BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HUỲNH THỊ DUY HƯƠNG
KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ
VÀ NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHĂM SÓC RỐN CHO TRẺ SƠ SINH
TẠI HUYỆN CẦN GIỜ – TP. HCM Chuyên ngành: DỊCH TỄ HỌC
Mã số: 3 01 11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh –2008
Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
98.
2. Huỳnh Thò Duy Hương (2007), “Kiến thức, thái độ và thực hành của
bà mẹ trong việc chăm sóc rốn trẻ: kết quả nghiên cứu dòch tễ học tại
Huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh”, Y học Thành phố HCM, tập 11,
số 4, tr 227-235.
3. Huỳnh Thò Duy Hương (2008), “Các yếu tố liên quan đến kiến thức,
thái độ và thực hành chăm sóc rốn trẻ ở các bà mẹ: kết quả nghiên cứu
dòch tễ học tại Huyện Cần Giờ, TP HCM”, Y học Thành phố HCM, tập 12,
phụ bản số 1, tr 7-16. Chuyên đề Nhi khoa; (2007) Y học thực hành, Bộ Y
Tế, số 11 (589+590), tr 15-19.
1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Tại các nước đang phát triển, uốn ván rốn (UVR) và nhiễm khuẩn
rốn (NKR) là những nguyên nhân chính đưa đến tử vong ở trẻ sơ sinh.
Mỗi năm, theo tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) độ 500.000 trẻ chết do
UVR và độ 460.000 trẻ chết vì những hậu quả của nhiễm khuẩn nặng.
Thực tế tại Việt Nam, tỷ lệ NKR được ghi nhận tại các Bệnh viện (BV)
Thành phố Hồ Chí Minh thay đổi từ 23% đến 43% và cá biệt vài trường hợp
nặng dẫn đến nhiễm khuẩn huyết và gây tử vong, rất đáng tiếc.
Một số yếu tố thường gặp, có thể làm gia tăng tần suất NKR và UVR
ở những nước đang phát triển là:cSinh tại nhà không đảm bảo vô trùng,
mất vệ sinh do người hộ sinh không được huấn luyện.d Cơ quan y tế còn
nghèo nàn lạc hậu, không đảm bảo vô trùng trong các khâu hộ sinh.e Sự
tồn tại những hủ tục nuôi con, những thói quen tập quán có hại gây mất
vệ sinh trong việc chăm sóc rốn trẻ ở cộng đồng dân cư.
đúng ïïvề việc CSRTSS. o Xác đònh được liên quan giữa KT,TĐ,TH và một
số ĐTCNXH trong việc CSRTSS của người mẹ. p Xác đònh được liên quan
giữa KT và TĐ với TH trong việc CSRTSS và thăm dò được những nguyên
nhân ảnh hưởng đến TH CSRTSS chưa đúng của người mẹ.
4. Bố cục luận án
Luận án gồm 121 trang, 36 bảng, 3 biểu đồ, 9 hình, 140 tài liệu tham khảo
và 17 phụ lục. Ngoài các phần mở đầu 4 trang, kết luận 2 trang và kiến nghò 1
trang, phần nội dung chính tập trung ở 4 chương: chương 1: Tổng quan tài liệu
23 trang, chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 18 trang, chương 3:
Kết quả 39 trang và chương 4: Bàn luận 34 trang.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC VỀ NHIỄM KHUẨN RỐN SƠ SINH
NKR thường gặp nhiều ở những nước đang phát triển. Theo một
nghiên cứu tổng quan của TCYTTG, UVR và NKR là những nguyên
nhân chính dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh. Mỗi năm 500.000 trẻ chết do
UVR và 460.000 trẻ chết vì những hậu quả của nhiễm khuẩn nặng.
Nghiên cứu tại Pakistan năm 2004 cho thấy trong 3 năm đã có 125 bệnh
nhi UVR. Nghiên cứu tiền cứu trong đô thò ở Ấn Độ cho thấy tỷ lệ mới
mắc của NKR là 30/1000, tỷ lệ bệnh mới mắc tại BV của NKR của sơ sinh
3
là 2,3%; tại nhà là 21,3%. Tại Nairobi, Kenya một nghiên cứu cắt ngang
về KT-TĐ-TH của các người mẹïï và KT của NVYT liên quan đến vấn
đề CSRTSS, cho thấy các người mẹïï có KT tốt trong việc giữ vệ sinh khi
cắt rốn nhưng lại không biết và TH sai việc CSRTSS sau khi sinh.
