BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ V NGÀNH TÀI CHÍNH VI MÔ
Việt Nam
TháNg 7/2008
Do Mng lưi Ngân hàng phc v ngưi nghèo xut bn vi
s hp tác ca SEEP Network
Đưc tài tr bi Citi Foundation như mt hot đng ca
Chương trình Tăng cưng mng lưi ca Citi
2
Lời tựa
Báo cáo này được hoàn thành như một hoạt động của Ngân hàng với mạng lưới người
nghèo (BWTP Network) trong khuôn khổ chương trình Mở rộng Màng lưới Đô thị (Citi
Network Strengthening Program) phối hợp với SEEP Network do Citi Foundation tài trợ.
Citi Network Strengthening Program hỗ trợ chương trình đánh giá ngành tài chính vi mô
của một số nước và khu vực. Mục tiêu của việc đánh giá là nhằm cung cấp bức tranh tổng
quan về lĩnh vực tài chính vi mô nơi mà BWTP Network có hoạt động. Mục đích của
đánh
giá này không chỉ nhằm vào từng tổ chức tài chính riêng rẽ mà tập trung phân tích, đánh giá
về sự phát triển tổng thể của thị trường tài chính vi mô bằng việc phân tích cũng như mô tả
về tính chất. Mục đích của việc đánh giá là nhằm đưa ra triển vọng phát triển cho từng nền
tài chính vi mô, là nguồn lực có giá trị cho BWTP Network, các thành viên của BWTP và
rộng hơn nữa là cho cộng đồng tài chính vi mô.
Đánh giá về ngành tài chính vi mô
Việt Nam thực chất là đánh giá về lĩnh vực tài chính vi
mô tại Việt Nam, tạo thêm một đóng góp mới cho Trung tâm Nguồn lực Tài chính Vi mô
vực Châu Á của BWTP tại Foundation for Development Cooperation (FDC).
Báo cáo đánh giá về ngành tài chính vi mô Việt Nam là một xuất bản của BWTP về Ngân
hàng với Mạng lưới nguời nghèo, phối hợp cùng SEEP Network do Citi Foundation tài trợ.
Báo cáo này còn là kết quả của sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả giữa Bà Hansen với Bà
Diaz, đối tác trong nướ
c của BWTP Network, và các chủ thể khác liên quan đến lĩnh vực tài
chính vi mô tại Việt Nam, trong đó có Nhóm công tác tài chính vi mô, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam và nhóm M7. Thư ký BWTP mong muốn
gửi lời cám ơn chân thành tới tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan đã có đóng góp quan
trọng vào việc hoàn thành Báo cáo đánh giá này.
3
Mục Lục
CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
1. TỔNG QUAN VỀ VIỆT NAM 5
1.1 VN TRÍ ĐNA LÝ 5
1.2 DÂN SỐ VÀ NHÂN KHẨU HỌC 5
1.2.1 Nghèo đói 6
1.2.2 Lao động và việc làm 7
1.3 CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI 7
2. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC TÀI CHÍNH 8
2.1 CÁC CHỦ THỂ CHÍNH 9
2.2 DNCH VỤ CUNG CẤP TÍN DỤNG 11
2.3 DNCH VỤ TIẾT KIỆM 11
2.4 CÁC DNCH VỤ TÀI CHÍNH KHÁC 12
2.5 KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN VAY CỦA CÁC HỘ NGHÈO/HỘ CÓ THU NHẬP THẤP (BOP) 13
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFD Cơ quan Phát triển Quốc tế của Pháp
BOP Phân đoạn thị trường những người/hộ nghèo và có thu nhập thấp nhất
CCF Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương
CEP Qũy tạo việc làm cho người nghèo
CFRC Trung tâm Nguồn lực Tài chính Cộng đồng
CIC Trung tâm Thông tin Tín dụng NHNN
CPRGS Chiến lược phát triển và giảm nghèo tại các nước
DFID Cơ quan Phát triển Quốc tế của Anh (UK)
DIV Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
IFC Công ty Tài chính Quốc t
ế
GoVN Chính phủ Việt Nam
HEPR Chương trình xoá đói giảm nghèo
INGO Tổ chức phi Chính phủ quốc tế
JSCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
LIH Hộ gia đình có thu nhập thấp
LSS Điều tra, khảo sát các tiêu chuẩn sống
LPC Uỷ ban Nhân dân địa phương
LUC Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
MO Cơ quan thông tin đại chúng
MFI Tổ chức tài chính vi mô – được cấp giấy phép hoạt động, là các nhà cung
cấp dịch v
ụ tài chính bán chính thức.
MFO Tổ chức tài chính vi mô – Việt Nam là các nhà cung cấp không được cấp
Giấy phép hoạt động.
