BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y NGUYỄN VĂN KÍNH
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI DI TRUYỀN TẾ BÀO
Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HOÁ
ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG
131
I
Chuyên ngành : Y học hạt nhân
Mã số : 62 72 80 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Xuân Phách, Phạm Minh Bảo … (1999),
“Chẩn đoán nhanh tình trạng chức năng tuyến giáp bằng hình ảnh chụp
mạch tuyến giáp”, Tạp chí Y học Việt Nam, 238 + 239 (8,9), tr.67.
2. Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Xuân Phách, Phạm Minh Bảo… (1999),
“Chẩn đoán phân biệt nhân lành và nhân ác tính ở tuyến giáp bằng chụp
mạch tuyến giáp”, Tạp chí Y học Việt Nam, 238 + 239 (8,9), tr.65.
3. Kinh Nguyen Van, Phach Nguyen Xuan (2002), “Computer Aided
Radionuclide Angiography for diagnosis of thyroid function and nodule
states”, Annual General Meeting of ARCCNM at Dalian, China, pp. 39.
4. Nguyễn Văn Kính, Phan Sỹ An, Trương Quang Xuân, Phùng Như
Toàn & CS. (2007), “Đánh giá ảnh hưởng của bức xạ ion hoá lên
thai nhi ở những thai phụ ung thư tuyến giáp thể biệt hoá đã điều trị
131
I”, Tạp chí Y học thực hành, Bộ Y Tế, 581+582(10), tr. 20 - 23.
5. Kinh Nguyen Van, An Phan Sy, Xuan Truong Quang (2007),
“Efficacy of 1100 MBq and 3700 MBq
131
I doses for thyroid remnant
ablation in post- thyroidectomy differentiated thyroid cancer patients”,
W. J. of nucl. Med., (6), pp. 30.
6. Kinh Nguyen Van, Phach Nguyen Xuan, Xuan Truong Quang
(2007), “Chromosomal damage after Iodine-131 treatment for
differentiated thyroid cancer: in vivo dose- effect relationship”, W. J. of
Nucl. Med., (6), pp. 84.
triển ngày càng rộng rãi. Đặc biệt là trong y học, các đồng vị phóng xạ
đã được sử dụng có hiệu quả để chẩn đoán và điều trị bệnh. Dược chất
phóng xạ
131
I đã được dùng để điều trị bệnh Basedow, ung thư tuyến
giáp thể biệt hóa từ năm 1942, phương pháp này tương đối đơn giản, dễ
thực hiện, hiệu quả điều trị cao.
Bên cạnh đó,
131
I cũng làm tổn thương ADN, ion hóa các phân tử,
ức chế hoặc làm chậm quá trình phân chia tế bào, gây chết tế bào. Việc
nghiên cứu những tổn thương gen do phóng xạ gây ra đã được nhiều
nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Các tác giả đã tiến hành nghiên
cứu tổn thương ADN bằng phân tích biến loạn nhiễm sắc thể ở máu
ngoại vi của bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau điều trị
131
I,
đồng thời đánh giá khả năng sinh sản và nguy cơ bệnh di truyền tới trẻ
sơ sinh của những thai phụ ung thư tuyến giáp có tiền sử điều trị
131
I.
Sở dĩ như vậy vì tế bào lympho máu ngoại vi có số lượng lớn, đời sống
dài, phân bố khắp cơ thể và tồn tại ở phase G
o
không phân chia nên
chúng có thể tích lũy, lưu giữ lại những tổn thương nhiễm sắc thể do
bức xạ ion hóa tác động. Cũng nhờ đặc điểm này mà hiệu ứng biến loạn
nhiễm sắc thể ở tế bào lympho máu ngoại vi được coi là “dấu ấn sinh
học” trong định lượng liều chiếu, lượng giá mức độ tổn thương phóng
xạ trong lâm sàng nhằm làm cơ sở xác định thờ
1.1. Xác định tần suất biến loạn cấu trúc nhiễm sắc thể ở máu
ngoại vi của bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau điều trị
131
I.