Tại Việt Nam, tỷ lệ mới mắc của NKR hiện nay vẫn chưa rõ.Tuy
nhiên vài số cụ thể về NKR của BV Nhi Đồng 1 TP.HCM: tỷ lệ NKR
thay đổi từ 23% đến 43% trên các bệnh nhiễm khuẩn và chiếm từ 3,3 đến
11,2% trẻ nhập khoa Sơ sinh. Trong 5 năm, trong 5 loại bệnh nhiễm
khuẩn tại khoa, tỷ lệ NKR đứng nhất trong 2 năm và đứng thứ nhì, trong
dân bôi những chất này vào rốn là để ngăn ngừa chảy máu rốn, làm rốn
mau rụng và làm cho hồn ma tránh xa. Nhưng việc sử dụng chất sát
khuẩn làm giảm đáng kể vi khuẩn tại rốn, nhưng lại kéo dài thời gian
rụng rốn, số lần khám bệnh sẽ tăng, tăng công việc cho nhân viên y tế
và tăng chi phí y tế chăm sóc sau sinh. Tại BV Nhi Đồng 1, thời gian
điều trò trung bình cho một trường hợp NKR nhập viện là 8 ngày
(7,5ngày-9,3ngày) tiêu tốn từ 1,2 triêu đến 1,3 triêu đồng. Trong một
năm với số bệnh nhân NKR nhập khoa số tiền tiêu tốn từ 123 triệu đến
322 triệu đồng. Giờ đây khi trẻ dưới 6 tuổi được miễn phí, gánh nặng chi
phí sẽ dồn vào ngân sách của nhà nước.
1.2.3 Rửa rốn
Chưa có nghiên cứu nào có thể xác đònh phương pháp nào tốt nhất
được dùng để rửa rốn khi rốn trở nên dính và khô. Rửa rốn bằng cách dùng
nước sạch và xà phòng (hoặc chỉ rửa với nước sạch nếu không có xà
phòng) được xem là có hiệu quả. Rửa rốn bằng cồn không được khuyến
khích vì làm chậm lành rốn và chậm khô vết thương. Các người mẹ được
khuyên không nên tắm con chìm trong nước cho đến khi rốn rụng.
1.3 ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHĂM SÓC RỐN SẠCH
Sau sinh, chăm sóc rốn sạch bao gồm rửa tay với nước sạch và xà phòng
trước và sau khi chăm sóc rốn, cuống rốn cần được giữ cho khô ráo và bộc lộ
ra không khí hoặc che bằng một miếng vải mỏng và sạch. Tã được xếp dưới
rốn, không chạm tay vào cuống rốn, không dùng những dung dòch bôi rốn
không sạch và không băng rốn. Mặt khác có thể làm giảm nguy cơ NKR khi
5
cho trẻ nằm chung với mẹ thay vì cho trẻ nằm trong khoa dưỡng nhi, việc
tiếp xúc da mẹ-da con sẽ tạo điều kiện cho những vi khuẩn không gây bệnh
thường trú trên da bụng của mẹ qua da bụng con.
1.4 TÌNH HÌNH NƠI NGHIÊN CỨU
Huyện Cần Giờ, huyện duy nhất trong 24 quận huyện của TP Hồ Chí
Các Y só, ĐD trung cấp, ĐD sơ cấp, NHS, làm việc tại TTYT Cần Giờø.
Những người mẹ đã tham gia nghiên cứu đònh lượng, có thực hành CSRTSS
chưa đúng.