MFWG Nhóm công tác về tài chính vi mô
MSE Các doanh nghiệp nhỏ, cực nhỏ
OSS Tỷ lệ hoàn vốn (% chi phí trực tiếp được bù đắp bởi doanhthu)
PaR Danh mục đầu tư diện rủi ro (% danh mục được liệt vào diện quá hạn)
tỉnh ven biển.
Hai thành phố lớn nhất là Hồ Chí Minh (6
triệu dân), và Hà Nội (5 triệu dân). Cả nước có 59 tỉnh
thành và 5 thành phố trực thuộc Trung ương với tổng cộng
671 quận huyện, 10,876 phường xã
1
.
1.2 Dân số và nhân khẩu học
Năm 2008, Việt Nam có khoảng 86 triệu dân. Theo kết quả
khảo sát gần nhất về tiêu chuẩn sống (năm 2004), có khoảng 26% dân số ở độ tuổi dưới
14, 6% ở độ tuổi trên 65, vì thế dân số ở độ tuổi lao động và tạo thu thập (từ 15-64 tuổi)
chiếm tới 68.6% tổng dân số (khoảng 59 triệu dân), trong đó 50.8% là nữ
2
.
Bảng 1. Sỗ liệu về dân số và nhân khẩu học của Việt Nam, giai đoạn 2000-2008
Mật độ dân số Việt Nam được coi là thay đổi đáng kể. Thấp nhất ở khu vực miền núi phía
Bắc (68 người/km
2
), trong khi cao nhất tại hai khu vực đồng bằng, trong đó khu vực đồng
bằng sông Hồng khoảng 1.225 người/km
2
. Hầu hết người dân Việt Nam sống ở khu vực
nông thôn, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10 năm qua cho thấy đang có sự di
chuyển cơ học về dân số từ nông thôn về thành thị, với khoảng 72.5% dân số sống ở các
khu vực nông thôn hiện nay
3
Chỉ số phát triển nguồn nhân lực 0.733
Xếp loại phát triển nguồn nhân lực (out of 177)
105
Nguồn: Các chỉ số phát triển quốc tế (2008), Ngân hàng Phát triển Châu Á (2007), Báo cáo phát triển
nguồn nhân lực (2007); GSO: Niên giám thông kê 2007 của Việt Nam.
6
Dân tộc Kinh chiếm khoảng 86% tổng dân số, 14% còn lại thuộc về 53 nhóm dân tộc ít
người, trong đó chủ yếu là dân tộc Tày và dân tộc Mường
4
. Tuy nhiên, số dân tộc ít người
này vẫn chiếm một bình diện rất lớn trên bản đồ nghèo đói của Việt Nam.
1.2.1 Đói nghèo
Việt Nam là nước khá thành công trong thực hiện công cuộc xoá đói, giảm nghèo. Từ năm
1993 đến 2006, 42% dân số (khoảng 35 triệu dân) đã thoát khỏi cảnh đói nghèo), giảm tỷ lệ
số dân sống dưới chuẩn nghèo quốc gia từ 58% xuống còn 16%.
5
Đến cuối năm 2007, tỷ lệ
nghèo tiếp tục được giảm thấp xuống còn 14.2%, tuy đây là một tỷ lệ ấn tượng, song ở Việt
Nam vẫn có tới 12.3 triệu dân sống trong cảnh nghèo đói.
6Hầu hết các hộ có thu nhập thấp đều sống ở khu vực nông thôn; chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp và chăn nuôi gia cầm, có bán và tiêu thụ thì chủ yếu cũng chỉ là những sản phẩm dư
trong khi đó, làn sóng di cư từ khu vực nông thôn ra thành thị có xu hướng ngày càng tăng,
dự kiến ở mức 1 triệu người mỗi năm
9
.
Những lý do cơ bản dẫn đến thành công của Việt Nam trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo
đó chính là chính sách của Chính phủ trong việc chia đất cho hộ nông dân và hỗ trợ tích cực
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang kinh tế thị trường, tạo thêm công ăn việc
làm cho khu vực tư nhân, được xem là một phần của chính sách cải cách kinh tế từ năm
1986.
1
Mục tiêu mà Bộ Lao động Thương binh Xã hội đặt ra cho năm 2008 là tập trung phát
triển 53 huyện thị nơi có tỷ lệ người nghèo chiếm trên 50% dân số, nhằm giảm tỷ lệ hộ
nghèo cả nước xuống còn 12%
10
.
4
Asian Development Bank: Ethnic Minorities and Poverty Reduction, June 2002.
5
World Bank. Viet Nam Development Report 2008.
6
In 2006, the national poverty line was set at VND 260,000 (US $16) per month per person in urban areas and VND 200,000
(USD$12) per person per month in rural areas.
7
As microfinance is normally serving only one member of the household, but benefiting the entire family, the market size is
often given in number of households.
8
World Bank: Viet Nam Development Report, 2004: Poverty.
