BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ 2 TẠI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA: TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGHÀNH: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ
ĐỐI VỚI NƯỚC CHUYỂN GIAO.
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
I-GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày
càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển. Một số nước đang phát triển ở
Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên một cách mạn mẽ và đạt
được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn khổ
của phát triển bền vững bằng con đường công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước.
Trong đó, công nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình, là chìa khóa cho sự
thành công trong quá trình phát triển kinh tế. Trong xã hội hiện đại, vai trò của công
nghệ ngày càng tăng lên. Những tiến bộ như vũ bão của khoa học - công nghệ trong
hai thập kỉ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh
học, công nghệ nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy và chiến lược của nhiều
nước. Ngày nay không một ai còn có thể hoài nghi về vai trò của công nghệ trong
phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế
hiện nay vấn đề chuyển giao công nghệ quốc tế là một hiện tượng tất yếu và rất
đáng quan tâm. Tuy nhiên chuyển giao công nghệ quốc tế không chỉ vai trò to lớn
đối với các nước nhận chuyển giao mà còn mang lại những lợi ích đáng kể đối với
các nước chuyển giao công nghệ. Chính vì những lí do trên, nhóm tiểu luận của
chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Tác động của chuyển giao công nghệ quốc tế
đối với nước chuyển giao”.
Do quá trình nghiên cứu đề tài gặp rất nhiều khó khăn không chỉ về nguồn tư
liệu mà còn về thời gian và kinh nghiệm, vì vậy bài tiểu luận không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Mong quý thầy cô và các bạn bỏ qua.
Thứ hai là các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hóa (theo điều 4, chương I, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp 28/1/1989). Một vài ví dụ như là: sáng chế “máy bơm nước đạp chân” của
ông Nguyễn Tất Hải ở Nghệ An, kiểu dáng Coca Cola, …
Thứ ba, các giải pháp nói trên có thể bao gồm máy móc, thiết bị có hàm chứa
nội dung công nghệ. Từ ví dụ ở trên ta có thể phát triển thêm: máy tách hương liệu
trong cách thức sản xuất nước hoa,…
Cuối cùng là các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn. Cũng giống như hàng hóa, công nghệ
cũng có công nghệ hữu hình và công nghệ vô hình. Công nghệ vô hình trong dịch
vụ và tư vấn có thể kể đến: công nghệ mã hóa kỹ thuật số trong dịch vụ thuê bao
của hãng Napster, ...
Ngoài ra, trong cùng một nghành công nghiệp, người ta còn sử dụng khái niệm
“công nghệ sản phẩm” (thiết kế như thế nào: biểu hiện các khả năng áp dụng các tri
thức mới, sang tạo ra các sản phẩm có đặc tính mới) để phân biệt với “công nghệ
quá trình” (sản xuất như thế nào: biểu hiện bằng khả năng chế tạo sản phẩm một
cách kinh tế bằng cách tăng sản lượng, hạ giá thành..). Ví dụ: Mỹ là quốc gia đứng
đầu trong công nghệ sản phẩm nhưng trong một thời gian dài đã thua Nhật Bản về
công nghệ quá trình. Do chưa đủ tiềm lực R&D và hiểu rất rõ rằng công nghệ sản
phẩm dễ bị bắt chước và mất bản quyền, nên trong một thời gian dài (cho đế đầu
những năm 1980) người Nhật đã tập trung vào công nghệ quá trình lien quan đến
việc tổ chức sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp gắn liền với các quan niệm, nguyên
tắc đặc thù về quản lí của người Nhật khó bị bắt chước thừ đó giữ được lợi thế cạnh
tranh bền vững hơn.
2. Chuyển giao công nghệ:
2.1. Khái niệm chuyển giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ, theo nghĩa rộng, xảy ra khi yếu tố công nghệ này được
khai thác hay mở rộng phạm vi ứng dụng (thay đổi mục tiêu khác với mục tiêu ban
đầu mà mục tiêu công nghệ được tao ra, dịch chuyển địa lý, chuyển từ chủ thể này
sang chủ thể khác…)
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo nghĩa hẹp, chuyển giao công nghệ
cho bên nhận. Bên giao tư vấn các nghiên cứu phân tích đánh giá về cơ hội đầu tư,
cơ hội tiền khả thi và khả thi các dự án đầu tư đổi mới công nghệ. Bên nhận nhận
được sự đào tạo huấn luyện nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý của
cán bộ quản lý kỹ thuật và công nhân. Hỗ trợ thực hiện dịch vụ về thu nhập, xử lý
và cung cấp thông tin về thị trường, công nghệ pháp lý, tài nguyên môi trường của
bên giao. Tất cả những điều trên đây đều là chuyển giao công nghệ.
Dựa vào quyền hạn của bên giao bên nhận và giá cả, người ta còn chia chuyển
giao công nghệ thành 3 hình thức:
Hình thức
Yếu tố
Chuyển giao giản
đơn
CGCN không độc
quyền
CGCN giữ độc
quyền
Người giao
Bán cho một hoặc
một số người trên
cùng địa phương.
Trao quyền cho
người mua giới hạn
trong phạm vi lãnh
thổ.
Trao toàn quyền
sử dụng cho bên
kiatrong thời gian
hợp đồng.
