BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
---------------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
KHOA HỌC CƠNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NẢY SINH TỪ SỰ TÁC
ĐỘNG CỦA KHOA HỌC-CƠNG NGHỆ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
MÃ SỐ: CS.2012.19.14
CHỦ NHIỆM: NGUYỄN NGỌC KHÁ
TP. HỒ CHÍ MINH, 2013
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài .........................................................................7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................10
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .................................................................10
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài .....................................................................................10
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ........................................................................11
7. Kết cấu của đề tài ..........................................................................................................11
Chương 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ VÀ ĐẠO ĐỨC
..................................................................................................................................... 12
1.1. Một số quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 69
3
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ
ở Việt Nam hiện nay
Mã số:
CS.2012.19.14
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Ngọc Khá
E-mail:
Tel : 091.802.9.802
[email protected]
Cơ quan và cá nhân phối hợp: Không
Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm TP. Hồ
Chí Minh.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 05/2012 đến tháng 05/2013.
1. Mục tiêu:
Làm rõ những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ,
từ đó nêu lên một số giải pháp mang tính định hướng trong việc giải quyết mối quan
hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức ở Việt Nam hiện nay.
Cooperating Institution: No
Implementing Institution: The Political Education Faculty, the Ho Chi Minh City
University of Pedagogy
Duration: From May 2012 to May 2013
1. Objectives:
Identify moral issues coming from the influence of science-technology and
then propose some guideline solutions to deal with the relationship of science,
technology and moral issues in Vietnam.
2. Main contents:
- The relationship between science-technology and moral issues
- Some moral issues coming from the influence science-technology: Problems
and solutions.
3. Results obtained:
- Science report
- CD of the materials collected
- Journal article
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đang diễn ra hết sức mạnh mẽ
trên thế giới và tác động sâu sắc đến quá trình phát triển của các nước, nhất là các
nước đang và chậm phát triển. Nó trở thành nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự phát
triển của xã hội, đưa nhân loại tiến đần đến một nền văn minh mới. Bởi vậy, để hòa
vào dòng chảy chung, các nước chậm phát triển không thể không tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó khoa học – công nghệ có vị trí, vai trò cực kỳ quan
trọng.
sự tác động đó như thế nào vừa phụ thuộc vào các yếu tố như chế độ chính trị, cơ sở
kinh tế – xã hội, nhu cầu và lợi ích giai cấp, dân tộc,…vừa phụ thuộc vào chính bản
thân các thành tựu khoa học – công nghệ.
Do vậy, làm rõ mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức, để từ đó nêu
lên những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ ở Việt
Nam hiện nay là hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Do đó, tôi chọn đề tài: “Những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa
học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, tức là
các hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định,
bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, tôn giáo, khoa học, đạo đức, văn
hóa,...Trong lịch sử phát triển của triết học, mối quan hệ giữa khoa học với các hình
thái ý thức xã hội khác, như đạo đức, văn hóa, tôn giáo, ý thức chính trị và ý thức
pháp quyền luôn là một vấn đề nhức nhối, trong đó các hình thái ý thức xã hội kia
luôn dẫn đến những bi kịch nan giải cho khoa học.
Chính vì thế, vấn đề mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức là một
trong những vấn đề được giới lý luận và các nhà hoạt động chính trị quan tâm, nghiên
cứu. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay, khi bàn về mối quan hệ này, cũng như những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự
tác động của khoa học – công nghệ có các công trình nghiên cứu từ những khía cạnh
khác nhau.
7
Các công trình của các tác giả như Trần Khánh Dư (2002), Những thành tựu phát
minh mới nhất trong khoa học – kỹ thuật thế kỷ XX, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, Hà
Nội, và Vũ Bội Tuyền (2003), Một số thành tựu khoa học – kỹ thuật nổi bật của thế
Đình Tường (2010), “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Triết học, số 3;
Nguyễn Duy Quý (chủ biên) (2006), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Chí Mỳ (2004), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức
trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Hồng Sơn (2004), Văn hóa
và phát triển: Nhận thức và vận dụng trong thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội: Các công trình này chủ yếu phân tích những khía cạnh đạo đức nảy sinh trong
điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ đó nêu
lên các giải pháp giải quyết.