9
Bảng 2. Số liệu về thị trường lao động Việt Nam, giai đoạn 2000-2007
1.3 Các điều kiện kinh tế vĩ mô và kết quả thu được
Việt Nam đang duy trì được tốc độ tăng trưởng 8% năm thứ ba liên tiếp. Kết quả trên phụ
thuộc rất lớn vào hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ, là
các lĩnh vực có tỷ lệ tăng trưởng nằm ở mức từ 8.3% đến 10.4%. Kim ngạch xuất khẩu cũng
tăng mạnh, đóng góp 71% GDP năm 2005 so với 56% năm 2001. Khu vực tư
nhân tạo
thêm việc làm gấp 5 lần so với cùng kỳ năm trước. Nông nghiệp tăng trưởng chậm lại do
một số thiên tai như hạn hán ở miền Bắc, lũ lụt ở Miền Trung và khu vực sông Mê Kông,
dịch bệnh sâu bọ ở Miền Nam, song vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức
3.5%. Tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong tổng mức
đầu tư của nền kinh tế tăng
mạnh từ 23% năm 2001 lên trên 32% năm 2005
13
là minh chứng sống động của quá trình
vận hành và chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường.
Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện sau sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại Quốc tế (WTO) vào tháng 1/2007, nâng tổng mức đầu tư lên 40.4% GDP. Đầu
11
GSO: Statistical Year Book of Viet Nam, 2007.
12
GSO: Statistical Year Book of Viet Nam, 2007.
13
World Bank: Country Assistance Strategy, 2007-2011.
2000 2004 2005 2006 2007
Lực lượng lao động (GSO 2007)
9.5%
88.9%
1.6%
100%
9.2%
89.2%
1.6%
100%
9%
89.4%
1.6%
Thất nghiệp 0.9 triệu 0.9 triệu 1.1 triệu 1.2 triệu
Tỷ lệ thất nghiệp 2.3 2.1/5.6 2.1/5.3
Nguồn số liệu: Các chỉ số cơ bản của các nước đang phát triển khu vực Châu Á Thái Bình Dương, ADB,
2007; Triển vọng phát triển ADB; GSO: Niên giám thống kê Việt Nam, 2007.
8
tư trực tiếp nước ngoài tăng gần gấp đôi lên 20.3 tỷ USD, có thêm 59,000 doanh nghiệp
thuộc khu vực tư nhân đăng ký kinh doanh mới, tăng 26% so với năm 2006.
Bảng 3. Phát triển kinh tế vĩ mô
Tốc độ tăng trưởng cao và đều đặn qua các năm cũng góp phần thúc đẩy các hoạt động
đầu tư trên thị trường tín dụng và cổ phiếu cũng như thị trường tiêu dùng, đặc biệt đối với
các hàng hoá nhập khẩu. Năm 2007, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bộc lộ sự tăng trưởng
quá nóng. Sự bùng nổ của thị trường chứng khoán từ nửa đầu 2007
đã được kiềm chế bởi
sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bằng cách cấm cho vay kinh doanh chứng
khoán, nhưng làn sóng đầu tư lại hướng vào thị trường bất động sản, gây ra một sự tăng
giá chưa từng có từ trước đến nay. Là một nước xuất khẩu lương thực (gạo) lớn, đồng thời
chức tín dụng trong cả
14
Inflation rates are for the first six months of 2008.
15
World Bank: East Asia and Pacific Update – Testing Times Ahead, April 2008.
16
World Bank: Taking Stock, June 2008.
2004 2005 2006 2007E 2008 F
GDP, đơn vị tỷ USD $ (WDI/CS) 31.17 53.10 61.00 71.2 90.1
Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%) 7.8 8.4 8.2 8.5 7.5
Thu nhập GDP bình quân đầu người thực
tế (US$) (GSO) $401 $639 $723
$835 1,043
GNI đầu ngườil (đơn vị USD) $ 690
Tỷ lệ lạm phát, giảm phát (% hàng năm) 3.4 8.2 7.3 12.63 18.1
14
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng (US$
million) (WDI/CS) 1,298 1,954 2,315
6,550 12,000
Cán cân thanh toán hiện hành, % GDP -3.8 -1.5 -0.8 -9.9 -10.3
Thâm hụt tài chính/ngân sách, % GDP 2.8 -0.8 -0.9 -0.7 -0.5
Vốn ODA, đơn vị triệu USD (WDI, 2008) 1,681 1,907 1,845
Tỷ giá hối đoái bình quân $ (ABD 2008) 15,741 15,859 15,994 15,995
Nguồn số liệu: Tạp chí các chỉ số phát triển thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế 2008 (2007), Ngân hàng
Phát triển Châu Á, Key Indicators of Developing Asian and Pacific Countries, 2007, ADB: Asian
Development Outlook 2008; GSO: Statistical year Book of Việt Nam 2007; Credit Suisse Research.
