khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 2009 - Pdf 12

Môn học : Tài chính quốc tế
Giảng viên : Lê Vũ Hải
Đề tài : Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
2008 – 2009
Nhóm thực hiện : Nhóm 6

1. Phạm Vân Anh
2. Nguyễn Văn Đức
3. Bùi Thị Thương Hoài
4. Trần Ngọc Kính
5. Nguyễn Văn Long
6. Nguyễn Thị Phương
7. Trần Thị Thắm
8. Đỗ Thị Vân Trang
Lớp Tài chính quốc tế ( Thứ 2 ca 4 )
Mục lục
I. Nguyên nhân khủng hoảng
II. Diễn biến cuộc khủng hoảng
III. Hậu quả của cuộc khủng hoảng
1. Đối với nền kinh tế thế giới
a. Tác động đến thị trường chứng khoán và hệ thống
ngân hàng
b. Tác động tới thương mại quốc tế
c. Tác động tới đầu tư quốc tế
d. Tác động tới tăng trưởng kinh tế
e. Tác động tới cơ cấu ngành
g. Tác động tới các khoản nợ quốc gia
2. Đối với Việt Nam
a. Tác động tới Thương mại
b. Tác động tới Thị trường chứng khoán
c. Tác động tới Lạm phát và tiêu dùng

thu căn nhà đó và bán cho người khác. Phần tiền 80% giá trị căn nhà sẽ được chủ nợ mang đi
bảo hiểm với một tổ chức tài chính lớn ( ví dụ công ty AIG của Mỹ). Như thế, nếu bán căn
nhà bị lỗ, ngân hàng chủ nợ sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường phần bị lỗ. Nếu áp dụng
đúng luật như vậy thì các ngân hàng chủ nợ cho vay đều được an toàn, vì tỷ lệ nợ khó đòi
trong ngành bất động sản bình thường tương đối thấp, chỉ vào khoảng 1% - 2%.
- Nhưng tại Mỹ, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, FED đã liên tục
hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản.
Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được
cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%. Bên cạnh đó, về phương diện sở hữu nhà
cửa, chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân
nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn
được thực hiện thông qua 2 công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie
Mac. Hai công ty này giúp đầu tư vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các
khoản cho vay của NHTM. biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng MBS rồi
bán lại cho các nhà đầu tư ở Wall Street, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear
Stearns và Merrill Lynch.
- Mặt khác, vì có sự chuyển đổi các khoản vay thành các công cụ đầu tư nên thị trường tín
dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn là thị trường duy nhất của các NHTM
hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa. Nó đã trở thành một thị trường
đầu tư mới cho các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả
dòng vốn ngoại quốc. Điểm đặc biệt ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán và bảo hiểm
MBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như nằm ngoài tầm kiểm soát thông thường
của chính phủ. Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên
phổ biến ở các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, bởi vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các
công ty khác biến chúng thành MBS, các NHTM đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho
vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay.
Như vậy, lãi suất thấp, các chính sách của chính phủ, sự mạo hiểm của các ngân hàng giúp
người dân mua địa ốc dễ dàng, các công ty và tư nhân đều có thể mượn tiền dễ dàng để đầu tư
hoặc mua bất động sản. Hậu quả là đẩy giá nhà lên, giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ
trong vòng 4 năm từ 2001 ( năm bắt đầu cắt giảm mạnh lãi suất) đến 2005. Việc này cũng dẫn