Các công trình của các tác giả Nguyễn Thanh Thịnh, Đào Duy Tính, Lê Dũng
(1999), Quy hoạch phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ
ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Danh Sơn (Chủ biên), Nguyễn Thị Anh Thu, Nguyễn Mạnh Huấn (1999), Quan hệ
giữa phát triển khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công
nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Đỗ Minh
Cương (1995), Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội: Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về các khía cạnh tổ
chức, quản lý lĩnh vực khoa học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả Phạm văn Tình (2005), Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 173 đã
cung cấp các thông tin liên quan đến các thành tựu trong vật lý học và công nghệ sinh
học, những đánh giá của các học giả về các thành tựu ấy;
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan đến khía cạnh này hay khía cạnh khác
của mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức.
Có thể nói, có nhiều công trình, bài viết liên quan đến mối quan hệ giữa khoa học
– công nghệ và đạo đức, khai thác nó ở những góc độ, phương diện khác nhau. Tuy
nhiên, từ lập trường mác-xít để làm rõ mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo
đức, nêu lên những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công
nghệ, nhìn chung chưa được tìm hiểu một cách thấu đáo.
phú và phức tạp, nhưng lĩnh vực có tác động rất lớn đến đạo đức là Sinh vật học và
Vật lý học. Do vậy, đề tài chủ yếu triển khai, phân tích, làm rõ một số vấn đề đạo đức
nảy sinh từ sự tác động của Sinh vật học và Vật lý học.
10
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, công trình góp phần làm rõ và sâu sắc thêm quan điểm triết học
mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa khoa học – công nghệ và đạo đức, cũng như
những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ. Do vậy, nó
có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng
trong việc học tập và nghiên cứu triết học nói chung.
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động
của khoa học – công nghệ góp phần chứng minh tính đúng đắn và phù hợp của các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong Chiến lược phát triển khoa
học – công nghệ và xây dựng nền tảng đạo đức mới. Đồng thời, nó còn có ý nghĩa
khuyến nghị trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức
ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, công trình bao
gồm 2 chương và chia thành 4 tiết
11
Chương 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ VÀ
ĐẠO ĐỨC
hàng triệu năm trên hành tinh; họ lên án các nhà sinh học và những người sử dụng
công nghệ sinh học trong nông nghiệp, y học đang vi phạm những giá trị đạo đức
truyền thống. Bởi vậy, từ chỗ coi khoa học – công nghệ là cội nguồn của những nỗi
bất hạnh, khổ đau của con người, thuyết phản kỹ thuật chủ trương từ bỏ khoa học –
công nghệ. Và từ chỗ phủ nhận vai trò của khoa học – công nghệ đối với sự phát triển
xã hội, thuyết phản kỹ thuật đã đồng thời phủ nhận mặt tích cực trong sự tác động của
khoa học – công nghệ đối với sự hình thành những giá trị đạo đức mới.
Ngày nay, những nghiên cứu triết học về khoa học – công nghệ đã cho thấy khoa
học – công nghệ giữ một vị trí trọng yếu trong đời sống đạo đức: chính ở trong khoa
học – công nghệ mà bản chất đạo đức duy lý của con người được thể hiện ra. Vì vậy,
việc tách rời khoa học – công nghệ khỏi đạo đức hoặc đề cao, thổi phồng hay hạ thấp
vai trò của khoa học – công nghệ sẽ gây nên thiệt hại cho cả khoa học – công nghệ
lẫn đạo đức.