1.2. Nghiên cứu động học của các biến loạn nhiễm sắc thể trong cơ
thể bệnh nhân qua một số chỉ tiêu: thời gian bán biến, thời gian bán hồi
phục của các biến loạn nhiễm sắc thể, đặc biệt là các nhiễm sắc thể
không bền để tiên lượng về an toàn bức xạ sau điều trị bằng
131
I.
1.3. Khảo sát tần suất biến loạn nhiễm sắc thể ở máu ngoại vi và tế
bào dịch ối của thai phụ có sử dụng
131
I liều cao trong điều trị ung thư
tuyến giáp thể biệt hoá.
2. Những đóng góp mới của luận án:
- Làm rõ mức độ ảnh hưởng của
131
I liều từ 1,11 đến ≥ 22,6GBq
gây tăng tần suất biến loạn nhiễm sắc thể ở bệnh nhân ung thư tuyến
giáp thể biệt hoá, nhưng không làm tăng thêm kiểu biến loạn nhiễm sắc
thể. Từ tần suất biến loạn nhiễm sắc thể có thể tính được liều chiếu sinh
học tương đương, đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh phóng x
ạ.
- Xác định được thời gian bán biến, bán hồi phục biến loạn nhiễm
sắc thể sau điều trị, là những chỉ số có giá trị cho các nhà lâm sàng xác
định khoảng thời gian giữa những lần điều trị tiếp theo, khoảng thời
gian cần thiết để bệnh nhân nữ sau điều trị
131
I có thể mang thai. Thời Nhóm thai phụ có 47 người.
- 22 thai phụ có tiền sử điều trị
131
I liều cao, đang mang thai từ tuần
tuổi thứ 17 đến 20 tại thời điểm nghiên cứu, tuổi từ 22 đến 47, không có
tiền sử bị chiếu xạ ngoài, không hút thuốc lá, không nghiện rượu. Đã
khảo sát được 2775 metapha ở tế bào máu ngoại vi và 590 metapha tế
bào dịch ối.
127 bệnh nhân
UTTG
đã phẫu thuật
63 b/n điều trị lần1
liều: 1,11GBq, phân
tích 29843 metapha
34 b/n điều trị lần1
liều: 3,70GBq, phân
tích 16441 metapha
32 b/n điều trị lần 2
liều:3,7GBq, phân
tích 18178 metapha
31 b/n điều trị lần 2
liều:5,55GBq, phân
tích 16736 metapha
30 b/n (9225met.)
điều trị nhiều lần
liều ≥22,22 GBq
ngày, 90 ngày, 180 ngày để khảo sát tần suất biến loạn NST, tỉ lệ tổn
thương, tỉ lệ hồi phục và tính thời gian bán biến, thời gian bán hồi phục
của tổn thương NST ứng vớ
i từng liều điều trị. Liều hấp thụ tương
đương. Vị trí lấy máu: tĩnh mạch cánh tay; thể tích máu: 2 ml.
* Nhóm thai phụ:
Lấy 2ml máu ở tĩnh mạch cánh tay và 10 ml dịch ối từ túi ối bao
quanh thai ở tuần tuổi từ 17 đến 20 của thai kỳ. Trước khi lấy dịch ối đã
giải thích cho thai phụ và ký cam kết, vì nguy cơ có thể sẩy thai tự
nhiên do chọc ối theo một số tác giả
khoảng 0,5%.
5
* Phương pháp xử lý mẫu:
Colcemid được cho vào mẫu cấy máu tại giờ thứ 46 với nồng độ
0,16µg/1ml môi trường để kìm hãm quá trình phân bào dừng phân chia
tại kỳ giữa. Các mẫu thu hoạch đồng loạt vào giờ thứ 48.
* Phương pháp đọc tiêu bản:
Các cụm NST được đọc lần lượt ngẫu nhiên theo cách quét zizắc.
Khảo sát 100 metapha / một mẫu với các chỉ tiêu dùng để phân tích gồm:
- Đếm số NST trong cụm metapha, sau đó xác định: lo
ại biến loạn
hai tâm, ba tâm, vòng, mảnh, minut, đứt nhánh vai q hoặc vai p theo
tiêu chuẩn IAEA.
