Công tác kế hoạch hoá tại Việt Nam - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Một thời gian khá dài trước đây, Việt Nam đã từng duy trì một nền kinh tế
tập trung bao cấp với sự điều tiết trực tiếp những hoạt động kinh tế thông qua quá
trình đưa ra những quyết định mang tính pháp lệnh từ trung ương. Các hoạt động
kinh tế của các cấp địa phương đều tiến hành theo những chỉ tiêu cụ thể do nhà
nước giao. Trong thời kỳ này có thể nói rằng KHH nền kinh tế quốc dân là đặc
trưng và là tính ưu việt riêng của cơ chế tập trung, nó đã giúp nước ta huy động
được các nguồn lực phục vụ cho công cuộc kháng chiến thành công.
Tuy nhiên, việc duy trì quá lâu cơ chế tập trung đã thủ tiêu tính năng động và
hiệu quả của các hoạt động kinh tế. Đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay thì
một nền kinh tế mang tính cấp phát với hệ thống chỉ tiêu chằng chịt không còn phù
hợp nữa. Ngày nay, trước xu thế hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và sự biến động
khôn lường của cơ chế thị trường thì Nhà nước chỉ nên giữ vai trò điều tiết vĩ mô và
định hướng phát triển cho nền kinh tế, tạo một môi trường vĩ mô thuận lợi cho các
hoạt động kinh tế. Vì vậy, KHH với vai trò là một trong những công cụ quản lý vĩ
mô của Nhà nước cũng cần phải có sự đổi mới phù hợp với yêu cầu thực tế.
Tại Đại hội IX, Đảng ta cũng đã khẳng định “ cần tiếp tục tạo lập đồng bộ
các yếu tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước”,
đồng thời “ Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền
kinh tế. Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá, nâng cao chất lượng xây dựng các
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”.
Chính vì những lý do trên, bài nghiên cứu này không có mục đích gì khác là
nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn vì sao cần phải đổi mới công tác KHH ở Việt
Nam, thấy được những bước tiến trong công tác KHH ở nước ta, kinh nghiệm về
làm KHH ở một số nước, và từ đó đưa ra những ý kiến về phương hướng đổi mới
công tác KHH và từ đó đưa ra những ý kiến về phương hướng đổi mới công tác
KHH ở Việt Nam.
Bài viết kết cấu gồm ba phần:
Phần I: Lời mở đầu
Trang 1
Phần II: Những đổi mới trong công tác KHH ở Việt Nam và những phương

80, nhất là đầu thập kỷ 90, sự thay đổi trong công tác KHH ở Pháp diễn ra theo các
nội dung sau:
Về nhiệm vụ và nội dung của kế hoạch tập trung chủ yếu vào công tác dự
báo và cung cấp những biện pháp điều tiết uyển chuyển nhằm vận hành tốt hơn cơ
chế thị trường, đồng thời thiết lập một khuôn khổ nhất quán các mục tiêu và chính
sách công trung hạn, cố gắn với một tầm nhìn dài hạn.
Về phương pháp lập kế hoạch: tăng cường sự tham gia đóng góp của các
viện, các tung tâm, các nhà khoa học; Nâng cao chất lượng dự báo; Vẫn đảm bảo
nguyên tắc thương thảo với mọi tác nhân kinh tế; Nâng cao trình độ và nhận thức về
việc đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch và các chính sách kinh tế.
KHH kinh tế vĩ mô ở Nhật Bản: Nhật Bản đã sớm xây dựng nền kinh tế thị
trường ngay từ những cuộc cải cách dưới thời kỳ Minh Trị duy tân từ năm 1868,
nhưng điều đó không có nghĩa là Chính phủ Nhật đã không sử dụng công cụ KHH
Trang 3
trong quản lý kinh tế. Mà ngược lại, hệ thống KHH ở Nhật có những nét độc đáo và
KHH đã đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực.
Điểm nổi bật trong công tác KHH ở Nhật, đó là mô hình KHH “cuốn chiếu”:
mỗi kỳ kế hoạch thường được kết thúc sớm hơn dự kiến và thay thế bằng kỳ kế
hoạch mới; các kế hoạch thường gối đầu lên nhau. Mô hình KHH này thể hiện tính
năng động, nhạy bén và đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị
trường.
KHH kinh tế của Nhật Bản chú trọng vạch ra các biện pháp chính sách mà
Chính phủ định sử dụng để quản lý nền kinh tế xét từ góc độ phát triển dài hạn. Còn
các kế hoạch phát triển chủ yếu là kế hoạch định hướng, tạo những tiền đề cho sự
phát triển của các loại hình kinh tế.
Với mô hình KHH kiểu “ cuốn chiếu”, Nhật Bản đã đạt được nhiều thành
công trong quá trình phát triển kinh tế, và đây cũng là bài học kinh nghiệm quý báu
cho Việt Nam trong việc đổi mới công tác KHH thời gian tới.
KHH ở các nước đang phát triển: trong những thập niên đầu tiên của quá
trình phát triển, hầu hết các nước đang phát triển đã coi kế hoạch hoá quốc gia trực