9
nước. Hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước còn có Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV), là cơ quan
Quá trình cải cách nền kinh tế tiếp tục được thực hiện cùng với tiến trình cổ phần hoá
các ngân hàng thương mại Nhà nước theo hướng an toàn, lành mạnh hơn. Các ngân
hàng thương mại Nhà nước đã nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện đáng kể bảng
cân đối kế toán trong suốt 5 năm qua. Tuy nhiên với tỷ lệ nợ xấu bình quân ước tính là 8-
10% đòi hỏi các ngân hàng này tiếp tục trích lập những khoản dự phòng rủi ro lớn trong quá
trình cổ phẩn hoá cho 3 năm tới. Chính phủ Việt Nam đã đầu tư một khoản 635 triệu USD để
tái cấp vốn và bù đắp những khoản lỗ cho các ngân hàng này
22
(từ 2001 đến 2005).
Bảng 4. Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính chính thức tại Việt Nam
17
DIV: Annual Report 2005: Report on 2005 Operations and Business plan for 2006.
18
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Báo cáo thường niên 2004.
19
1993 Viet Nam Living Standards Survey (VLSS) quoted in Viet Nam Development Report 2006: Business.
20
ADBI: Managing Capital Inflows: the Case of Viet Nam, May 2008.
21
IMF: Viet Nam Country Report 07/386, Statistical Appendix, December 2007.
22
World Bank: Country program Strategy 2007-2011. Some analysts believe the NPL of the SOCBs is even larger at 15-30%
as per Federal Reserve Bank of San Francisco: Asia Focus, February 2008.
Loại hình tổ chức # Tên tổ chức
Ngân hàng Thương mại Nhà nước
(SOCB)
4 VietcomBank, VietInBank, BIVD, và ngân hàng được
coi là lớn nhất Việt Nam: NHNo&PTNT Việt Nam
50 Quỹ Tín dụng nhân dân mới. Đến tháng 12/2007 đã có tổng cộng 982 Quỹ Tín dụng
nhân dân hoạt động tại 56 tỉnh, thành trong cả nước. Cơ quan đứng đầu, Quỹ tín dụng
Nhân dân Trung ương, được thành lập năm 1995. Quỹ
tín dụng Nhân dân Trung ương có
thể sẽ sớm đổi tên thành Ngân hàng Hợp tác xã, thu hút và huy động vốn từ các cổ
đông (là các Quỹ Tín dụng nhân dân và 4 Ngân hàng Thương mại Nhà nước), từ các
nhà tài trợ, từ công chúng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng khu vực thành thị và
khách hàng thương mại từ 54 chi nhánh hoặc thông qua các Quỹ trung gian làm đại
lý/giám sát cho Quỹ Tín dụng nhân dân. Tương tự, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội , CCF cũng được thành lập
và hoạt động theo Luật các t
ổ chức tín dụng và chịu sự quản lý, giám sát của Ngân
hàng Nhà nước
24
.
Cho vay chính sách là một đặc tính riêng có của thị trường tài chính Việt Nam. Ngân hàng
Chính sách Xã hội Việt Nam là cơ quan được thành lập để phục vụ người nghèo và các đối
tượng hưởng lợi từ các nguồn hỗ trợ của Chính phủ. Ngân hàng Phát triển Việt Nam là
ngân hàng được thành lập để phục vụ các dự án cơ bản của Chính phủ, cho vay các doanh
nghiệp Nhà nước và trong phạm vi nhất định (có sự hỗ trợ của các nhà tài trợ
quốc tế), có
thể cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu hoặc xây
dựng cơ sở hạ tầng, dưới dạng bao cấp và cả cho vay theo các điều kiện phi thị trường. Cả
hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam đều do
Ngân hàng Nhà nước và một số cơ quan Nhà nước khác quy định theo các Thông tư cụ thể
và đều là những kênh tín dụng cơ
bản của Chính phủ.
Các tổ chức tài chính phi ngân hang bao gồm Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện Việt
cho vay chính sách được bao cấp và chính sách kiềm chế lãi suất đang ảnh hưởng đến
toàn bộ lĩnh vực tài chính.