trực tiếp cũng như gián tiếp, thị trường bất động sản đi xuống đã ảnh hưởng trực tiếp đến thị
trường tài chính nói chung. Mức độ lan tỏa và nghiêm trọng của vấn đề là do sự mua đi bán
lại các công cụ tài chính phái sinh ( các MBS và CDS). Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng
hơn khi các nhà đầu tư bắt đầu bán tháo các công cụ đầu tư mạo hiểm để tìm cách bảo toàn
vốn. Đồng thời các nhà đầu tư có tiền gửi ngân hàng bị hoảng loạn và đều đến rút tiền ở ngân
hàng ra. Các tổ chức tài chính lớn cũng phải chi các khoản bảo hiểm bất động sản và bị thiếu
tiền mặt, có thể cũng phải tuyên bố phá sản.
Bên cạnh đó, vấn đề “vỡ nợ: tín dụng bất động sản và hàng loạt các ngân hàng thua lỗ tại Mỹ
cũng được xem là một nguyên nhân cơ bản khác của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ. Hàng
loạt vụ đổ vỡ xảy ra trong ngành tài chính ngân hàng Mỹ.
Trước hết phải kể đến sự sụp đổ của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập ( Investment bank)
của Wall Street. Cả 5 ngân hàng độc lập của con phố tài chính này đều trải qua những bước
ngoặt quan trọng trong năm 2008 : Lehman Brothers phá sản, Bear Sterrns và Merill Lynch bị
thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng
hợp ( Bank holding company). Tính đến ngày 15/12/2008, số NHTM của Mỹ phải đóng cửa
đã lên tới con số 25, so với con số 3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong cả năm 2007. Trong
số này, phải kể đến những tên tuổi lớn như Washington Mutual,Wachonia, IndyMac.
Như vậy, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 với đỉnh điểm là sự sụp đổ của
các ngân hàng đầu tư khổng lồ và những công ty bảo hiểm lớn nhất nước Mỹ vào tháng
9/2008. Các công ty này có trụ sở tại khu Wall Street. Sau hàng trăm năm hiện hữu với tư
cách là trung tâm tài chính của nước Mỹ và của cả thế giới, khu phố Wall đã hoàn toàn sụp đổ
trong 1 tuần lễ, kể từ ngày 15/9/2008 với sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers.
Tiếp đến là phản ứng dây chuyền gây nên sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng, quỹ tín dụng,
không chỉ ở Mỹ mà lan ra toàn cầu, sang cả các thị trường chứng khoán, rồi tới mọi ngành sản
xuất kinh doanh của nền kinh tế thực của các quốc gia, làm suy giảm thương mại, đầu tư, gia
tăng đói nghèo và thất nghiệp trên toàn thế giới. Vì vậy có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính
Mỹ là nguyên nhân cơ bản của cuộc đại khủng hoảng toàn cầu 2008.
II. Diễn biến cuộc khủng hoảng
Năm 2007-khủng hoảng xảy ra.
Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007 và năm 2008 đột nhiên lâm vào một

nên rõ ràng. Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng
12/2007 và tháng 2 năm 2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi. GDP trong quý IV
năm 2007 đã giảm mức tăng đáng kể, chỉ tăng 0,6% so với mức tăng 4,9% quý III.

Năm 2008-2009: Đại suy thoái
Năm 2008 bắt đầu những dấu hiệu ảm đạm. Bong bóng nhà đất xuất hiện tại Mỹ với trên 1
triệu chủ nhà đất đối mặt với nguy cơ tịch thu tài sản thế nợ. Nhiều ngân hàng vướng phải các
khoản nợ dưới chuẩn (subprime loan) phải hứng chịu những khoản thua lỗ nặng.
* Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn
hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho
vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn.
* 30/1/2008: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4 tỷ USD, nâng
tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoát quan đến cuộc khủng
hoảng cho vay cầm cố.
* 17/2/2008: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock.
* 28/2/2008: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạn nhân của cuộc
khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là 1,36 tỷ euro.
* Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng
không nổi. 16-17/3/2008, công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10
dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá
nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi
Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về
năng lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ
* 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ trước
thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng
khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
* 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMacBancorp.
Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người
gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
* 31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng

Đông.MitsubishiUFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần MorganStanley.
* 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục điều tra liên bang
Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc
khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
* 25/9: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ
cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên
bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết
kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài
sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ. Trong khi đó tại
Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng ý về những điều khoản
chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. WaMu - một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ
đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. (Ảnh: Foxbusiness)
* 29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ. Phản ứng
ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm- mức
giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
* 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25) với một
số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp
và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại
Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD
*Tháng 10/2008, khủng hoảng tín dụng đã lan rộng ra toàn nước Mỹ. Khi Iceland lâm vào
phá sản, chính phủ các nước trên thế giới cũng tới tấp thông báo kế hoạch cứu nguy nền kinh
tế. Thất nghiệp đua nhau lập những kỷ lục mới. Nhu cầu co lại buộc các doanh nghiệp phải
đóng cửa làm ăn. Tháng 9 và 10 cũng trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow
Jones sụt tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9. Kể từ sau giai đoạn này, biến
động tại phố Wall trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong hàng
chục năm đã bị phá. Xen giữa những sự kiện trên, 9 tháng đầu năm cũng chứng kiến các cơn
sốt dầu, lương thực, và lạm phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt là giá dầu, từ
mức 90 đôla một thùng vào đầu năm đã leo lên trên 100 đôla vào 20/2 và lập kỷ lục trên 147
đôla một thùng vào 11/7.Trong quý 4 năm 2008 GDP của Mỹ đã giảm3.8% theo báo cáo
đầutiên ngày 30 tháng giêng năm 2009 rồiđiều chỉnh lại là 5.4% chứng tỏ suy thoái đang gia

những tác động lên thị trường chứng khoán.Thị trường chứng khoán suy giảm mạnh mẽ, chỉ
tính riêng từ khi bắt đầu khủng hoảng các thị trường chứng khoán toàn cầu liên tục giảm điểm
mạnh.Trong năm 2008 thị trường này đã mất khoảng 17000 tỷ USD.
Quốc gia Chỉ số 12/9/2008 12/1/2009
Mức tăng giảm so với tháng
12/2009
+(-) điểm +(-)%
Việt Nam
VNIndex 476 312,18 -163,82 -34,42%
HASTC-
index
160,62 105,71 -54,91 -34,19%
Mỹ
.DJI 11421,99 84373,97 -2348,02 25,81%
.NDX 17676,13 1201,13 -566 -32,03%
.GSPC 1251,70 870,26 -381,44 -30,47%
Pháp .FCHI 4332,66 3246,19 -1086,47 -25,08% vé
Anh .FTSES 5416,73 4426,19 -990,77 -18,29%
Nga .RTX 1991,10 1014,33 -976,77 -49,06%
Thái lan .SETI 654,34 452,8 -201,54 -30,80%
Úc .ẢOD 4957,10 3624 -1333,1 -26,89%
Nhật Bản .N225 12214,76 8413,9 -3800,86 -31,12%
HàN Quốc .KS11 1477,92 1156,75 -321,17 -21,73%
Trung Quốc .SSEC 2079,67 1900,,35 -179,33 -8,62%
Theo bảng 1 tại một số thị trường lớn kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng thì hầu hết chỉ số
chứng khoán của các quốc gia đều giảm như Mỹ: chỉ số DowJones giảm 25,81%, chỉ số
Nasdas giản 32,03%, chi số S&P 500 giảm 30,47%, chỉ số FTSE 100 của Anh giảm 18,29%
chỉ số Nikkey của Nhật giảm 31,12%.
Không chỉ tác động đến thị trường chứng khoán toàn cầu, cuộc khủng hoảng tài chính còn có
những ảnh hưởng nặng nề lên hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới.Các ngân hàng liên tục bị

c. Tác động tới đầu tư quốc tế
Suy thoái kinh tế làm cho các nước hùng mạnh của kinh tế thế giới cũng lao đao.Mỹ, Nhật
hay EU đều đang vật lộn để chống đỡ ngăn không cho nền kinh tế lún quá sâu vào khủng
hoảng.Vì thế kết quả tất yếu lượng đầu tư quốc tế giảm rõ rệt trong năm 2008 chỉ tăng 3,5%-
thấp hơn nhiều so với mức 13,2% của năm 2007.Đặc biệt do tác động kéo dài của cuộc khủng
hoảng kinh tế tài chính lớn nhất trong vòng 80 năm qua, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài FDI
toàn cầu trong năm 2009 đã giảm 38,7% so với năm 2008 xuống còn 1040 tỷ USD. Đây là
năm thứ 2 liên tiếp FDI toàn cầu giảm và chỉ bằng xấp xỉ 50% so với năm 2007(khoảng 2000
tỷ USD).

Trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ những nước có thu nhập cao dành cho các nước
đang phát triển giảm khá mạnh so với trước khi khủn hoảng tài chính toàn cầu 2008 xảy
ra.Năm 2009, vốn FDI đổ vào những quốc gia đang phát triển giảm 34,7% sau 6 năm tăng
liên tục.FDI đổ vào các quốc gia phát triển cũng giảm 41,2%.Mỹ là quốc gia tiếp nhận FDI
lớn nhất thế giới năm 2009 với 137 tỷ USD nhưng con số này đã giảm 7% so với năm 2008.
d. Tác động tới tăng trưởng kinh tế
Các nước đang phát triển chịu hậu quả nặng nề từ suy thoái kinh tế thong quá sự sụt giảm
mạnh những hoạt động kinh tế toàn cầu như: sự cắt giảm đột ngột trong các dự án đầu tư, nhu
cầu về hàng tiêu dùng bền, nhu cầu về hàng xuất khẩu giảm , giá cả hàng hóa tăng cao.

Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới, Mỹ, khu vực đồng Euro, Nhật Bản,
các nước châu Á đang phát triển và Việt Nam

Nhìn chung từ đồ thị tăng trưởng cho thấy, toàn bộ nền kinh tế thế giới bao gồm cả các nước
phát triển hàng đầu( Mỹ, Nhật, Euro) và các nước đang phát triển ở Châu á và Việt Nam đều
có dạng biểu đồ lõm xuống thấp nhất vào giai đoạn 2008-2009.Có thể thấy ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế thế giới đã lần làm xuất hiện tốc độ tăng trưởng âm lần đầu tiên sau suốt
mấy chục năm tăng trưởng.Cụ thể là Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng -5,8% , Mỹ là -2,9% khu
vực Euro -4,2%.Đây là hậu quả quá nặng nề từ suy thoái kinh tế khi tốc độ tăng trưởng toàn
cầu đã sụt giảm chưa từng có từ đỉnh điểm của phát triển năm 2007 với 5,8% tụt xuống -0,5%

dịch vụ như vận tải , bảo hiểm,du lịch rơi vào tình trạng đóng băng.Tiêu biểu là ngành du
lịch.Trong giai đoạn suy thoái lượng khách giảm 7% trong 6 tháng đầu năm 2009
Đối với ngành nông nghiệp tuy chịu ít ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế hơn nhưng cũng
phải đối mặt với những thử thách to lớn.Trước hết khủng hoảng tài chính xảy ra ngay sau đợt
tăng giá lương thực nên đã tác động xấu đến cung cầu của thị trường nông sản thế giới cũng
như ngành nông nghiệp.Tăng trưởng chậm, thất nghiệp tăng cao làm giảm nhu cầu hàng hóa
đặc biệt là những sản phẩm được chế biến từ gia súc và hàng tươi sống.Trên thực tế cuộc
khủng hoảng tài chính đã tạo đà cho sự giảm giá nông sản vào cuối năm 2008, gây khó khăn
cho nông dân.Tiêu biểu là thi trường cà phê và cao su thế giới.Khủng hoảng kinh tế cũng
buộc các nhà đàu tư thận trọng hơn trong vấn đề đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nhiều bất ổn
lợi nhuận không cao, thêm vào đó trong giai đoạn khó khăn nhiều ngân hàng phá sản khiến
nông dân không có cơ hội tiếp cận nguồn vay ưu đãi hay các khoản viện trợ kích cầu mà
chính phủ tung ra nhưng không tập trung viện trợ cho ngành nông nghiệp cũng là một trong
những nguyên nhân khiến ngành nông nghiệp trong giai đoạn này phát triển chậm lại.
g. Tác động tới các khoản nợ quốc gia
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã giáng một đòn mạnh mẽ vào các nền kinh tế trên
toàn thế giới thông qua những tác động tiêu cực vào thị trường tài chính.Không những thế nó
còn châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng mới –cuộc khủng hoẳng nợ công.Có thể thấy rõ dư
âm của hệ lụy suy thoái từ các nước Hy lạp, Iceland nói riêng và toàn bộ Châu Âu nói chung.
TÍnh đến thời điểm này vẫn còn có tới 17 quốc gia đang hoặc sắp có nguy cơ phá sản.Nhiều
nước trong số đo đang vướng vào nhiều nợ nần.Số liệu cho thấy nợ công hiện nay đã tăng đột
biến 35000 tỷ USD, tỷ lệ nợ của nhiều nền kinh tế đạt mức kỷ lục.
Tiêu biểu là đầu tàu kinh tế, nền kinh tế số 1 thế giới này đang mang trên mình tổng số nợ lên
mức 11,5 nghìn tỷ USD tương đương mỗi người mỹ chịu gánh nặng 37000 USD. Tổng nợ
của Mỹ lên tới 80% tổng sản lượng hàng năm của kinh tế Mỹ tính theo số liệu GDP.Tháng
11/2009 Hy Lạp chính thức tuyên bố vỡ nợ và rơi vào khủng hoảng tài chính nghiêm trọng
phải cầu cứu liên minh Châu Âu EU.Dù EU đã tung nhiều khoản viện trợ nhằm cứu Hy Lạp
khỏi vũng lầy nợ công xong tình trạng suy thoái vẫn đang tiếp diễn trên quốc gia này.Cùng
với đó là xếp hạng tín dụng của nhiều nước tụt giảm nhanh chóng và chưa có dấu hiệu được
cải thiện.