2.3 CỢ MẪU
2.3.1 Nghiên cứu đònh lượng
Công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu đònh lượng với mục tiêu ước
lượng một tỷ lệ với sai số nhất đònh là:
Với :
α: mức ý nghóa hay sai lầm loại 1 = 0,05 (với độ tin cậy 95% do đó Z
(1-α/2)
= 1,96), p = là tỷ lệ các người mẹ có KT-TĐ-TH đúng, mong đạt được
trong nghiên cứu. Trong 1 nghiên cứu về KT-TĐ-TH CSRTSS của các
người mẹ đang nuôi con dưới 4 tháng tuổi thực hiện tại Quận 8 năm 2000:
tỷ lệ các người mẹ có KT đúng là 0,35, TĐ hợp tác là 0,64, TH đúng là
0,25. Trong nghiên cứu này, do cần tìm cả 3 tỷ lệ về KT, TĐ, TH đúng,
nên tỷ lệ được chọn là tỷ lệ gần với 0,5 nhất, đểõ mẫu được chọn là lớn
nhất, do đó p = 0,64; d = 0,07 (độ chính xác tuyệt đối). Vậy: n = 180. Dự
trù khoảng 10% các người mẹ sẽ không trả lời đầy đủ các câu phỏng vấn,
do đó mẫu sẽ được cộng thêm 10%, tức 18 người nữa. Vậy mẫu cần thu
thập là 180 + 18 = 198, làm tròn 200. Do số người mẹ hiện cư ngụ tại đòa
phương khoảng gấp rưỡi số mẫu dự kiến nên nghiên cứu chọn phương
pháp lấy mẫu toàn thể để đảm bảo tính chính xác của ước lượng và tránh
các sai lầm có thể do việc chọn mẫu không đại diện.
2.3.2
Nghiên cứu đònh tính
Với thảo luận nhóm, có 4 nhóm cho mỗi đối tượng, tổng cộng là 50
người. Với phỏng vấn sâu, có 24 người tham gia
.
có quyền ngưng cuộc phỏng vấn.
2.5 NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
2.5.1 Nghiên cứu đònh lượng
2.5.1.1 Biến số về kiến thức, thái độ, thực hành
Các biến số kiến thức về CSRTSS là biến số nhò giá với hai giá
trò: kiến thức đúng và kiến thức chưa đúng. Có 8 biến số.
Các biến số thái độ về CSRTSS là biến số nhò giá với hai giá trò:
thái độ đúng và thái độ chưa đúng. Có 4 biến số.
Các biến số thực hành về CSRTSS là biến số nhò giá với hai giá
trò: thực hành đúng và thực hành chưa đúng. Có 5 biến số.
2.5.1.2 Những đặc trưng cá nhân và xã hội (ĐTCNXH)
Tất cả những ĐTCNXH của người mẹ và của con là những biến số
độc lập và cũng là biến số nhò giá. Có 8 biến số.
8
2.5.2 Nghiên cứu đònh tính
Các kết quả thu thập qua thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu:
Người mẹ: lý do các người mẹ thực hành chưa đúng CSRTSS; điều
người mẹ mong được giúp đỡ trong việc CSRTSS.
NVYT: kiến thức cuả NVYT về băng rốn, rửa rốn, bôi rốn; những khó
khăn NVYT gặp phải khi CSRTSS; ý kiến của NVYT về việc nâng cao
kiến thức, kỹ năng CSRTSS.
2.6 THU THẬP DỮ LIỆU
2.6.1 Nghiên cứu đònh lượng
Một phiếu câu hỏi phỏng vấn và quan sát, với những câu hỏi được soạn
sẵn theo đúng mục tiêu chuyên biệt được dùng để thu thập thông tin về
những biến số độc lập và phụ thuộc liên quan đến chăm sóc rốn trẻ sơ sinh,
do 39 phỏng vấn viên (PVV) là NVYT của Huyện thực hiện. Khi kết thúc,
PVV quan sát tình trạng băng rốn trẻ, xem những dung dòch bôi rốn đang
dùng cùng với 22 giám sát viên (GSV) tại đòa điểm phỏng vấn.
lượng tối đa có thể (MLE) của TSC. Khoảng tin cậy 95% của TSC được
đọc là khoảng 95% chính xác theo xác suất giữa của số ước lượng tối đa có
thể của TSC. Kiểm đònh mối liên quan giữa các biến trên bằng phép kiểm
chi bình phương (χ
2
). Trò số p của phép kiểm χ
2
được chọn theo giá trò của
Mantel-Haenszel. Trong trường hợp phép kiểm χ
2
không thích hợp, phép
kiểm chính xác Fisher được chọn. Các mối liên quan đơn biến có ý nghóa
thống kê trong sẽ được tiếp tục phân tích đa biến bằng phương pháp hồi qui
logistic với phần mềm STATA 8.0.
2.9.2 Nghiên cứu đònh tính
Kết quả của phân tích đònh tính là những nguyên nhân giải thích cho
những thực hành chưa đúng trong CSRTSS của các người mẹ.