- Tính số metapha có biến loạn dic, tri, mảnh, mi, đứt vai q hoặc p.
- Tính số metapha không có tổn thương trong tổng số 100 metapha
được phân tích.
- Phân tích đánh giá tần suất chung những loại biến loạn.
- Theo IAEA, khi xử lý số liệu chúng tôi phân thành 3 nhóm biến
loạn: dic + r, fr + mi và đứt nhánh vai q + p (NST 3 tâm được tính
tương đương với 2 dic, vòng khuyên tương đương 1dic, minút tương
Số metapha khảo sát
Tần suất BLNST ở những mẫu nghiên cứu sau điều trị bằng
131
I
được tính theo công thức:
Số biến loạn NST sau điều trị
Tần suất BLNST (%) = (x100)
Số metapha khảo sát
2.3.2. Tính thời gian bán biến (disappearance halftime - DH)
Tìm phương trình hồi quy tuyến tính của các biến loạn NST và từ
đó tính ra thời gian bán biến của từng loại hình biến loạn NST.
2.3.3. Tính liều hấp thụ (Gy)
Dựa vào tần suất biến loạn NST không bền ở thời điểm cao nhất để
tính liều hấp thụ vào cơ thể tương đương liều chiếu ngoài theo công thức
của Lloyd, IAEA (1986, 2001): Y = 0,001 + 0,0164D + 0,0493D
2
2.3.4. Xác định tỉ lệ tổn thương (damage ratio-DR) và tỉ lệ hồi phục
(recovery ratio - RR)
Dựa theo công thức của Taner Erselcan, Selma Sungu (2004):
DR (%) = (1- TT
0
/TT
1
) x 100
RR (%) = [1 - (TT
6
- TT
Liều điều trị
131
I. (GBq)
n
Giới tính
Tuổi
Thể ung thư
Nữ Nam Nhú Nang
1,11 63 55 8 40,0 ± 13,8 58 5
3,70 34 30 4 41,6 ± 14,0 32 2
1,11+ 3,70 32 30 2 34,2 ± 11,8 30 2
1,11+ 5,55 31 25 6 46,8 ± 11,8 28 3
≥ 22,20 30 19 11 55,6 ± 15,8 23 7
3.2. TẦN SUẤT BIẾN LOẠN NHIỄM SẮC THỂ Ở TẾ BÀO LYMPHO
MÁU NGOẠI VI BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP
3.2.1 Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể ngay trước điều trị
131
I lần đầu
Phân tích 9506 metapha của 92 bệnh nhân UTTG ngay trước điều trị ghi
được: dic + r = 0,19 ± 0,06%, fr + mi = 0,32 ± 0,09 và q + p = 0,28 ± 0,1%.
3.2.2 Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể sau điều trị
131
I liều 1,11GBq
Đã phân tích được 29843 metapha nhuộm giêmsa theo phương pháp
thường quy ở 5 thời điểm lấy mẫu: ngay trước điều trị lần đầu “0”, sau
8
điều trị 3 ngày, 7 ngày, 90 ngày và 180 ngày. Tần suất 3 loại biến loạn
NST: dic + r, fr + mi, q + p đều cao hơn trước điều trị (p< 0,01), đạt
1,69 ± 0,22
(1,26 ÷ 2,12)
7 57 5716
2,15 ± 0,32
(1,52 ÷ 2,78)
3,56 ± 0,46
(2,6 ÷ 4,46)
1,43 ± 0,24
(0,96 ÷ 1,90)
90 57 6120
1,55 ± 0,20
(1,16 ÷ 1,94)
2,33 ± 0,33
(1,7 ÷ 2,98)
0,83 ± 0,17