xuất khẩu giảm do giá lên tới trên 6 tỷ USD.
b. Thị trường chứng khoán
Biến cố kinh tế thế giới tác động rõ nét tới độ ổn định và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Việt Nam. Trước khủng hoảng TTCK VN đã có một năm bùng nổ với VN-Index đã tăng
mạnh từ 300 điểm vào đầu tháng 1/2006 lên 1174 điểm vào giữa tháng 3/2007 nhưng ngay
lập tức sau đó điều chỉnh giảm -67% về đáy 366 điểm khi khủng hoảng kinh tế xảy ra và đang
đi ngang trong khoảng 250 – 550 điểm đến năm 2009 có sự phục hồi trở lại.
c. Lạm phát và tiêu dùng
Tốc độ lạm phát ở hầu hết các nước trong thời điểm năm 2008 nói chung cao hơn
trước nhưng vẫn ở mức có chấp nhận được, trong khi những gì xảy ra ở Việt Nam thì ngược
lại. Ở các nước phát triển cao, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng từ 2,2% năm 2006 lên 3,5%
2007 trong khi ở các nước đang lên châu Á lạm phát tăng từ 2,2% lên 4,8% trong cùng thời
kỳ. Tuy nhiên ở Việt Nam chỉ số CPI đã là 8,3% năm 2007 và vọt lên 23,15% trong 10 tháng
đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007. Vào tháng 5 năm 2008 lạm phát đạt mức cao nhất
tính từ năm 2000 ̶ ở mức 3,9% so với tháng trước đó và nếu tính theo năm thì ở mức 60%.
Lạm phát rõ ràng là do tăng mức phát hành tiền và tăng tín dụng quá trớn trong năm 2007 đạt
mức tăng 48% và 50% theo từng loại tương ứng so với năm trước. Lạm phát giảm xuống vào
tháng 9 và tháng 10 năm 2008 vì chính sách thắt cổ mức tăng tín dụng − chỉ tăng ở mức 18%
so với 30% cùng kỳ của năm 2007.Trong năm 2009 chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng
đầu năm đã giảm xuống một con số, với mức tăng 9,25% so với 7 tháng đầu năm 2008. Tình
trạng lạm phát nhảy vọt vừa qua là kết quả của nhiều yếu tố: chính sách bơm tín dụng cho
doanh nghiệp quốc doanh, sự kiện tư bản tài chính nước ngoài ồ ạt đổ vào do các báo chí tài
chính quốc tế thổi phồng về viễn tượng phát triển ở Việt Nam, kế hoạch kinh tế rầm rộ của
những người nắm quyền và sự xông xáo không đắn đo nắm lấy cơ hội làm tiền của những
người có quan hệ, và dĩ nhiên là tình trạng thiếu khả năng xử lý cũng như không muốn xử lý
đúng lúc của những người cầm quyền ở Việt Nam.