1.1.2. Thuyết kỹ trị
Trái với thuyết phản kỹ thuật, thuyết kỹ trị lại cường điệu, thổi phồng đến mức
tuyệt đối hóa vai trò của khoa học – công nghệ. Nó cho rằng, toàn bộ sự phát triển
của xã hội, trong đó có đạo đức, hoàn toàn phụ thuộc vào cơ chế của tiến bộ khoa học
– công nghệ. Thuyết kỹ trị bắt nguồn từ tư tưởng của nhà kinh tế học Mỹ T. B. Vêblen
(T. B. Veblen) vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh trong những năm
30 của thế kỷ XX. Trong những năm 40, nhà xã hội học Mỹ J. Bơnơm (J. Burnham)
đưa ra thuyết “cuộc cách mạng quản lý”, theo đó, chủ nghĩa tư bản sẽ được thay thế
bằng “xã hội quản lý”, có nghĩa là việc điều khiển toàn bộ các quá trình kinh tế, chính
trị – xã hội sẽ thuộc về những đại diện của một tầng lớp mới không có sở hữu cá nhân
– các nhà kỹ thuật. Trong những năm 50 của thế kỷ XX, A. Bơli (A. Berle) đưa ra luận
đề về “cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa của thế kỷ XX”. Trong những năm 60 – 70, tư
tưởng kỹ trị được J. Gonbrết (J. Galbraith) phát triển trong học thuyết “xã hội học công
nghiệp hóa mới”. Đặc biệt, trong những năm 80 thế kỷ XX, thuyết kỹ trị lại được bổ
sung bằng những luận điểm biện hộ cho kỹ thuật lộ liễu hơn. Chẳng hạn, Robert
Tuy nhiên, những quan niệm triết học và xã hội học tư sản về vai trò lãnh đạo của
các nhà chuyên môn kỹ thuật đối với đời sống xã hội, về sự tất yếu tập trung quyền lực
chính trị vào tay họ là nhằm mục đích hoàn thiện việc quản lý và để thoát ra khỏi cuộc
khủng hoảng trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
14
Với quan điểm đó, thuyết kỹ trị, một mặt, đã góp phần thúc đẩy quá trình nâng
cao trình độ của con người; nhưng mặt khác, nó lại làm cho sự phát triển của con
người trở nên méo mó, què quặt, biến họ thành những người máy thuần túy. Do vậy,
việc xác lập vai trò của khoa học – công nghệ như một hình thức chủ quyền của ý chí
con người, tất yếu dẫn đến sự xem thường, hạ thấp và làm nghèo những giá trị tinh
thần, thậm chí làm suy thoái những giá trị đạo đức.
Trái với quan niệm của các nhà triết học và xã hội học tư sản, triết học mác-xít
khẳng định giữa khoa học – công nghệ và đạo đức có mối quan hệ gắn bó, không tách
rời nhau, chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, những thành tựu của khoa học –
công nghệ đóng vai trò là cơ sở, nền tảng của các nấc thang giá trị đạo đức; ngược lại,
những quan niệm đạo đức có vai trò định hướng cho sự phát triển của khoa học –
công nghệ.
1.2. Quan điểm mác-xít về mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức
1.2.1. Khoa học và đạo đức với tính cách là các hình thái ý thức xã hội
Khái niệm khoa học:
Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, tức là
các hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định,
bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, tôn giáo, khoa học, đạo đức, văn
hóa,...Trong lịch sử phát triển của triết học, mối quan hệ giữa khoa học với các hình
thái ý thức xã hội khác, như đạo đức, văn hóa, tôn giáo, ý thức chính trị và ý thức
pháp quyền luôn là một vấn đề nhức nhối, trong đó các hình thái ý thức xã hội kia
thời đại trước kia gộp lại” [19, tr.603], như C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu trong
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản.
Nội dung của khoa học – công nghệ mang tính khách quan, không phụ thuộc vào
bản chất các giai cấp hay các thể chế chính trị – xã hội. Nhưng mục đích của việc áp
dụng các thành tựu của khoa học – công nghệ là chủ quan, nó gắn liền với lợi ích, hệ
tư tưởng của các giai cấp nhất định; gắn liền với bản sắc, truyền thống, phong tục tập
quán của các cộng đồng người trong xã hội.
