng công nghệ sau khi
đã kết thúc thời hạn hợp đồng CGCN.
- Lưu ý thứ hai: Vấn đề đổi mới và hoàn thiện công nghệ chuyển giao
Trong quá trình CGCN ở phía Bên được chuyển giao có thể diễn ra sự hoàn
thiện hoặc đổi mới công nghệ. Cần phân biệt sự đổi mới và hoàn thiện công
nghệ
- Đổi mới công nghệ: Là sự thay đổi cơ bản sản phẩm hoặc quy trình công
nghệ.
- Sự hoàn thiện công nghệ: Là sự tác động làm cho công nghệ thay đổi phù
hợp với những điều kiện sản xuất cụ thể. Để đảm bảo CG CN một cách hoàn
diện, có hệ thống, Bên mua công nghệ nên đưa vào hợp đồng CGCN những
điều khoản mà Bên bán công nghệ phải chuyển giao hoặc thông báo những
hoàn thiện và đổi mới có liên quan đến công nghệ được chuyển giao.
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC THÚC Đ ẨYQUÁ
TRÌN H TIẾP NH ẬN VÀ C HUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.1 Chuyển giao công nghệ ở Hàn Quốc
2.1.1 Nét chung về con đường tiếp nhận:
Chúng tôi đề cập đến tình hình nhập công nghệ ở Hàn Quốc và hoạt động
chuyển giao công nghệ được tập trung chủ yếu vào các thập kỷ 70, 80 và 90. Chính
phủ Hàn Quốc đã có những chính sách nhập công nghệ qua các giai đoạn: Giai đoạn
1 năm 1978, giai đoạn 2 năm 1984- giai đoạn được gọi là thông thoáng nhất và giai
đoạn 3-1994, gọi là “Chiến lược Quốc tế hóa kinh tế mới” nhằm tự do hóa mà thực
chất là đơn giản hóa các thủ tục nhập công nghệ.
Kết quả thực tế nhập công n ghệ: N hập công nghệ ở H àn Quốc gia tăng
trung bình 15%/năm cho đến năm 1984, nhưng từ năm 1989 bắt đầu giảm
1.063,3 1.283,8 1.090,3 802,6 1.396 894,5 1044,3 11.208,5
Theo số liệu ở Bảng 2.2, từ năm 1988 t ình hình nhập công nghệ có xu
hướng giảm và đến năm 1993 do t ình hình kinh t ế đã khởi sắc nên lại bắt đầu
tăng lên (từ 233 vụ năm 1992, lên 273 vụ năm 1993).
Con đường du nhập công nghệ và mục đích của du nhập công nghệ:
Theo kết quả điều tra năm 1991 của Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, các
doanh nghiệp của Hàn Quốc hiểu rằng tự mình phát triển công nghệ hơn là du nhập
công nghệ để học tập công nghệ mới liên quan đến sản xuất hoặc sản phẩm (46%).
Trường hợp công nghiệp hóa và công nghiệp máy m óc, mức độ phụ thuộc vào du
nhập công nghệ là 59% và 47%, vẫn còn là cao. M ặt khác, nếu bằng con đường chủ
yếu để học tập công nghệ nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc thì chủ yếu
du nhập công nghệ thông qua hợp đồng chuyển nhượng licence, 34% thông qua
nhập thiết bị và nguyên liệu, 18% qua đầu tư hợp tác. Theo số liệu điều tra của Hiệp
hội Phát triển Công nghệ Hàn Quốc, trong hợp đồng chuyển nhuợng licence của các
doanh nghiệp Hàn Quốc, 90,2% của toàn bộ giao dịch là diễn ra giữa các doanh
nghiệp độc lập không có sự quan hệ về vốn giống như các công ty con hay là công
ty hợp tác. Phần lớn hợp đồng du nhập công nghệ của Hàn Quốc là có mối quan hệ
giao dịch của người thứ ba trung gian giữa các doanh nghiệp độc lập. Trường hợp
đã có kinh nghiệm làm ăn với doanh nghiệp cung cấp công nghệ trong quá khứ
chiếm 42,8%, trường hợp chưa có kinh nghiệm là 57,2%. Điều này có ý nghĩa là du
nhập công nghệ từ các doanh nghiệp độc lập công nghệ không có kinh nghiệm giao
dịch là đa số.