2.9 Y ĐỨC
Từ mục tiêu nghiên cứu, cách chọn mẫu, cách thực hiện cuộc điều tra, đối
tượng nghiên cứu không hề bò xúc phạm gây tổn hại về tinh thần lẫn thể xác.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
3.1 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯNG
3.1.1 Đặc điểm dân số xã hội
Có 265 người mẹ thỏa tất cả các tiêu chí nhận vào nghiên cứu với
những đặc tính sau: gần 60% người mẹ có tuổi trên 25, thất nghiệp
10
chiếm gần 60%, học vấn từ cấp 1 trở xuống: 62%, các người mẹ có từ
hai con trở lên chiếm 62%, khoảng cách sinh giữa hai trẻ dưới 2 năm:
57%, các người mẹ có khó khăn về kinh tế chiếm 35%. Với 265 trẻ
3.1.3 Liên quan giữa KT-TĐ-TH CSRTSS với một số ĐTCNXH của người mẹ
3.1.3.1 Phân tích đơn biến liên quan giữa KT chung với ĐTCNXH của người mẹ
Bảng 3.19: Liên quan giưã kiến thức chung với ĐTCNXH cuả người mẹ (n=265)
Đặc điểm KT đúng
n (%)
KT sai
n (%)
TSC
(KTC 95%)
p
Mẹ ≥ 25 tuổi 42 (26.92) 114 (73.08)
Mẹ≤ 24 tuổi 38 (34.86) 71 (65.14)
0,68
(0,39-1,21)
0,16
Mẹ có nghề nghiệp 31 (28.97) 76 (71.03)
Mẹ nội trợ (thất nghiệp) 49 (31.01) 109 (68.99)
0,9
(0,5-1,6)
0,72
Học vấn ≥ cấp 2 29 (28.43) 73 (71.57)
Học vấn < cấp 2 51 (31.29) 112 (68.71)
0,87
(0,48-1,55)
0,62
Mẹ có ≥ 2 con 35 (24.82) 106 (75.18)
Mẹ có 1 con 45 (36.29) 79 (63.71)
12
3.1.3.2 Phân tích đơn biến liên quan giữa TĐ chung với ĐTCNXH của người mẹïï
Bảng 3.24: Liên quan giưã thái độ chung với ĐTCNXH cuả người mẹ (n=265)
Đặc điểm TĐ đúng
n (%)
TĐ sai
n (%)
TSC
(KTC 95%)
p
Mẹ ≥ 25 tuổi 111 (71.15) 45 (28.85)
Mẹ≤ 24 tuổi 87 (79.82) 22 (20.18)
0,62
(0,33-1,15)
0,11
Mẹ có nghề nghiệp 80 (74.77) 27 (25.23)
Mẹ nội trợ (thất nghiệp) 118 (74.68) 40 (25.32)
1,00
(0,55-1,85)
(0,43-1,43)
0,40
Kinh tế ≥ trung bình 128 (73.56) 46 (26.44)
Kinh tế nghèo 70 (76.92) 21 (23.08)
0,83
(0,44-1,56)
0,55
13
3.1.3.3 Phân tích đơn biến liên quan giữa TH chung với ĐTCNXH của người mẹïï
Bảng 3.30: Liên quan giưã thực hành chung với ĐTCNXH cuả người mẹ (n=265)
Đặc điểm TH đúng
n (%)
TH sai
n (%)
TSC
(KTC95%)
p
Mẹ ≥ 25 tuổi 40 (25.64) 116 (74.3)
Sinh: nhà, TTYT xã, BV tư 32 (36.78) 55 (63.22)
0,79
(0,44-1,4)
0,38
Khoảng cách sinh ≥ 2 năm 35 (30.43) 80 (69.57)
Khoảng cách sinh < 2 năm 53 (35.33) 97 (64.67)
0,8
(0,6-1,38)
0,40
Kinh tế ≥ trung bình 62 (35.63) 112 (64.4)
Kinh tế nghèo 26 (28.57) 65 (71.43)
1,38
(0,77-2,51)
0,24
3.1.4 Phân tích đa biến mối liên quan giữa thực hành với thái độ
kiểm soát theo các biến tương tác và gây nhiễu
Bảng 3.33: Mối liên quan giữa thái độ với thực hành trong mối tương tác
với tình trạng kinh tế và kiểm soát theo tuổi mẹ, giới tính con
Biến số độc lập TSC p KTC 95%
Thái độ (nhóm kinh tế nghèo)
7,03 0,001 2,34 - 21,12
Thái độ (nhóm kinh tế khá giả)
0,52 0,02 0,30 - 0,90
Tuổi mẹ ≥ 25 tuổi
1,35 0,27 0,78 - 2,32
Con trai
3,71 0,04 1,05 - 13,10
không hợp tác (17/20).