2.2 Dịch vụ cho vay Sơ đồ 5. Tăng trường dư nợ gần đây
Dư nợ cho vay nền kinh tế tăng
50.6% từ năm 2006 đến năm
2007, vượt 30% so với mục tiêu
Chính phủ đề ra. Trong giai đoạn
này, 65.3% tổng dư nợ cho vay
của các Ngân hàng Thương mại
Nhà nước và 82.5% dư nợ cho
vay của các ngân hàng khác là
dành cho khu vực tư nhân
25
. Dư
nợ cho vay của các NHTM Nhà
nước tăng khoảng 25%, một phần
do các ngân hàng này chuẩn bị
cho quá trình cổ phần hoá. Trong
khi các NHTM cổ phần tăng
trưởng tín dụng ở mức độ chóng
mặt, tăng 95% từ năm 2006 đến 2007 chỉ nhằm mục đích giành lại thị phần cho vay các
doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình, cá nhân được coi là thị trường cốt yếu của họ. Dư nợ
cho vay khu vực tư nhân chiếm khoảng 77% tổng dư nợ của các NHTMCP (năm 2007), trong
đó chủ yếu là cho vay tiêu dùng (35%) và cho vay thương mại đối với các doanh nghiệp nhỏ
và vừa. Tuy vậy, với rất nhiều NHTMCP, mức cho vay bình quân đối với một khách hàng
thường vượt quá 600 triệu VNĐ (năm 2006). Điều này cho thấy, các ngân hàng này chưa
thực sự phục vụ nhóm đối tượng khách hàng có thu nhập thấp.
26
World Bank: Taking Stock, 2008. See also GS Economic Research Website: Asia Economics Flash, May 2008.
27
IFC, Financial Sector Diagnostic, 2007.
12
Sơ đồ 9). Điều thú vị là, tiền gửi tiết kiệm bảo đảm bằng vàng lại tăng mạnh và một số ngân
hàng như NHNo&PTNT Việt Nam đang thu hút tiền gửi tiết kiệm bảo đảm bằng vàng ngày
càng nhiều từ khách hàng.
Biểu đồ 6. Tăng trưởng huy động vốn, cho vay và kinh tế
28
Theo ước tính, có khoảng 25 triệu
tài khoản tiết kiệm đang hoạt động
tại các tổ chức tín dụng (năm
2006). Con số này còn lớn hơn cả
tổng số hộ cả nước
29
. Tổng tiền
gửi tiết kiệm trên tài khoản là 49.9
tỷ USD (năm 2006). Tuy vậy, đa
phần trong số này đều là tài khoản
tiết kiệm không kỳ hạn hoặc có kỳ
hạn ngắn. Việt Nam cần huy động
các khoản tiền gửi tiết kiệm dài
hạn hơn nhằm giảm thiểu tối đa sự
mất cân đối cũng như rủi ro giữa
huy động vố
n và cho vay, qua đó
37 tổ chức với quy mô là loại hình pháp lý khác nhau tham gia thị trường bảo hiểm cả bảo
hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm,v.v Trong đó có 3 Công ty
Bảo hiểm Nhà nước là (Bảo Việt, Bảo Minh và Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam), 16 Công ty Cổ
phần, 4 Công ty liên doanh và vẫn còn 14 doanh nghiệp b
ảo hiểm tư nhân
33
.
28
Courtesy of World Bank: Taking Stock, June 2008.
29
Viet Nam Development Report 2006: Business. The estimate of savings accounts was compiled by the World Bank based on
annual reports from banks and other sources.
30
World Bank: Financial Market Infrastructure Development Project Information Document, November 2007.
31
World Bank, Taking Stock, June 2008.
32
Mark V.T. Saunders and Adrian Liu: Life Insurance 2/2006: “Viet Nam: A New Star in the East”.
33
World Bank: Viet Nam Development Report 2008 Social Protection, June 2008, from where the figure is also taken.
13
Biểu đồ 7. Sự tăng trưởng của các sản phẩm bảo hiểm
Thị trường bảo hiểm nhân
giữ 32% tổng doanh thu phí bảo hiểm, tiếp đến là Bảo Minh 24%).
2.5 Khả năng tiếp cận vốn vay của các hộ nghèo hoặc hộ có thu nhập
thấp (BOP)
Đa số các ý kiến đều cho rằng thị trường dịch vụ tài chính vi mô truyền thống tại Việt Nam là
để phục vụ cho 24 triệu người nghèo và những người có thu nhập thấp hay 5.4 triệu hộ có
thu nhập thấp (LIHs). Ngân hàng Chính sách Xã hội , một số Quỹ Tín dụng nhân dân và các
tổ chức tài chính vi mô bán chính thức vẫn là những nhà cung cấp tín dụng chủ yếu, ngoài
các khoản tín dụng được cấp trực tiếp qua kênh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Vi
ệt Nam và hệ thống các nhà cung cấp phi chính thức hoặc hộ kinh doanh; cửa hàng,
cửa hiệu; các nhà cho vay nặng lãi; các nhóm tiết kiệm và cho vay. Rất nhiều trong số này
đã phát triển lớn mạnh trong quá trình hợp tác với các tổ chức chính trị xã hội (tổ chức quần
chúng). Có thể có trường hợp cộng trùng lặp, nhưng theo ước tính, số lượng các nhà cung
cấp tín dụng phi chính thức nói trên hoàn toàn có thể cấp tín dụng cho khoảng 6.11 triệu
khách hàng vay vốn, vượt 12% số
lượng hộ có thu nhập thấp ước tính trong cả nước
34
.