(0,49 ÷ 1,16)
180 57 5932
0,76 ± 0,22
(0,32 ÷ 1,19)
1,71 ± 0,28
(1,1 ÷ 2,26)
0,61 ± 0,14
(0,33 ÷ 0,88)
(0,11 ÷ 0,7)
3 32 3160
2,41 ± 0,49
(1,45 ÷ 3,37)
4,51 ± 0,49
(3,55 ÷ 5,74)
1,05 ± 0,28
(0,5 ÷ 1,60)
7 33 3162
2,16 ± 0,36
(1,45 ÷ 2,86)
3,85 ± 0,54
(2,79 ÷ 4,9)
1,13 ± 0,53
(0 ÷ 2,17)
90 33 3580
1,86 ± 0,27
(1,33 ÷ 2,39)
3,51 ± 0,49
(2,55 ÷ 4,47)
0,84 ± 0,22
(0,4 ÷ 1,27)
180 32 3139
0,89 ± 0,24
(0,42 ÷ 1,36)
2,12 ± 0,45
(1,24 ÷ 3,0)
0,33 ± 0,13
(0,07÷ 0,58)
Biến loạn NST dic + r và fr + mi đạt đỉnh cao 2,41% và 4,51%, sau
(0,08÷ 1,18)
7 29 2817
1,69 ± 0,43
(0,85 ÷ 2,53)
2,6 ± 0,62
(1,38÷ 3,81)
0,3 ± 0,11
(0,08÷ 0,52)
90 31 3145
1,23 ± 0,16
(0,92 ÷ 1,54)
2,27 ± 0,38
(1,53÷3,01)
0,35 ± 0,12
(0,11÷ 0,59)
180 26 2600
1,07 ± 0,14
(0,8 ÷ 1,34)
1,92 ± 0,42
(1,1 ÷ 2,74)
0,15 ± 0,07
(0,01÷0,29)
3.2.5 Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể sau 2 lần điều trị tổng liều
6,66GBq
10
Bảng 3.5.Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể điều trị tổng liều 6,66 GBq
Thời
gian
n
Số
90 31
3145 1,23 ± 0,16
(0,92 ÷ 1,54)
2,27 ± 0,38
(1,53÷3,01)
0,35 ± 0,12
(0,11÷ 0,59)
180 26
2600 1,07 ± 0,14
(0,8 ÷ 1,34)
1,92 ± 0,42
(1,1 ÷ 2,74)
0,15 ± 0,07
(0,01 ÷ 0,29)
Tần suất biến loạn NST sau điều trị liều tích luỹ 6,66GBq tương
tự nhóm 4,81GBq. Cao nhất ở ngày thứ 3: dic + r = 2,32 ± 0,36%, fr
+ mi = 3,81 ± 0,63%, q + p = 0,97 ± 0,25%, sau đó giảm dần, đến
ngày 180 giảm: dic + r = 1,29 ± 0,30%, fr + mi = 2,23 ± 0,37% và
q + p = 0,40 ± 0,22%.
3.2.6 Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể sau điều trị nhiều lần tổng liều
≥ 22,20GBq
131
I
Tần suất biến loạn NST tích lũy từ những lần điều trị trước là rất cao:
dic + r = 4,75 ± 0,82 %, fr + mi = 6,30 ± 1,05%, q + p = 0,65 ± 0,24%.
131
I (damage ratio - DR)
+ Nhóm điều trị liều 1,11GBq: DR của các loại biến loạn NST ở ngày
thứ ba sau điều trị: dic + r = 91,93 %; fr + mi = 89,31% và q + p = 76,33% .
+ Nhóm điều trị liều 3,70 GBq: Tỉ lệ tổn thương của dic + r =
92,53%, fr + mi = 89,31% và p + q = 76,33%.
+ Nhóm điều trị 2 lần tổng liều 4,81GBq: Tỉ lệ tổn thương của biến
loạn dic + r = 92,03%, fr + mi = 88,69%, p + q = 36,5%.
+ Nhóm điều trị 2 lần tổng liều 6,66GBq: DR không có gì khác so với
tổng liều 4,81GBq. dic + r = 92,24%, fr + mi = 89,76% và p + q = 58,76%.
+ Nhóm điều trị nhiều lần tổng liều ≥ 22,20 GBq ( ≥ 600 mCi):
Có DR dic + r = 97,23%, fr + mi = 95,85% và q + p = 70,37%.