3.2.5 Biện pháp giúp các NVYT trong việc CSRTSS
• NVYT đề xuất những biện pháp:
15
Sinh hoạt chuyên đề cho NVYT về CSRTSS (20/20). chiếu các băng
video về CSRTSS cho người mẹ xem trong thời gian đi khám thai, khi
nằm tại BV (20/20), thân nhân bệnh nhân xem điều dưỡng CSRTSS
(10/20), tivi có chương trình cho người mẹ xem cách CSRTSS (10/20).
• Ý kiến của NVYT về huấn luyện CSRTSS:
Trong phần phỏng vấn sâu các NVYT, 2/20 cho rằng các kiến thức mới
về CSRTSS đã được biết và được huấn luyện qua chương trình xử trí
lồng ghép bệnh trẻ em (IMCI) tại TP HCM, nhưng khi về lại đòa
phương, điều đó khó thực hiện bởi vì phải theo quy đònh y tế trong
ngành và theo phong tục tập quán, phải làm những gì người mẹ mong
mỏi và một phần cũng do các dụng cụ CSRTSS đã có sẵn và bán cho
người mẹ khi xuất viện về nhà cùng trẻ. NVYT cho rằng cách CSRTSS
vẫn như từ trước đến giờ, chưa ai góp ý là cần sửa chữa (7/20), điều
dưỡng ai cũng biết và thực hiện mỗi ngày (20/20), do đó không cần huấn
luyện, không cần thiết học thêm (17/20). Nhưng cũng có ý kiến tỏ ra
thắc mắc: và nghó là CSRTSS đã có thay đổi (12/20).
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯNG
4.1.1 Đặc điểm dân số xã hội của người mẹïï và trẻ
Do cách chọn mẫu toàn thể với 22 khu vực điều tra được phân phối
trên toàn diện tích huyện Cần Giờ, 265 trẻ có tỷ lệ của trẻ nam và nữ
dưới 4 tháng được phân bố khá đều (51,7%% và 48,3%%) nói lên tính
đại diện của mẫu. Phỏng vấn 265 người mẹ có kết quả sau: tuổi mẹ trên
25 tuổi (58,87%), tuổi trung bình của mẹ: 27 tuổi, nội trợ tức thất nghiệp
là chủ yếu (59,62%), học vấn trình độ cấp 1 chiếm đa số (58,1%). Kinh
đến sinh lý rụng rốn bình thường nếu chất liệu được bôi không phù hợp
và thậm chí còn có hại cho sức khỏe của trẻ, làm tần suất NKR gia tăng.
Thái độ đúng chiếm tỷ lệ 69,43%.
Nghiên cứu tại Quận 8 cho thấy kết quả tương tự và vẫn còn số ít
người mẹïï thích dùng thuốc xỉa, phân bò bôi lên rốn trẻ với mong muốn
rốn trẻ mau khô ráo.
4.1.4 Thực hành của người mẹïï về chăm sóc rốn sơ sinh
Các thực hành chưa đúng liên quan đến việc băng rốn và bôi rốn.
Trong nhóm thực hành chưa đúng với việc băng rốn, ghi nhận thêm:
17
23,8% trẻ được băng rốn từ 31 ngày trở lên, 49,1% trẻ được băng rốn ở
bất kỳ thời điểm nào(rốn rụng cũng như chưa rụng), 84,2% trẻ được
băng rốn bất kể ở đâu (lúc ở nhà cũng như lúc đi ra ngoài). Khi rốn tiết
dòch sinh lý, chất liệu thường được người mẹïï bôi rốn trẻ là: cồn, dầu
nóng. Khi rốn đã rụng, chất liệu thường được người mẹïï bôi rốn trẻ là:
iode, dầu nóng, cồn, oxy già, bên cạnh đó một số chất liệu khác cũng
được sử dụng là: tiêu sọ xay nhuyễn, dầu nóng, thuốc gia truyền. Điều
này cho thấy vẫn còn những thực hành chưa đúng đã tồn tại thật lâu dài
trong dân gian ảnh hưởng sâu sắc đến nếp nghó, thực hành của người mẹï.