Năm 2006, có đến một phần tư dân tộc Kinh và người Việt gốc Hoa vay vốn từ các nhà
cung cấp kênh tài chính chính thức, đứng đầu là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam.
35
Tuy vậy, cộng đồng các dân tộc thiểu số và những người nghèo nhất
34
The MIX: “How many MFIs and Clients are there” in Deutsche Bank Research Current Issues
35
World Bank: Viet Nam Development Report 2008 – Social protection, June 2008, from where the figure is also taken.
nghĩ đến khía cạnh cho vay thuần tuý mà không có bất kỳ điều chỉnh nào về sản phẩm,
dịch vụ cho phù hợp với thị hiếu để thay đổi nhu cầu của các nhóm khách hàng. Vì vậy,
nhìn chung khách hàng có xu hướng muốn nhận một gói dịch vụ tài chính phù hợp từ
nhiều nguồn khác nhau, có thể được vay nhiều lần và
đặc biệt là các nhà cung cấp rất
khó thẩm định và phát hiện do thiếu hệ thống thông tin tham khảo về phòng ngừa rủi ro
tín dụng để chia sẻ và tham khảo giữa các nhà cung cấp tài chính vi mô với nhau.
15
Chính vì thế, với hầu hết khách hàng vay vốn trên thị trường tài chính vi mô, việc tiếp
cận khoản vay có thật phù hợp với nhu cầu của họ hay không thực sự không còn là vấn
đề. Ngày càng phát sinh nhu cầu vay vốn phức tạp hơn với những khoản vay lớn hơn
và cơ cấu vốn vay cũng khác hơn. Thay vì chỉ áp dụng phương thức cho vay truyền
thống để trang trải những nhu cầu chưa được đáp ứng, thách thức thực sự trong việc
tổ chức một thị trường tài chính vi mô thành công ở Việt Nam là quy định về các dịch vụ
chuyên môn hoá dành cho các hộ, doanh nghiệp nghèo ở vùng sâu, vùng xa; đồng thời
xác định và duy trì các nhóm khách hàng nghèo hơn thuộc các khu vực dễ tiếp cận dịch
vụ tài chính hơn theo hướng cạnh tranh trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ tài chính
theo chỉ định, theo chương trình tài trợ, kể cả các ngân hàng thương mại có xu hướng
tham gia thị trường này ngày càng tăng.
Những sản phẩm tiết kiệm với số dư và khả năng thanh khoản thấp mà người nghèo mong
muốn tiếp cận thường hạn chế hơn so với các khoản cho vay chính sách trên thị trường tài
chính vi mô ở Việt Nam. Với màng lưới hoạt động rộng lớn của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam, hệ thống văn phòng của Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu
điện
Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội và mạng lưới hoạt động đang ngày càng được mở
rộng của hệ thống Quỹ tĩn dụng nhân dân đang đảm bảo cho phép hầu hết các hộ nghèo và
hộ có thu nhập thấp có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức tại hầu hết các địa
phương nơi họ cư trú. Tuy nhiên, với tư cách là các ngân hàng được chỉ định, cả Công ty
này được phân loại là các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ (MSMEs).
37
36
SMEs were officially recognized and authorized by Government Decree 90/2001/ND-CP in November 2001 to include state-
owned, private, and cooperative businesses as well as ‘business households’. The decree also established an SME
Department under the Ministry of Planning and Investment, and a SME Development Plan for 2006-2010 was been approved in
2006.
37
IFC, Financial Sector Diagnostic, 2007.
16
Bảng 9. Phác hoạ về doanh nghiệpHoạt động trong lĩnh vực này, lĩnh vực
được coi là động cơ tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam, đều chỉ rõ việc không
thể tiếp cận vốn vay một cách đầy đủ
là một trong những trở ngại chính
trong phát triển kinh doanh, và việc
chia sẻ vốn vay giữa các doanh
nghiệp với nhau, điều được xem là tối
kỵ và là trở ngại chính cho quá trình
phát triển của các doanh nghiệp vẫ
n phổ biến ở Việt Nam so với các nước Châu Á khác.
38
38
World Bank: Doing Business. Viet Nam Country Profile/Survey, 2005.
39
Viet Nam Country Development Report 2006: Business.
40
UNDP: Human Development Report, 2004.
41
Mai Lan Le & Nhu An Trang: Entering a New Market: Commercial Banks and Small/Micro Enterprise Lending in Viet Nam,
ILO Viet Nam Working Paper Series No. 3, 2003.