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
4
với nhau. Như vậy tác dụng đầu tiên của quá trình chuyển giao công nghệ đối với
nước chuyển giao là xuất phát từ lợi ích của các công ty của các quốc gia này. Tác
động này được xét dưới hai chiến lược sản xuất của các công ty, tập toàn đa quốc
gia:
+ Sản xuất tập trung: sản xuất tại một quốc gia, sau đó xuất khẩu sang các
quốc gia khác. Do tính quy mô của dự án sản xuất quá lớn, đồng thời quá trình
R&D phải đi kèm với quá trình sản xuất mới đem lại hiểu quả cao cho nên các bí
quyết độc đáo để sản xuất ra sản phẩm thường không phải la sản phẩm để chuyển
giao công nghệ. Trong trường hợp này các công ty vẫn phải chuyển giao công nghệ
cho các chi nhánh và cho khách hang ở các quốc gia khác trong công đoạn lắp đặt,
chảy thử, bảo hành, bảo trì hay sửa chữa nhằm giữ uy tín cho sản phẩm của mình,
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
5
đảm bảo cam kết với khách hàng cũng như hỗ trợ tiếp thị. Điển hình cho loại chiến
lược này này là Microsoft, Coca-cola hoặc các sản phẩm về công nghiệp vũ trụ.
+ Sản xuất phân tán: đặt nhiều cơ sở sản xuất ở các vị trí gần nguồn tài
nghuyên, nguyên nhiên liệu hoặc là gang thị trường tiêu thụ hoặc chia quá trình sản
xuất ra một sản phẩm thành nhiều công đoạn ở các nước khác nhau nhằm nâng cao
được lợi thế trong cạnh về các mặt sau:
• Tận dụng được nguồn nhân công rẻ ở các nước đang phát triển.
• Giảm được chi phí đáng kể chi phí vận tải, tồn kho, cung ứng nghuyên nhiên
liệu.
• Giảm chi phí đầu tư do chuyên môn hóa, phân công công lao động quốc tế.
• Tích lũy được nhiều kinh nghiệm ở các quốc gia khác nhau.
• Một hình thức mở rộng thị trường, đối phó với các chính sách hạn chế nhập
khẩu của các nước có thị trường tiêu thụ.
• Tạo điều kiện chiếm lĩnh thị trường dễ dàng
• Khuyếch trương phạm vi ảnh hưởng, nâng cao uy tín sản phẩm của mình
trên thị trường thế giới.
- Hiện nay ở các nước tư bản chủ nghĩa người ta cho rằng buôn bán licence
như quốc gia nhận chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, khi thực hiện quá trình
chuyển giao công nghệ, bên chuyển giao sẽ có một số ưu đãi nhất định trong
cam kết với nước chuyển giao:
+ Bắt buộc bên mua côngn ghệ phải mua kèm một số công nghệ khác có
liên quan (Tie-ins). Điều này nghĩa là, để có thể vận hành được máy móc thiết bị
theo công nghệ đã được chuyển giao, bên mua công nghệ bắt buộc mua máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện… của bên bán licence hoặc là từ
các nguồn khác do bên chuyển giao chỉ định, trong khi người mua công nghệ có thể
tìm được nguồn hàng rẻ hơn. Như thế nghĩa là, bên chuyển giao đã kiếm them được
một phần thu nhập ngoài phần thu nhập chính từ hoạt động chuyển giao công nghệ.
Khoản thu nhập còn dược tăng lên ở chỗ bên nhận công nghệ còn phải trả phí trong
các dịch vụ bảo hành, sửa chửa, kiểm định chất lượng, tiếp thị cũng như cung cấp
thông tin.
+ Bắt buộc bên mua công nghệ không được mua của người khác (Tie-outs).
Một khi đã mua từ một nguồn thì bên mua công nghệ bị rang buộc chỉ sử dụng công
nghệ đó, không được phép ( hoặc được phép nhưng thực chất là không thể) mua
một công nghệ tương tụ hoặc bổ sung từ nguồn khác. Vô hình chung, bên chuyển
giao công nghệ đã tạo được một sự kiểm soát trong lĩnh vực công nghệ đó đối với
nước chuyển giao.
+ Bắt buộc người mua phải cung cấp miễn phí mọi thông tin, mọi ý tưởng
cũng như giải pháp về cải tiến, đổi mới công nghệ cho mình( người bán).
- Trong dây chuyền phân công lao động quốc tế như ngày nay, không thể
một quốc gia nào đi vào mọi lĩnh lực của công nghệ mà phải tập trung
vào lĩnh vực nào đó mà mình có thế mạnh. Thực tế cho thấy rằng ở
những nước có hoạt động nghiên cứu công nghệ càng phát triển thì hoạt
động áp dụng công nghệ vào thực tiển lại không mấy phát triển bằng các
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
7
quốc gia khác và ngược lại. Như vậy chuyển giao công nghệ không chỉ
có ý nghĩa về mặt kinh tế mà nó còn thúc đảy sự phát triển của khoa học
competitor. Tạo ra đối thủ tốt sẽ có lợi cho người bán công nghệ vì có động lực để
vươn lên, cùng nhau khuếch trương sản phẩm, có “sân sau” để thải công nghệ lạc
hậu khi cần thiết…chỉ có điều đáng tiếc là phân biệt giữa các đối thủ tốt và các đối
thủ xấu chẳng bao giờ là rõ ràng và càng không phải là bất biến! ).
Tạo ra đối thủ cạnh tranh cho chính mình là “bài học” đắt giá cho nhiều công ty
của Nhật và Mỹ khi chuyển giao công nghệ cho Hàn Quốc, Đài Loan trong lĩnh vực
điện tử. Các công ty SamSung, Daewoo, Acer… sau khi nhận được công nghệ (dù
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
8