Việc băng rốn gần như là một việc nhằm để “bảo vệ“ con mình. Nhưng
chính việc băng rốn đãõ che khuất cặp mắt quan sát của người mẹïï, chậm
phát hiện những dấu hiệu sớm của NKR nơi trẻ vàø băng rốn khi rốn chưa
rụng cũng là một yếu tố thuận lợi để nhiễm khuẩn dễ xảy ra. Việc rửa rốn
bằng những dung dòch không rõ nguồn gốc, không hợp vệ sinh sẽ càng làm
rốn trẻ dễ nhiễm khuẩn và việc bôi rắc các dung dòch không an toàn (tiêu
xay nhuyễn, thuốc xỉa, thuốc lá) càng ảnh hưởng tai hại đến sức khỏe trẻ.
Thực hành đúng chiếm tỷ lệ 33,21%.
Nghiên cứu tại Quận 8, cho thấy cũng còn tồn tại những sai lầm trong
thực hành liên quan đến việc băng rốn, bôi rốn và rửa rốn như ở Cần Giờ.
không xét đến mối liên quan này.
4.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
4.2.1 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến thực hành CSRTSS
Ba nhóm nguyên nhân chính ảnh hưởng thực hành CSRTSS của người mẹ:
4.2.1.1 Nguyên nhân thuộc về nhân viên y tế
Bác só, điều dưỡng, nữ hộ sinh cũng khuyên băng rốn. Bác só, điều
dưỡng hướng dẫn bôi thuốc. Do người mẹ rất tin tưởng vào NVYT do đó
người mẹ chỉ thực hiện những gì bác só, điều dưỡng, nữ hộ sinh đã hướng
dẫn, khuyên bảo. Nghiên cứu của Trotter S cho thấy: dù ở các nước phát
triển, tại Châu u, người mẹ nhận được thông tin từ NVYT (chủ yếu là
NHS) cũng chỉ hơn 50%, số còn lại là nhận từ phía gia đình. Theo Obimbo
E, Musoke RN, Were F. thì người mẹ Narobi (Kenya) nhận thông tin từ
NVYT mà hơn 50% thông tin đã lạc hậu, nhưng người mẹ đặt niềm tin vào
NVYT gần như tuyệt đối. Vai trò của NVYT thật sự quan trọng, tiếng nói
19
của NVYT luôn được người mẹ tin tưởng cho dù tại những quốc gia đang
phát triển hay phát triển. Nghiên cứu từ Đại học Maryland của Greg Juhn,
David R. Eltz, Kelli A, Daniel Rauch ghi nhận vai trò quan trọng của
NVYT trong việc cung cấp thông tin cần thiết cho người mẹ về CSRTSS
sau khi xuất viện. Nghiên cứu của Sangkae Chamnanvanakij, Kesanee
Decharachakul, Phonphat Rasamimaree, Nirun Vanprapar trình bày thêm
một hoạt động của các NVYT: đến tận nhà theo dõi diễn tiến lành rốn của
trẻ, cung cấp thêm các thông tin về CSRTSS đúng cho người mẹ.
4.2.1.2 Nguyên nhân thuộc về các người thân trong gia đình
Những người mẹ đã CSRTSS như thế vì phải tuân theo truyền thống
gia đình, mẹ dạy con nghe, người mẹ không thể có ý kiến khác với mẹ
chồng khi cả hai mẹ con còn đang ở tại nhà của mẹ chồng và người mẹ
cũng yên tâm vì làm theo tậïp quán xã hội từ lâu đời nay như việc rắc tiêu
đen xay nhuyễn vào rốn trẻ cho ấm bụng. Trong y văn đã nhắc đến các
cơ hội tiếp xúc. Nếu không được chia sẻ thông tin, các người mẹ sẽ tự
làm theo truyền thống, bất kể đúng sai.
4.2.2 Điều người mẹ mong mỏi về chăm sóc rốn trẻ sơ sinh
Khi đi khám thai, khi sinh con, lúc còn nằm trong BV, người mẹ rất mong
được các NVYT hương dẫn cách chăm sóc con và CSRTSS. Nhưng thường người
mẹ cũng không nhìn thấy các thao tác mà NVYT thực hiện để học tập thực hành
khi về nhà. Trong tháng đầu tiên, người mẹ mong ước khi có những thắc mắc thì
được gặp NVYT để hỏi cũng như được chia sẻ các kinh nghiệm khi nuôi và chăm
sóc con, nhất là khi đưa con đi chích ngừa. Người mẹ mong có sách viết dễ
hiểu, ít chữ nhiều hình về CSRTSS cũng như có những chương trình trên
truyền hình hướng dẫn cách CSRTSS. Nhìn chung người mẹ đều rất thiết
tha với việc nâng cao kiến thức, rất cần sự giúp đỡ của NVYT.