Loại hình doanh nghiệp Số lượng
nhân viên
Tài sản/doanh thu
Cá nhân kinh
thanh toán, bảo
hiểm, vốn đầu tư
mạo hiểm, tài
khoản ngân hàng,
cho vay mua bất
động sản, tiền gửi
k
ỳ
hạn và khôn
g
k
ỳ
Các khoản cho
vay tạo thu nhập,
cho vay giải
quyết nhu cầu
bức thiết, các
khoản tiết kiệm,
ả
ể
Cho vay tiêu
dùng, tiết kiệm
thanh khoản, cho
vay nâng cấp nhà
ở, bảo hiểm tài
sản
17
3. Các quy định và sáng kiến của Chính phủ
3.1 Cải cách lĩnh vực tài chính
Từ năm 2002,
43
các tổ chức tài chính tín dụng Việt Nam được phép tự thoả thuận lãi suất
cho vay với khách hàng, song mức lãi suất cho vay cao nhất cũng không được vượt quá
150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Cùng với sự phát triển nóng của nền kinh tế, dẫn đến lạm phát cao ở mức 25% vào tháng
5/2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chủ trương tăng mạnh lãi suất cơ bản nhằm hạn
chế tăng trưởng tín dụ
ng. Vào ngày 18 tháng 5/2008, lãi suất cơ bản đã tăng từ 8.75% lên
12%, qua đó nâng mức lãi suất trần cho vay tối đa lên 18%. Đến tháng 6/2008, một lần nữa
lãi suất cơ bản lại tăng lên 14%, nâng mức lãi suất trần cho vay tối đa lên 21%/năm. Lãi
suất này được xem là có thể kéo dài nếu quyết định tăng lãi suất cơ bản của Ngân hàng
Nhà nước thực sự làm giảm nhiệt thị trường cho vay, vốn đang điên cu
ồng, nhưng thực tế
là lãi suất cho vay của tất cả các ngân hàng thương mại đều đã chạm mức tối đa cho phép.
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng (lãi suất cho vay tái cấp vốn) cũng tăng từ 18-21%
đối với các khoản cho vay ngắn hạn. Tình trạng thanh khoản giảm đã buộc các ngân hàng
phải tăng lãi suất đầu vào (lãi suất huy động vốn). Lãi suất huy động của các NHTM Nhà
42
Through Prime Ministerial Decision 112 in May, 2006
43
Decision 546/2002/QD-NHNN by the Governor SBV on May 30, 2002
18
nước nay đều ở mức 17-17.5%/năm, thậm chí một số NHTM Cổ phần còn huy động ở mức
19%/năm
hưởng đến loại hình tài chính vi mô dựa trên cơ sở tài chính bền vững. Giả định cho
rằng người nghèo không có khả năng vay vốn theo lãi suất thị trường đã được chứng
minh là sai lầm ở bất kỳ đâu trên thế giới. Việc tiếp cận lâu dài các dịch vụ tài chính
ổn định, là những dịch vụ được cung cấp với độ tin cậy cao, được cho là quan
trọng h
ơn các khoản vay với lãi suất thấp do các tổ chức tài chính hoạt động
không dựa vào cơ sở bền vững tài chính cung cấp. Bởi vậy không có lý gì Việt
Nam lại nên làm khác đi.
• Đến nay, cơ sở pháp lý duy nhất cho cung cấp dịch vụ tài chính vi mô ở Việt Nam
chính là quan hệ hội viên với các Tổ chức Chính trị Xã hội, UBDN địa phương hay một
cơ quan tương tự được Uỷ quyền cung ứng các dịch vụ tài chính. Các Tổ chức Chính
trị Xã hội, với các chương trình xã hội rộng lớn được chuẩn bị tương đối tốt trong việc
hỗ trợ huy động vốn từ
các hội viên nghèo nhất, song thiếu lý do để bảo vệ phương
pháp tiếp cận mang nặng tính thương mại hơn đối với lĩnh vực tài chính vi mô, bất
luận những lợi ích to lớn các tổ chức tài chính vi mô đã cung cấp như tài trợ cho
dự án, tạo việc làm và cung cấp dịch vụ cho các hội viên.
Việc thiếu vắng một môi trường chính sách mang tính chặt chẽ và việc thiếu vắng một hệ
th
ống tài chính vi mô hoạt động theo hướng thương mại hoá phản ánh nhận thức rộng rãi
của đa số công chúng coi tài chính vi mô như là một công cụ xoá đói, giảm nghèo. Ở nhiều
khía cạnh, điều này cũng phản ánh những thách thức và quan ngại to lớn hơn đối với Việt
Nam trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế sang cơ chế thị trường tự do.44
Communist Party of Viet Nam Online Newspaper: “Lending rate close to 21% per annum”, 25 June 2008.
Phán ứng lại dư luận trên, Nghị định 165/2007/ND-CP đã được thông qua ngày 15/11/2007,
sửa đổi, bổ sung Nghị định 28, đồng thời Thông tư 02/2008/ND-CP) cũng được ban hành
ngày 2/4/2008 hướng dẫn thi hành Nghị định này. Nhữ
ng nội dung sửa đổi cơ bản được
tóm tắt ở Bảng 12 dưới đây.