d. Tăng trưởng GDP
Giai đoạn 2002 - 2007, Việt Nam luôn được coi một trong những điểm sáng trong bản đồ
kinh tế toàn cầu với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,8%. Với việc gia nhập tổ chức

h. Thu hút vốn đầu tư
Khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những năm kinh tế thế giới
biến động đã giảm sút rất rõ rệt. Từ mức gần 72 tỷ USD năm 2008, đến nay trung bình chỉ
còn khoảng 13 tỷ USD mỗi năm.
"Việt Nam từng là điểm đầu tư hấp dẫn nhất của Đông Nam Á, nhưng từ năm 2009, đầu tư đã
suy giảm mạnh do khủng hoảng kinh tế toàn cầu", chuyên gia trong ngành kế hoạch đầu tư
nhận định. Bên cạnh đó, những trở ngại lớn trong lĩnh vực thu hút đầu cũng ngày càng bộc lộ
như chất lượng lao động thấp, chính sách thu hút đầu tư còn nhiều điểm hạn chế, nạn tham
nhũng
IV. Những biện pháp của chính phủ Mỹ để khắc phục khủng hoảng
1. Cục Dự trữ Liên bang (Fed)
Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, Fed bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi
suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng tài chính từ tháng 8
năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tiếp tục tiến hành các biện pháp nới lỏng
tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính. Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên
ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuống còn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng
(18/9/2007-30/4/2008). Lãi suất này sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn
0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy.
Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại trái phiếu chính phủ Hoa Kì hiện có), hạ
lãi suất,
Chủ trì chương trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28
đến 84 ngày theo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá. Fed còn tiến hành
cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến
tháng 11 năm 2008.
2. Chính phủ Mỹ :
Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trình quốc hội
thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar. Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do Đảng Dân chủ Hoa Kỳ
chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để cứu không được quá nhiều tổ chức tài
chính gặp khó khăn. Song sau khi kế hoạch sử dụng 700 tỷ dollar được điều chỉnh sang hướng
chi cho cả các chương trình phục vụ đông đảo người dân nhằm kích thích tiêu dùng (như trợ

+ Thúc đẩy việc mua hàng của khách hàng (giảm thuế, các khoản trợ giúp cho những
người nợ địa ốc,….)
+ Dùng lưới điện thông minh nhằm mục đích hạn chế nhập cảng dầu thô.
+ Các khoản trợ giúp cho giáo dục, y tế, đặc biệt là phát triển công nghệ và năng
lượng……
Chương trình nghị sự phục hồi kinh tế của Tổng thống và Phó Tổng thống Barack Obama có
nội dung:
• Hành động khẩn cấp để tạo việc làm cho người Mỹ;
• Trợ giúp khẩn cấp cho các hộ gia đình gặp khó khăn;
• Trợ giúp trực tiếp và khẩn cấp cho người sở hữu nhà, thay vì cứu trợ các tổ chức tài
chính cho vay nhà ở thế chấp vô trách nhiệm;
• Phản ứng nhanh, mạnh với khủng hoảng tài chính bằng tất cả các công cụ mà nước
Mỹ có.
Ngày 17 tháng 2 năm 2009, Barack Obama đã ký Luật tái đầu tư và phục hồi (American
Recovery and Reinvestment Act). Đạo luật này cho phép Chính phủ thực hiện gói kích thích
thứ hai kể từ khi khủng hoảng nổ ra. Gói kích thích này trị giá 787 tỷ dollar.
Trước đó, ông Obama cũng thông qua chính sách “Đồng đô-la yếu”, là động lực
chính chuyển đổi từ một nền kinh tế nhập khẩu cao với tỉ lệ tiết kiệm thấp sang nền kinh tế
hướng xuất khẩu với tỉ lệ tiết kiệm cao. Mục tiêu là tăng cường xuất khẩu, giảm nhập khẩu.
V. Những biện pháp của chính phủ Việt Nam để đối phó với khủng hoảng :
Để phát triển bền vững và phòng chống khủng hoảng, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều
giải pháp, trong đó có những giải pháp có tính chiến lược, lâu dài, và có những giải pháp có
tính chiến thuật, áp dụng cho những giai đoạn ngắn. Mục đích số một trong thời điểm hiện tại
là tạo một môi trường kinh tế và xã hội ổn định, và ngăn chặn cuộc khủng hoảng tài chính thế
giới để nó khỏi tràn vào và gây ra khủng hoảng tài chính ở Việt Nam. Sau đó mới nói đến
chuyện tăng trưởng. Dưới đây là một số ý tưởng về những biện pháp có thể thực hiện.
- Mềm dẻo hơn trong chính sách tỷ giá ngoại tệ, để hạn chế thâm hụt cán cân vãng lai, tránh
thụt giảm sâu dự trữ ngoại tệ (có thể hỗ trợ xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu bừa bãi bằng việc
điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ), và tránh chuyện giá chợ đen chênh lệch quá lớn so với giá chính
thức, ảnh hưởng xấu đến cách doanh nghiệp và gây tham nhũng. Việt Nam mới đây đa nới