Khái niệm đạo đức:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là một bộ phận quan trọng trong
kiến trúc thượng tầng của xã hội. Về mặt lịch sử, đạo đức xuất hiện cùng với sự xuất
16
hiện xã hội loài người, nó cung cấp cho con người những chuẩn mực tình cảm tốt
đẹp. Đạo đức có lợi thế là phản ánh bằng ý nghĩa xã hội cụ thể, do vậy nó dễ đi vào
lòng người.
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực nhằm hướng dẫn con người tiến tới cái thiện, cái chân, cái mỹ... chống lại
cái ác, cái giả, cái xấu,... Trong mỗi thời đại lịch sử, phù hợp với sự tiến bộ của xã hội
để con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong quan hệ giữa con người và
con người, giữa con người và xã hội” [25, tr.13].
Đạo đức là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế – xã hội sinh ra và
quyết định. Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế – xã hội là một hình thái đạo đức
nhất định. Lịch sử nhân loại cũng là lịch sử phát triển của đạo đức, từ đạo đức của xã
hội công xã nguyên thủy đến đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong
kiến, đạo đức tư sản và ngày nay là đạo đức xã hội chủ nghĩa. Mỗi hệ thống đạo đức
ấy đều phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định trong xã hội, gắn liền
với truyền thống, bản sắc của mỗi dân tộc. Do vậy, không phải ngẫu nhiên, khi phê
phán Đuyrinh về sự thừa nhận có một thứ đạo đức vĩnh cửu cho mọi thời đại, thừa
nhận những nguyên tắc đạo đức đứng trên lịch sử và trên cả những sự khác biệt về
hai cái mâu thuẫn luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau. Cuộc đấu tranh ấy phải
trường kỳ gian khổ, nhưng cuối cùng thì ác nhất định thất bại, thiện nhất định thắng”
[22, tr.136]. Người nhấn mạnh: “Thực hành chí công vô tư, cần kiệm, liêm chính, thế
là thiện. Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng, thế là ác” [23,
tr.226-227].
Sự thống nhất giữa khoa học – công nghệ và đạo đức:
Đạo đức cũng như khoa học – công nghệ đều là sản phẩm của một cơ sở kinh tế
– xã hội nhất định, đều là sự phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Do đó, giữa đạo đức và khoa học – công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, dưới những hình thức khác nhau và có chức năng chung là điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội nhằm phát triển xã hội. Nhiều khi các quan hệ đạo đức thường ẩn giấu
khoa học – công nghệ, ngược lại có những quan điểm khoa học – công nghệ phản ánh
những giá trị đạo đức.
Sự thống nhất giữa khoa học – công nghệ và đạo đức được thể hiện ở chỗ, mục
đích chân chính của khoa học – công nghệ và đạo đức là tạo ra mọi điều kiện để giúp
con người cải biến tự nhiên, cải biến xã hội, cải biến bản thân mình, xây dựng cuộc
18
sống hạnh phúc cho cá nhân và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp. Chính vì thế, sự
thống nhất giữa khoa học – công nghệ và đạo đức được thể hiện cụ thể thông qua hệ
thống các giá trị xã hội.
Mặt khác, đạo đức cũng là một trong những quy luật xã hội về mối quan hệ giữa
con người với con người, vì vậy bản thân đạo đức là những chân lý khoa học về cuộc
sống của cái thiện và cái ác, cái chính và cái tà, v.v... Con người trong quá trình nhận
thức những tri thức khoa học để hình thành thế giới quan thì cũng đồng thời hình
thành nhân sinh quan. Đạo đức là một mặt của nhân sinh quan, biểu hiện cụ thể bằng
thái độ, hành vi, cách ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên,
với xã hội và với bản thân mình. Vì vậy, thế giới quan và nhân sinh quan cũng là hai
mặt khoa học và đạo đức (tài và đức) của một cá nhân. Tuy nhiên, không phải ở đâu,
gắn bó với nhau, không thể tách rời nhau, vì khoa học – công nghệ luôn là cơ sở, nền
tảng cho đời sống đạo đức thực sự của con người.