Khác với nhiều nước có nền kinh tế chuyển đổi, đổi mới kinh tế ở Việt Nam
không có nghĩa là từ bỏ hoặc coi nhẹ KHH kinh tế vĩ mô, mà yêu cầu đặt ra là phải
có những những thay đổi cần thiết, đáp ứng được những đòi hỏi và điều kiện mới
của nền kinh tế. Muốn đáp ứng được các yêu cầu đó, đòi hỏi phải đổi mới mạnh hơn
nữa các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt là phải đổi mới công tác
KHH. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã
khẳng định chủ trương đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội là “ Chuyển
mạnh sang quản lý kinh tế – xã hội bằng tổ chức, luật pháp, chính sách, chế độ, quy
hoạch, giáo dục, thuyết phục, thanh tra, kiểm tra và rất quan trọng là bằng các công
cụ quản lý vĩ mô và sức mạnh kinh tế của Nhà nước(…), đẩy mạnh công tác hoạch
định và hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phảt triển…”.
Như vậy, đối với Việt Nam, KHH là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hết
sức quan trọng. Vì vậy, cần phải tiến hành đổi mới công tác KHH trên tất cả các
phương diện, từ tư duy, quan điểm định hướng, nội dung, phương pháp cho đến cơ
cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch nhằm đáp ứng được đầy đủ hơn các nhu
cầu của sự phát triển kinh tế.
Trang 5
CHƯƠNG 2:
QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH HOÁ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam.
Kế hoạch hoá trong cơ chế cũ được coi là công cụ chủ yếu nhất để quản ký
kinh tế. Thông qua hệ thống các cơ quan kế hoạch nhà nước từ trung ương đến địa
phương để xây dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các cơ sở kinh tế, điều
hành, theo dõi và xét duyệt việc hoàn thành kế hoạch hoá mà nhà nước có thể chỉ
huy được nền kinh tế. Việc thực hiện cơ chế đó đến đầu thập kỷ 80 đã trở thành lực
cản đối với sự phát triển kinh tế.
Công tác kế hoạch hoá trong thời kì này được cải tiến dần theo hướng
chuyển từ hoạch hoá tập trung mang tính chất pháp lệnh trực tiếp sang kế hoạch hoá
gián tiếp. Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển với các mục tiêu lớn, các chỉ tiêu
kinh tế chủ yếu và điều tiết nền kinh tế bằng các chính sách, các công cụ kinh tế vĩ

Dân chủ hoá đời sống xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với ổn
Trang 7
định và đổi mới về chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội .
Kết quả đạt được là nền kinh tế có bước phát triển về lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế đời sống vật chất, tinh thần của nhân
đân ta được cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; Thế và lực của đất
nước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy
mạnh CNH - HĐH đất nước.
Nguyên nhân của những kết quả này là đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của nhà nước đã phát
huy được nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cường, tính năng động, sáng
tạo và nỗ lực phấn đấu của nhân dân ta.
Chiến lược này được điều chỉnh thông qua đại hội Đảng lần thứ VIII
(1996) với trọng tâm đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Đây là sự mở đầu giai đoạn
áp dụng phối hợp chiến lược với quy hoạch, giữa quy hoạch với kế hoạch trung hạn
và ngắn hạn trong hệ thống kế hoạch hoá. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đề
ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế phù hợp có nội dung đáp ứng được yêu cầu của công
cuộc đổi mới đất nứơc, phát huy tiềm lực trong nước và thu hút nguồn lực bên
ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp với
điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2004) đã đề ra chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: Đưa nước ta thoát khỏi
tình trạng kém phát triển; Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của
nhân dân; Tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ,
kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN được hình thành về cơ bản; Vị thế của nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao. Chiến lược phát triển KT-XH 2001-2010 đã đề ra
năm quan điểm phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh

đầu, đã gắn được mục tiêu chiến lược vào nội dung quy hoạch, xác định được tiềm
năng, định hướng phát triển cho từng vùng, từng địa phương. Tài liệu quy hoạch đã
bước đầu giúp cho các cấp lãnh đạo ở trung ương và địa phương xác định mục tiêu,
nhiệm vụ và tăng cường sự chỉ đạo phát triển KT-XH ở từng địa phương cũng như
cả nước.
Trang 9
Công tác phân vùng quy hoạch đã có sự đổi mới và phát triển từ thấp đến
cao. Lúc đầu, chúng ta chia cả nước thành bốn vùng và sau đó đã được thay đổi và
chia cả nước thành bẩy vùng.
Sự đổi mới trong công tác quy hoạch là một trong những điểm đổi mới
trong công tác làm kế hoạch ở nước ta. Từ đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế của đất nước, cũng như sự phát triển kinh tế của chính vùng đó thông qua
thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
2.1.3. Về công tác kế hoạch phát triển.
Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá của chiến lược và quy hoạch phát triển,
là một công cụ định hướng được thể hiện bằng hệ thôngs các chỉ tiêu mục tiêu, các
chỉ biện pháp và các giải pháp chính sách cơ bản áp dụng trong một khoảng thời
gian nhất định.
2.1.3.1. Chuyển dần trọng tâm sang KHH định hướng phát triển năm
năm.
Trên cơ sở chiến lược phát triển KT-XH và quy hoạch phát triển, các kế
hoạch năm:1991-1995 và 1996-2000 đã được xây dựng vơí những thay đổi lớn về
nội dung như: tăng cường KHH vĩ mô; Từng bước xoá bỏ KHH mệnh lệnh và giảm
đến mức tối thiểu các chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hướng, chú ý hơn
đến các chỉ tiêu trên các lĩnh vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố
gắng xây dựng và điều hành đảm bảo các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng
và thực hiện các chương trình dự án quốc gia; Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng
KT-XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế.
Phương pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bước đầu có sự đổi
mới trong lĩnh vực ngân sách, chuyển từ phương pháp truyền thống hay phương

Tháng 8 tới tháng 9: các bộ ngành địa phương xây dựng kế hoạch và
Bộ KH & ĐT tiến hành tổng hợp bản kế hoạch KTQD.
Tháng 10 tới tháng 11: bản kế hoạch tổng hợp KTQD được trình,
duyệt qua chính phủ, ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội duyệt.
Tháng 12: hoàn chỉnh và đưa kế hoạch xuống các cấp thực hiện.
2.1.3.2: Đổi mới hệ thống chỉ tiêu kế hoạch.
Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đã được rút gọn đáng kể chỉ còn chỉ tiêu thu, chi
ngân sách nhà nước, phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc về nguồn vốn ngân
Trang 11
sách nhà nước. Xoá bỏ việc giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản xuất và chỉ duy từ một số
chỉ tiêu về lưu thông vật tư, hàng hoá quan trọng nhằm ổn định cung cầu.
Phần lớn các chỉ tiêu kế hoạch hiện nay là chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu kế
hoạch hiện vật nói chung đã được giảm bớt đáng kể đồng thời duy trì một số cân đối
hiện vật thiết yếu. Hệ thống cân đối hiện vật thiết yếu như xăng dầu, lương thực đã
tỏ ra là cần thiết cho ổn định kinh tế xã hội, các bảng cân đối giá trị ngày càng được
mở rộng và nâng cao.
Ngoài xu hứơng "giá trị hoá ", trọng tâm của các chỉ tiêu kế hoạch đang
chuyển dần sang điều tiết kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu xã hội .
2.1.3.3. Đổi mới quy trình lập kế hoạch:
Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản.
Hình thức giao số kiểm tra đã được thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết
nhằm hướng các ngành, địa phương và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch
theo hướng mục tiêu chung của nhà nước. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin
hướng dẫn, Bộ kế hoạch và đầu tư còn cử các đoàn đến các địa phương để hỗ trợ,
giúp đỡ và giải quyết các vướng mắc mà các địa phương gặp phải trong khi xây
dựng kế hoạch. Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp đặt hành chính chủ
quan của cấp trên với cấp dưới, phát huy được tính chủ động sáng tạo của các
ngành, các cấp chính quyền địa phương cũng như doanh nghiệp trong việc lập và
thực hiện kế hoạch .
Trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch đã chú ý nhiều hơn đến các kế

hàng năm đã có hiệu quả và tác dụng thiết thực, kịp thời xử lý những diễn biến bất
thường ở trong nước và quốc tế, góp phần quan trọng cho sự ổn định kinh tế đất
nước .
2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình đổi mới công tác kế
hoạch hoá ở Việt Nam:
Mặc dù việc đổi mới KHH trong thời gian qua có tiến bộ đáng kể nhưng do
nhiều lý do, kết quả của đổi mới KHH còn hạn chế, thậm chí cả ở trung ương và địa
phương xu hướng giữ lại hoặc trở lại KHH kiểu cũ vẫn còn khá mạnh, ngay trong
một bộ phận của nhà nước và một phần dư luận của công chúng không khí bao cấp
còn nặng.
Những hạn chế chủ yếu là:
Trang 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status