gắn máy. (Tỷ lệ trên thực tế có thể khác vậy nhiều do nhập "lậu"). Những đồ "sa xỉ phẩm"
như xe hơi, thuốc lá, đá quí có thể đánh thuế nặng hơn nữa để hạn chế nhập khẩu. Khi xuất
khẩu giảm thì nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu phục vụ xuất khẩu tự khắc giảm theo.
Còn những máy móc và nguyên vật liệu phục vụ sử dụng trong nước có thể cần phải hạn chế
nhập khi tìn hình khó khăn. Ưu tiên nhập máy móc từ những người bán hàng cho phép nợ dài
hạn hoặc trả dần trong nhiều năm, một hình thức
làm cho người bán hàng cũng góp phần đầu tư vào Việt Nam, làm giảm thâm hụt cán cân
vãng lai. Kiểm tra chặt chẽ hơn các cửa khẩu biên giới để chống nhập lậu.
- Tăng hiệu quả đầu tư. Tỷ lệ đầu tư ở Việt Nam (35-40% GDP) là rất lớn, không cần tăng
thêm mà ngược lại có thể giảm đi trong tình hình thế giới khó khăn. Cái cần tăng là hiệu quả
đầu tư. Việt Nam cần nghiên cứu kỹ câu hỏi: tại sao chỉ số ICOR của Việt Nam lại cao hơn
nhiều của các nước khác trong giai đoạn phát triển tương tự ? Làm sao để đạt hiệu quả đầu tư
bằng họ? Cần phân tích xem học đa đầu tư ra sao để học tập. Chỉ cần nâng hiệu quả đầu tư lên
thành ICOR = 4, và duy trì mức tiết kiệm 30% GDP, thì đa có thể đạt tỷ lệ tăng trưởng 7,5%
mà không cần vay nợ nước ngoài. Cần tìm ra và giải quyết những nguyên nhân dẫn đến hiệu
quả đầu tư kém ở Việt Nam. Có thể hình dung một số nguyên nhân như: đầu tư không đúng
chỗ, thãng nhũng cửa quyền nhiều, cơ chế không khuyến khích làm việc thực sự, trình độ và
thái độ trong công việc kém những nước khác, ít sáng tạo, đầu cơ quá nhiều, v.v.
- Huy động ngoại tệ từ nhân dân. Theo một con số thống kê, hiện có 14 tỷ USD của các tổ
chức và cá nhân ở Việt Nam gửi ở ngân hàng. Ngoài ra còn có thêm vài tỷ USD tiền mặt được
lưu thông ở Việt Nam (và nhiều người giữ của bằng cách cất USD vào két ở nhà, thay vì gửi
ngân hàng). Lượng tiền USD này có thể tạo một "gối bảo hiểm" cho Việt Nam. Trong trường
hợp nợ nước ngoài gặp khó khăn và dự trữ ngoại tệ giảm mạnh, nhà nước có thể có những
chính sách khuyến khích nhằm huy động ngoại tệ từ nhân dân.
- "Tự thân vận động" và không trông đợi vào sự cứu trợ của World Bank và IMF. Bản thân
IFM cũng đang bị thâm hụt ngân sách, mà lại cần giải cứu nhiều nước khi khủng hoảng đến,
và Việt Nam là nước nhỏ (về kinh tế), không thuộc diện qua trọng cần được ưu tiên đối với
họ. Bởi vậy nếu Việt Nam có được họ giúp đỡ, thì cũng sẽ chỉ ở mức độ nhỏ, và sự giúp đỡ
đó có thể đi kèm theo những điều kiện chưa chắc đa có lợi. Theo ông Joseph Stiglitz (giải
Nobel về kinh tế năm 2001, người đa từ chức Chief Economist và Vice President của WB vào