12
3.4. TỶ LỆ HỒI PHỤC SAU ĐIỀU TRỊ
131
I (recovery ratio - RR)
Tỷ lệ hồi phục được tính vào ngày thứ 180, tức là 6 tháng sau điều trị.
Bảng 3.11. Tỉ lệ hồi phục ứng với các liều điều trị
131
I sau 180 ngày
Thứ
tự
n
Liều điều trị
(GBq)
dic + r
(%)
fr + mi (%)
p + q
(%)
là 137 ngày. Với biến loạn NST fr + mi, p + q, đường hổi quy cũng có
dạng tương tự, và thời gian bán biến tương ứng là 158 ngày, 123 ngày.
3.5.2. Sau điều trị liều 3,70GBq (100 mCi)
Đồ thị 3.10: Hồi quy tuyến tính dic +r sau điều trị 3,70GBq (R
2
=0,95).
Thời gian bán biến của dic + r =151 ngày. Theo phương pháp này,
tính được thời gian bán biến của fr + mi = 178 ngày và p + q = 145 ngày.
3.5.3. Sau 2 lần điều trị tổng liều tích luỹ 4,81GBq (30+ 100 mCi)
131
I
Thời gian bán biến của dic + r = 148 ngày, fr + mi = 197 ngày,
q + p = 94 ngày.
3.5.4. Sau 2 lần điều trị tổng liều tích luỹ 6,66GBq (30+150 mCi)
131
I
Từ phương trình hồi quy của các kiểu biến loạn NST sau 2 lần
điều trị tính được DH của dic + r = 181 ngày, fr + mi = 221 ngày và
q + p = 151 ngày.
3.5.5. Sau nhiều lần điều trị tổng liều ≥ 22,20GBq
DH sau nhiều lần điều trị liều từ 22,20 đến 65,86 GBq của các kiểu
biến loạn dic + r = 452, fr + mi = 305 và q + p là 98 ngày.
Nếu coi biến loạn NST dic + r và fr + mi là chính, chúng ta có bảng
tổng hợp thời gian bán biến của 5 nhóm bệnh nhân như ở b
ảng 3.14.
Bảng 3.14. Thời gian bán biến ứng với liều điều trị
Thứ tự Liều điều trị (GBq) dic + r (ngày) fr + mi (ngày)
1 1,11 137 158
2 3,70 151 178
lâu hơn đến 141 ngày, trong khi đó chỉ 74 ngày là biến loạn q + p đã
hồi phục được 50%.
3.6.2. Sau điều trị liều 3,70 GBq (100mCi)
Biến loạn NST kiểu dic + r mất khoảng 139 ngày, kiểu fr + mi cần
176 ngày, biến loạn q + p cần 100 ngày để hồi phục được 50%.
15
3.6.3. Sau 2 lần điều trị tổng liều 4,81GBq (30 + 100 mCi)
Phương trình hồi quy tuyến tính thuận để tính thời gian bán hồi phục của
những biến loạn nhiễm sắc thể ở nhóm bệnh nhân được điều trị lặp lại liều
3,70 GBq
131
I ứng với dic + r = 123 ngày, fr + mi = 180 và q + p = 43 ngày.
Đồ thị 3.16. Hồi quy bán hồi phục fr+mi (r = 1,00, R
2
=1,00)
3.6.4. Sau 2 lần điều trị tổng liều 6,66GBq (30+150 mCi):
Biến loạn kiểu dic + r có thời gian bán hồi phục 170 ngày. Thời
gian bán hồi phục của fr + mi = 203 ngày và của q + p là 83 ngày.