Trong quá trình hình thành đạo đức mới luôn luôn gắn liền với những thành tựu
của khoa học – công nghệ. Tri thức khoa học – công nghệ giúp cho các chủ thể đạo
đức nhận thức, lựa chọn, đánh giá đúng đắn các giá trị và điều chỉnh các hành vi sao
cho hợp lý trong đời sống đạo đức. Ngược lại, đạo đức có vai trò thúc đẩy quá trình
tìm tòi chân lý khoa học để phục vụ cho thực tiễn đời sống của xã hội. Mặc dù chân
lý khoa học là khách quan, nhưng vấn đề quan trọng là: Con người phát minh sử
dụng chân lý đó theo động cơ nào ? Đem lại lợi ích cho ai ? Đem lại hòa bình, văn
minh cho nhân loại hay sản xuất ra vũ khí giết người hàng loạt ?,v.v…
Thực tế đã chứng minh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
hiện đại cùng với việc nó đang từng bước trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
không chỉ làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội, mà còn làm thay đổi chính vị trí
của con người trong quá trình sản xuất. Do đó, khoa học – công nghệ cũng tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển của đạo đức, làm thay đổi thang giá trị, những nguyên tắc
chi phối hoạt động của con người và xã hội.
Con người sáng tạo ra khoa học – công nghệ, nhưng một khi đã trở thành thực
thể độc lập thì bản thân nó vận động theo các quy luật nội tại. Điều này khiến cho con
người, trong những chừng mực nhất định, không thể kiểm soát hết được mọi tác
động, cũng như không thể dự báo hết được những hậu quả do tiến bộ khoa học –
công nghệ đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực đạo đức.
Trước hết phải nói rằng, khoa học – công nghệ có vai trò cực kỳ quan trọng
trong đời sống của con người và xã hội loài người. Khoa học và những phát triển
20
công nghệ kèm theo có vai trò then chốt trong nền văn minh đương đại – nền văn
minh trí tuệ. Để chứng minh cho nhận định đó, có thể đưa ra ba dẫn chứng điển hình.
Đó là: Đóng góp của thuyết cơ học lượng tử trong nền kinh tế hiện đại; vai trò của
toán học và vật lý học đối với triết học, nhất là vấn đề nhận thức luận; và ý nghĩa của
tính biến đổi, tính cách mạng mau lẹ hơn. Chính vì thế, khoa học – công nghệ không
chỉ mang trong mình những lý tưởng, ước mơ đạo đức, mà còn góp phần làm cho
những lý tưởng, ước mơ đạo đức biến đổi ngày càng gần với cuộc sống, đồng thời
loại bỏ những nhân tố lạc hậu, bảo thủ trong đạo đức, làm cho cái thiện trong đạo đức
ngày càng gắn liền với cái luân lý trong khoa học.
Vai trò của khoa học – công nghệ đối với các nấc thang giá trị đạo đức mang
tính lịch sử – cụ thể. Nghĩa là, sự tác động đó theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực,
tiến bộ hay lạc hậu tùy thuộc vào bản chất của chế độ, tính chất của thời đại; tùy
thuộc vào lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; tùy thuộc vào bản sắc,
truyền thống, phong tục tập quán của các dân tộc.
Khoa học – công nghệ đóng vai trò quyết định trong việc phát triển lực lượng
sản xuất, hơn thế nữa trong thời đại ngày nay bản thân nó đã trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, là một trong những động lực quyết định sự phát triển của xã hội.