sử dụng những cách tinh tăng trưởng kinh tế xã hội tinh tế hơn, trong đó tính cả yếu tố môi
trường. Cần có hệ thống thu lệ phí môi trường (chủ của các xe cộ, nhà máy, công trình xây
dựng, v.v. có làm ảnh hưởng xấu đến môi trường thì phải nộp lệ phí để bù lại) và lệ phí đó
phải được dùng vào việc làm sạch môi trường và để khuyến khích sử dụng "phương tiện
sạch". Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc ngăn chặn sự tăng dân số ở Việt Nam (hiện tại đa ở mức
quá
tải cho môi trường).
- Thận trọng trong việc kích thích kinh tế bằng tiền nhà nước. Nhiệm vụ của chính phủ và
quốc hội không phải là "GDP năm 2009 phải tăng mấy phần trăm" (nó tăng được mấy phần
trăm là phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt
Nam), mà là đảm bảo an toàn và công bằng xã hội, xây dựng hệ thống luật pháp và các cơ chế
luật lệ hợp lý, đảm bảo một hệ thống tài chính ổn định, tạo điều kiện cho nhân dân mở mang
và doanh nghiệp phát triển. Khả năng tài chính của nhà nước có hạn (và đặc biệt năm 2009
ngân sách có thể gặp khó khăn), chỉ nên đầu tư thêm (trực tiếp, hoặc gián tiếp qua các chính
sách tài chính khuyến khích tư nhân đầu tư) vào những chỗ có tính chiến lược, có hiệu quả và
lợi ích công cộng cao (ví dụ như hệ thống giao thông, đê điều, giáo dục, khoa học công nghệ,
y tế, điện lực phục vụ toàn dân), và cần quản lý đầu tư tiền công chặt chẽ để phòng chống
lãng phí tham nhũng rút ruột. Nhiều nước trên thế giới đang đưa ra những gói kích thích kinh
tế nhằm đối phó với suy thoái, và Chính Phủ Việt Nam cũng đang làm theo (dự kiến chi 6 tỷ
USD cho kích cầu và kích đầu tư), tuy nhiên cần hết sức thận trọng để khỏi lãng phí, thâm hụt
nặng thêm ngân sách mà hiệu quả không cao. Như có viết ở phía trước, vấn đề của Việt Nam
không phải là "thiếu đầu tư" mà là "thiếu hiệu quả đầu tư". Về vấn đề kích cầu, tầng lớp cần
được kích cầu nhiều nhất có lẽ là tầng lớp người nghèo, nếu kích cầu thì nên chú trọng đến
họ. Nếu có những mặt hàng bị ế thừa thì chủ yếu là các doanh nghiệp cần tự điều chỉnh sao
cho sản xuất đúng cái cần thiết hơn, chất lượng tốt hơn, quảng cáo tốt hơn, giá cả hợp lý hơn,
v.v., và nhà nước có thể định hướng, gợi ý, nhưng không nên can thiệp vào, trừ một số trường
hợp đặc biệt có ảnh hưởng lớn đến xã hội.
- Đẩy nhanh tiến độ cải cách cơ chế và luật lệ, và tăng độ công khai và minh bạch trong quản
lý. Tạo ra một cơ chế hợp lý, phát hiện và chỉnh sửa kịp thời các sơ hở trong quản lý, để có
thể chống một cách hiệu quả những hiện tượng tham nhũng, cửa quyền, lãng phí, lừa đảo, trốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status