4.2.3 Tóm tắt kiến thức của nhân viên y tế về CSRTSS
Đa số các NVYT ủng hộ cho việc băng rốn. Lý do băng rốn được các
NVYT nêu ra đó là chiều theo tâm lý cha mẹ, vả lại băng rốn thì điều dưỡng
cũng yên tâm để rốn không dính nước tiểu, tránh nhiễm khuẩn, và do đó sẽ
không thêm công việc cho NVYT. Băng rốn sẽ tránh cho trẻ không bò đau
bụng, không lạnh bụng, tránh lồi rốn, băng rốn là hợp lý. Rất ít NVYT không
đồng tình việc băng rốn trẻ vì muốn rốn trẻ được quan sát tốt. Tất cả NVYT
đều đồng ý cần rửa rốn với lý do sợ NKR nếu không rửa rốn hằng ngày,
21
sẽ bò thân nhân cho là lười biếng. Rửa rốn cho đến khi rụng rốn, rốn khô,
rốn lành hẳn. Hầu hết các NVYT khẳng đònh là cần không bôi rốn. Nhưng
có một số ít NVYT đồng ý bôi rốn khi rốn nhiễm khuẩn bằng Milian hay
Eosin, đốt điện, chấm Nitrate bạc hay dùng kem bôi Silverdine sau khi đốt
chồi. NVYT cho rằng việc CSRTSS gồm băng, rửa và bôi rốn dù không
đúng hoàn toàn nhưng NVYT vẫn thực hiện chiều theo tâm lý các người
thân trong gia đình trẻ. Theo nghiên cứu của Obimbo E, Musoke RN,
Were F, 50% NVYT có KT chăm sóc rốn chưa đúng theo chuẩn mực thế
thức theo khuyến cáo của TCYTTG. Theo Obimbo E, Musoke RN,
Were F, KT của đa số NVYT không đúng và lạc hậu. KT chưa đúng
theo chuẩn mực thế giới về các chăm sóc rốn chiếm 50% trong các sách
dạy cho điều dưỡng ở Kenya cho thấy sự lạc hậu kéo dài chưa chuyển
biến, mặc dù thông tin kiến thức giờ đây đã được quảng bá sâu rộng. Tác
giả Trotter S cũng đề nghò: “Cập nhật cách chăm sóc rốn, sử dụng các
chứng cứ y học dựa trên các nghiên cứu, là cách tốt nhất để các NHS
thực hiện việc chăm sóc rốn ở mọi quốc gia. Chỉ có cách này mới có thể
hướng dẫn các người mẹ chăm sóc con họ một cách an toàn nhất.” Hay
như trong tài liệu của Weathers L, Takagishi J, Rodriguez L, cách chăm
sóc rốn sạch giờ đã thay đổi và cần cập nhật thường xuyên cho NVYT,
người trực tiếp hướng dẫn các người mẹ.
Các NVYT dù đã được huấn luyện, tập huấn về cách CSRTSS theo
chương trình xử trí lồng ghép bệnh trẻ em. Nhưng khi về đòa phương cũng
thấy không thể thực hiện, vì phải theo các công việc đã là nề nếp từ trước
đến giờ và cũng phải theo những phong tục tập quán về CSRTSS của các
người mẹ tại đây. Do đó những thay đổi trong CSRTSS nếu muốn thực
hiện, phải trở thành quy đònh thống nhất từ trung ương. Bộ Y tế nên sớm
có việc thống nhất về CSRTSS. Các NVYT trực tiếp chăm sóc trẻ sơ sinh
nên luôn được cập nhật kiến thức. Về nhu cầu huấn luyện cho NVYT về
CSRTSS thì hầu hết NVYT (17/20) cho rằng không cần thiết phải huấn
luyện gì thêm. Nhưng cũng xuất hiện sự thắc mắc ở hơn phân nửa các
NVYT, vì nghó CSRTSS đã có thay đổi.