Bảng 2.3 Con đường học tập công nghệ mới và công nghệ nước ngoài của các
doanh nghiệp Hàn Quốc.
Đơn vị: %
Phương pháp học công
nghệ mới
Con đường học công nghệ nước
ngoài
Trung tâm
44 56 89 38 18
Doanh
nghiệp
vừa và nhỏ
47 53 85 30 19
Nguồn: Phân tích hiệu quả du nhập công nghệ của Ngân hàng Công
nghiệp H àn Quốc, tháng 9/1991.
Xu hướng mà các doanh nghiệp H àn Quốc du nhập công n gh ệ từ các
doanh nghiệp độc lập của N hật Bản và châu  u là nhiều hơn so với Mỹ. N ếu
so sánh việc nhập công nghệ với doanh n ghiệp vừa và nhỏ, thì các doanh
nghiệp quy mô lớn có tính chủ động và tích cực hơn, chúng ta t hử quan sát
các số liệu trong Bảng 7 dưới đây sẽ rõ:
Bảng 2.4 Quy mô tương đối của du nhập công nghệ
(Đơn vị: vụ%)
Số vụ Lớn nhất Lớn Giống
nhau
Nhỏ Nhỏ nhất
Doanh
nghiệp
lớn
237 18,6 19,4 14,3 190 28,7
Doanh
nghiệp
vừa và
nhỏ
63 61,9 14,3 17,9 11,1 4,8
Toàn thể 300 27,7 18,3 13,3 17,3 23,7
Nguồn: Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Hàn Quốc.
Như trên đã nêu, du nhập công nghệ của Hàn Q uốc có xu hướng chính
trình sản xuất của Nhật Bản tương đối cao. Ngoài ra, nếu căn cứ t heo kết quả
điều tra này , tỷ lệ công nghệ p hát triển sản p hẩm mới t rong công n ghệ liên
quan đến sản phẩm, tỷ lệ công n ghệ nâng cao n ăng lực thiết kế và mẫu mã
trong công n ghệ liên quan đến quá trình sản xuất là cao nhất.
Bảng 2.5 Loại hình công nghệ tiếp nhận
(Đơn vị: %)
Phân chia Công nghệ
liên quan đến
sản phẩm
Công nghệ
quy trình sản
xuất
Công nghệ sản
phẩm và quy
trình sản xuất
Các quy mô Xí nghiệp lớn 44,0 11,1 44,8
doanh nghi
ệ
p
Doanh nghiệp
vừa và nhỏ
47,6 7,9 44,4
Cả nước Mỹ 62,2 6,1 31,6
Nhật 38,5 10,5 51,0
Ba nước châu
Âu
40,4 12,8 46,8
Toàn thể 45,2 10,2 44,6
công nghệ nhập chủ yếu cho các ngành: Điện - điện tử, hoá công nghiệp và
máy móc thiết bị.
- Con đường du nhập công nghệ của H àn Quốc chủ yếu là thông qua các hợp
đồng chuyển nhượng licence từ các công ty đa quốc gia, sau đó mới là nhập
các công nghệ, thiết bị máy móc.
- Phần lớn những công nghệ mà các doanh nghiệp Hàn Quốc nhập về là những
công nghệ trung tâm được tiêu chuẩn hoá hoặc phổ cập hoá, là những công
nghệ hoàn chỉnh tạo ra sản phẩm hàng loạt có chất lượng và khả năng cạnh
tranh cao trên thị trường nội địa cũng như xuất khẩu.
- Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách hợp lý trong việc khuyến khích,
hỗ trợ các doanh nghiệp nhập công nghệ, làm chủ công nghệ và sáng tạo công
nghệ. Đồng thời Chính phủ và các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ
trong việc thống nhất điều chỉnh dòng nhập công nghệ, các chủng loại công
nghệ phù hợp với đặc điểm, năng lực trong nước cũng như nắm bắt được cơ
hội thị trường quốc tế nên việc du hập công nghệ đạt được hiệu quả kinh tế
cao.
2.2 Chuyển giao công nghệ ở Thái Lan
2.2.1 Nét chung về con đường tiếp nhận
Ở Thái Lan, ngành chế tạo đã ổn định t rên 3 thập kỷ nay . Tuy vậy , công
nghệ chế t ạo lại nằm trong tay các công ty nước ngoài, có thể nêu ra các lý
do: Thứ nhất, sự p hát triển của ngành chế tạo phụ thuộc vào đầu tư của nước
ngoài hơn l à đầu tư trong nước. Thứ hai, ngành chế tạo phát triển trong thời
kỳ hướng ra xuất khẩu hơn là t hời kỳ t hay t hế nhập khẩu. Thứ ba, Chính phủ
Thái Lan hỗ trợ cho các do anh n ghiệp tư nhân t rong R&D và chuyển giao
công nghệ nhưng không p hát huy được vai trò t ích cực để p hát triển công
nghệ của Thái Lan. Trong ngành chế t ạo ở Thái Lan, có 2 nhóm n gành có
đặc trưng cho ngành chế t ạo: Thứ nhất, là ngành điện tử, dựa vào sự đầu tư
của nước ngoài nên p hát triển khá cao, xuất khẩu được nhiều mặt hàng điện,
điện tử. Thứ hai, là ngành côn g n ghiệp máy công cụ, đầu t ư của nước ngoài
hướng về xu ất khẩu. Có nhiều côn g ty điện tử quốc tế đã được thành lập vào
thời kỳ này như Công ty con của Tập đoàn M inebea của Nhật Bản (1982),
Công ty NMB Thái đã bắt đầu sản xuất động cơ quạt vòng bi nhỏ. Năm
1985, Công ty Fujikula Nhật Bản bắt đầu hoạt động sản xuất dây cáp , sản
xuất Comp uter Code cho IBM . Công ty Mỹ-Shiget Technologic sản xu ất đĩa
cứng, Công ty AMD và A T&T Microelect rolonics thành lập nhà máy sản
xuất IC xuất khẩu. Trong thời kỳ này FDI khá cao, các côn g ty đã bước vào
thời kỳ sản xuất sản phẩm điện tử rất mạnh ở Thái Lan.
(iv) Thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao độ sau năm 1986:
Sau khi đồng Yên lên giá, đầu t ư nước ngoài t ừ N hật Bản và các nước
NICs khác ngày càng mở rộn g vữn g ch ắc. Đ ầu t ư mới này chủ yếu hướng
vào xuất khẩu, tính đến năm 1990 đã có 250 công ty đi vào hoạt động và trên
100 công ty chuẩn bị vào hoạt động (bao gồm các công t y được khuy ến
khích và khôn g được khuy ến khích). Thời kỳ này các côn g ty không chỉ mở
rộng quy mô hiện có, mà đầu tư mới của nước n goài liên tục hướng về Thái
Lan, tổng kim ngạch đầu tư không ngừng gia tăng. Về các công ty N hật Bản,
tập đoàn NMB đã xây dựng nhà máy mới để chế t ạo p hụ tùng điện tử như
Hy brid IC, đĩa từ, thiết bị máy tính, phụ tùng PCB, FUJIKURA đã t hành lập
bốn công ty con để mở rộng sản xuất phụ t ùng, linh kiện sản p hẩm đã có.
Chỉ riêng t rong đầu tư mới, đã có nhiều công ty tham gia như SHARP,
SO NY, MITSUBISHI và nhiều công ty Nhật Bản có quy mô vừa khác.
Những công ty này chủ yếu t ập trung và xuất khẩu những sản p hẩm điện tử