3.6.5. Sau nhiều lần điều trị tổng liều ≥ 22,20 GBq (≥ 600 mCi)
Thời gian bán hồi phục biến loạn NST dic + r = 622 ngày, kiểu fr + mi
VÀ TẾ BÀO DỊCH ỐI CỦA THAI PHỤ
3.7.1 Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể ở máu ngoại vi nhóm thai phụ
Chúng tôi đã phân tích 4700 metapha ở tế bào lympho máu ngoại
vi nhuộm thường quy để khảo sát tần suất biến loạn NST không bền
(NST đa tâm, mảnh không tâm, vòng, hai chấm, đứt nhánh vai q, vai p)
và 1175 metapha tế bào máu, 1215 metapha ối nhuộm bă
ng G để phân
tích biến loạn NST bền (chuyển đoạn, đảo đoạn, mất đoạn…) tại thời
điểm khảo sát ở tuần tuổi thứ 17 đến 20 thai kỳ của 22 thai phụ đã điều
trị thành công với
131
I liều cao và 25 thai phụ đối chứng không bị chiếu
xạ hoặc điều trị bằng phóng xạ.
3.7.1.1 Tần suất biến loạn nhiễm sắc thể không bền
Bảng 3.21. Biến loạn nhiễm sắc thể ở máu ngoại vi nhóm thai phụ
Nhóm n metapha dic + r fr + mi q + p
Chứng
25
(1)
2500
0,24 ± 0,05
0,15 ÷ 0,33
0,80 ± 0,21
0,44 ÷ 1,16
1,03 ± 0,23
0,64 ÷ 1,42
131
I
22
(2)
Hình 3.6. Nhiễm sắc thể số 1 dịch ối khuyết vai q
3.7.3 Khả năng sinh sản và tình trạng sức khoẻ trẻ sơ sinh của nhóm
bệnh nhân nữ đã sử dụng
131
I liều cao điều trị ung thư tuyến giáp
Khảo sát 477 bệnh nhân nữ còn trong độ tuổi sinh sản đã sử dụng
131
I liều cao điều trị UTTG, không có trường hợp bị sinh non, thai lưu
hoặc bị xẩy thai và đã ghi nhận được 22 trường hợp có thai bình
thường. Trẻ sơ sinh của nhóm này phát triển trí tuệ và trọng lượng lúc
sinh bình thường tương đương với nhóm trẻ đối chứng như ở bảng 3.24.
18
Bảng 3.24. Tình trạng sức khoẻ trẻ sơ sinh
Nhóm
n
Giới tính Trọng lượng
(kg)
TSH
(µUI/ml )
G
6
pd
(UI/gHb)
Nữ Nam
Chứng 25(1) 13 12 3,15 ± 0,28 5,15 ± 3,23 12,41 ± 6,35
131
I 22(2) 13 9 3,19 ± 0,45 4,86 ± 2,89 11,03 ± 3,42
p
của tất cả các nhóm đều cao hơn so với trước
điều trị (p<0,01) và cao
nhất ở ngày thứ 3 sau điều trị. Sau đó tần suất biến loạn NST bắt đầu
giảm dần theo thời gian. Điều này chứng tỏ
131
I phóng xạ chỉ làm tăng
tần suất tổn thương NST chứ không làm xuất hiện thêm kiểu biến loạn
NST mới. Biến loạn NST kiểu hai tâm động và vòng có giá trị trong
đánh giá liều sinh học.
Biến loạn NST của nhóm bệnh nhân được điều trị liều tích lũy từ
4,81GBq, 6,66GBq đều tương tự như những nhóm điều trị liều đơn.
Tần suất biến loạn NST loạ
i dic + r và fr + mi sau 180 ngày điều trị của
liều tích lũy 4,81GBq và 6,66GBq cao hơn so với tần suất biến loạn
19
NST liều đơn. Có thể những bệnh nhân điều trị với liều tích lũy cao trên
lâm sàng đã xuất hiện di căn hoặc xuất hiện tái phát, một số yếu tố miễn
dịch bị suy giảm, do đó khả năng hồi phục tổn thương chậm và những ổ
di căn bắt xạ nhiều hơn nên gây tổn thương cũng trầm trọng hơn. Đến
180 ngày sau điều trị hai kiểu biến loạn NST ứng với hai liều điều trị
tích lũy là 1,07 ± 0,14; 1,92 ± 0,42% và 1,29 ± 0,30; 2,23 ± 0,37%, chỉ
có kiểu đứt nhánh vai q + p giảm nhanh.