Nhưng lực lượng sản xuất phát triển sẽ dẫn đến sự thay đổi các quan hệ sản xuất; đến
lượt mình, các quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho tất cả các quan hệ xã hội phải
thay đổi theo, trong đó có các quan hệ đạo đức. Tuy nhiên, sự thay đổi đó không phải
diễn ra theo một quá trình giản đơn, trực tiếp mà nó diễn ra dưới sự ảnh hưởng của
những kết cấu lợi ích của xã hội, đặc biệt là lợi ích giai cấp. Chính điều này đã gây
nên những cuộc tranh luận kéo dài nhiều thế kỷ và nhiều khi trở nên hết sức gay gắt
xung quanh mối quan hệ giữa tiến bộ khoa học – công nghệ và đạo đức.
Những mâu thuẫn, xung đột giữa tiến bộ khoa học – công nghệ và tiến bộ đạo
đức trong xã hội tư bản đang diễn ra ngày càng gay gắt là sự phản ánh những mâu
thuẫn ngày sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
Dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản, kể từ khi nhân loại bước vào cuộc cách mạng
khoa học – kỹ thuật lần thứ hai, xã hội đã tạo ra một lực lượng sản xuất “nhiều hơn
và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thời đại trước kia gộp lại”[19, tr.603],
như C. Mác và Ph. Ăngghen đã nêu lên trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Đáng
lẽ ra, với một lực lượng sản xuất ở trình độ cao như vậy, nhân loại sẽ bước vào một
cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản cứ một bước
22
tiêu diệt con người nhanh hơn. Không phải ngẫu nhiên, ngay trong tác phẩm “Bản
thảo kinh tế – triết học 1844”, C. Mác đã khắc họa: “Con người (công nhân) chỉ cảm
23
thấy mình hành động tự do trong khi thực hiện những chức năng động vật của mình –
ăn, uống, sinh con đẻ cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức,v.v., – còn
trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ còn là con
vật. Cái có tính súc vật trở thành cái có tính người, còn cái có tính người thì biến
thành cái có tính súc vật” [21, tr. 51]
Chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nền sản
xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động phát triển,
năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt. Ngoài những mặt tích cực đó, giai cấp tư sản đã
để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lý và nền đạo đức
trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong
xã hội ngày càng suy giảm.
Sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ trong những năm cuối của
thiên niên kỷ thứ hai là yếu tố cơ bản, có tính quyết định đối với tiến trình toàn cầu
hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong đó có lĩnh vực đạo đức. Tuy nhiên, thực trạng xã
hội phương Tây dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại
cho thấy, tại sao bước nhảy vọt vĩ đại nhất của loài người hướng về sự thịnh vượng
vật chất lại dẫn đến sự đổ vỡ nghiêm trọng về mặt xã hội ? Và tại sao kỷ nguyên vĩ
đại nhất về thành tựu khoa học – công nghệ lại làm hư hại những điều kiện sống trên
Trái đất ? Khoa học – công nghệ vốn có sức mạnh và hữu ích, song sự phát triển của
nó lại đặt ra nhiều vấn đề về mặt đạo đức ?
Một thực tế rõ ràng rằng, nền kinh tế thị trường, không phải là sản phẩm riêng
của chủ nghĩa tư bản, mà là một phương thức thực hiện kinh tế do sự phát triển của
nền văn minh nhân loại đưa lại. Đặc điểm chung của kinh tế thị trường là vận hành
theo nguyên tắc trao đổi hàng hóa và quy luật giá trị. Tuy nhiên, trong những chế độ
xã hội khác nhau, mục đích của kinh tế thị trường cũng khác nhau. Trong nền kinh tế
người có được cuộc sống ngày càng tự do, hạnh phúc, đồng thời hạn chế những tác
động bất lợi mang tính tự phát từ bản thân tiến bộ khoa học – công nghệ. Và cũng
trong xã hội đó, khoa học – công nghệ thực hiện chức năng giáo dục, trong đó có giáo
dục đạo đức, làm cho các lý tưởng, nguyên tắc đạo đức được chuyển tải tới mọi đối
tượng một cách sâu sắc.
25