Sau điều trị liều tích lũy từ 22,20 đến 65,86GBq, số lượng biến
loạn NST kiểu 3 tâm nhiều hơn so với những nhóm bệnh nhân điều trị
liều thấp. Ở tất cả các thời điểm khảo sát, tỉ l
ệ tổn thương NST ở tế bào
lympho máu ngoại vi rất cao. Sau 180 ngày điều trị tần suất biến loạn
NST của các kiểu dic + r, fr + mi vẫn đạt mức cao tương ứng là 5,06 ±
1,57; 5,89 ± 2,0%. Có thể thấy khi liều tích luỹ vượt quá 22,20GBq, bắt
đầu có sự phụ thuộc rõ rệt hơn tần suất biến loạn NST vào liều. Với liều
xạ và mức độ trầm trọng bệnh phóng xạ do tai nạn hạt nhân gây ra.
Thời gian bán bi
ến của dic + r, fr + mi và q + p sau điều trị liều
1,11GBq và 3,70 GBq
131
I tương ứng với từng loại là 137, 158, 123
và 151, 178, 145 ngày. Nghĩa là sau những khoảng thời gian trên thì
biến loạn NST trong máu ngoại vi giảm một nửa.
Thời gian bán biến là một chỉ tiêu phụ thuộc vào liều điều trị tích
lũy. Liều điều trị tích lũy càng cao thì thời gian bán biến càng dài. Khi
điều trị tổng liều lớn (trên 37GBq -1000 mCi) cần phải cân nhắc thận
trọng đối với nhữ
ng bệnh nhân tuổi còn trẻ có nhu cầu sinh sản.
Thời gian bán biến giúp ta đánh giá những biến loạn NST tồn lưu
lâu dài trong cơ thể hay chỉ thoáng qua. Trong công trình nghiên cứu
này, căn cứ vào số lượng hơn 100 bệnh nhân dùng
131
I uống 1 lần và
uống nhiều lần, với các liều từ nhỏ nhất là 1,11GBq đến liều tích lũy
22,20GBq và hơn nữa, chúng tôi thấy thời gian bán biến của biến loạn
dic + r tương quan thuận với liều phóng xạ uống vào.
Thời gian bán hồi phục của biến loạn NST phụ thuộc vào liều điều
trị tích lũy. Mặc dù tần suất biến loạn NST của hai nhóm điề
u trị không
khác biệt nhau nhưng sự hồi phục tổn thương NST lại khác nhau ở thời
điểm 180 ngày sau điều trị. Nhóm điều trị tổng liều tích lũy 6,66 GBq
có thời gian bán hồi phục kéo dài hơn (p <0,05) so với nhóm điều trị
tổng liều 4,81GBq. Trong lâm sàng y học hạt nhân, khoảng thời gian
cho lần điều trị tiếp theo của bệnh nhân sau điều trị tổng liều 6,66GBq
(180mCi) phải từ 7 tháng trở lên, trong khi đó nhóm tổng liều 4,81GBq
đối chứng (p<0,01). Tần suất tổn thương không bền phụ thuộc vào
thời gian từ lần điều trị cuối đến lúc có thai. 10 trường hợp có thai sau
điều trị phóng xạ từ 3 đến 9 tháng, có tỉ lệ NST hai tâm từ 0,1 đến
0,2%, mảnh 0,1 đến 0,4%. 2 trường hợp điều trị liều 25,16 GBq sau 48
tháng có thai, tỉ lệ NST hai tâm tương đương với đối chứng. Khi
nhuộm giêmsa b
ằng kỹ thuật băng G, tần suất biến loạn bền (chuyển
đoạn, đảo đoạn, khuyết NST) ghi nhận được từ 8% đến 25%. Những
tổn thương này mang tính ngẫu nhiên, không tập trung vào một NST
nhất định, nên không ảnh hưởng đến kiểu hình.
Chúng tôi chỉ phân tích được cấu trúc nhiễm sắc thể ở tế bào dịch ối
của 21 thai phụ. Kết quả có 20 bộ NST không bị tổ
n thương. Có 1 thai
phụ (điều trị 7,66 GBq, sau 9 tháng có thai) ghi nhận 1/100 metapha