Bảng 12. Những sửa đổi cơ bản của Nghị định 165 45
Text in this section is borrowed with permission from the author, Steven Pennings (Save the Children/US) from Decree
28/165 Workshop: highlights and selected issues, Viet Nam Microfinance Working Group Bulletin, Issue 11, July 2008
Trước đây (Nghị định 28) Hiện tại (Nghị định 165 và các Thông tư
hướng dẫn)
Hai mức vốn pháp định quy định cho Tổ chức tài
chính vi mô:
(a) Nhận tiền gửi tiết kiệm tự nguyện, vốn pháp
định bắt buộc là ≥5 tỷ VND (313.000 USD)
(b) Không nhận tiền gửi tiết kiệm tự nguyện, vốn
pháp định bắt buộc là ≥500 triệu VND (31.250
USD)
Chỉ có một mức vốn pháp định:
Nhận tiền gửi tiết kiệm tự nguyện, vốn pháp
định bắ
t buộc là ≥5 tỷ VND (313.000 USD)
Nếu một MFO không được cấp phép, sẽ buộc
phải chấm dứt hoạt động.
Một MFO không được cấp phép, vẫn có thể
hoạt động khi (i) không nhận tiền gửi tiết kiệm
vốn góp cổ phần. Đối với hầu hết các Tổ chức tài chính vi mô hiện đang hoạt động, cổ phần
được trả bằng hiện vật hoặc thu nhập giữ lại s
ẽ được xem là nguồn vốn góp cơ bản. Phần
vốn góp tối đa bằng tài sản cố định (như nhà xưởng) theo quy định là 5% nhằm đảm bảo Tổ
chức tài chính vi mô luôn đủ khả năng thanh khoản để duy trì hoạt động.
Bảng 13. Cơ cấu tổ chức của các tổ chức tài chính được cấp phép theo Nghị định 28/165
Nghị định quy định chủ sở hữu hợp pháp phần vốn tự có của MFI chính là chủ sở hữu của
Tổ chức tài chính vi mô trước khi được cấp phép hoạt động. Trong một số trường hợp, các
Tổ chức phi Chính phủ quốc tế đã chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của họ tại 1 MFO
cho UBND địa phương, nhưng đó là trong trường hợp Hội liên hiệ
p Phụ nữ tại địa phương
là cơ quan “sở hữu” và điều hành hoạt động của MFO này. Trong những trường hợp này
(nếu Hội liên hiệp Phụ nữ tiếp tục giữ vai trò là chủ sở hữu chính của chương trình), thì
buộc UBND địa phương phải chuyển quyền sở hữu vốn hợp pháp của mình cho Hội liên
hiệp Phụ nữ. Nói chung, thủ tục chuyển phần v
ốn này trước khi MFO được cấp phép chỉ là
vấn đề giữa các chủ sở hữu và không cần sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước.
3.2.3 Các quy định về cấp phép: Các vấn đề về hoạt động của Tổ chức tài
chính vi mô
Để một tổ chức tài chính vi mô đang tồn tại được cấp phép hoạt động như một MFO, theo
quy định của các Nghị định và Thông tư hướng dẫn liên quan, tổ chức này phải có đội ngũ
cán bộ chuyên nghiệp do Ngân hàng Nhà nước xác định, có kế hoạch kinh doanh và các
báo cáo tài chính đã được kiểm toán
47
, có Điều lệ hoạt động, và phải có ý kiến tham vấn của
các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn chậm nhất vào 10/12/2008. Một số Tổ chức tài
chính vi mô đã cho thấy họ gặp khó khăn trong việc đáp ứng các điều kiện trên hoặc không
chứng minh được họ có khả năng quản lý theo một quy trình phù hợp và chính xác theo luật
hàng Nhà nước)
• Các thành viên đủ tiêu chuẩn: (A) các tổ chức chính trị-xã hội, (B) các
tổ chức xã hội, (C) các Quỹ xã hội & từ thiện,
46
(D) các tổ chức nghề
nghiệp (E) các Tổ chức phi Chính phủ của Việt Nam (Nghị định 88,
30/7/2003); các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài.
• Các thành viên từ A đến E phải sở hữu ít nhất 25%, và phải là những
cổ đông lớn nhất.
• Các cổ đông nước ngoài chỉ sở hữu tối đa là 50% cổ phần của công
ty.
21
Các Tổ chức tài chính vi mô lớn hơn như CEP, TYM và một số khác, đều đang trong giai
đoạn chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi. Dư luận nói chung cho rằng chỉ có khoảng từ 6 đến
10 Tổ chức tài chính vi mô có thể đáp ứng các điều kiện cấp phép trong phạm vi thời hạn
quy định của Nghị định. Số Tổ chức tài chính vi mô còn lại có thể hoạt động như các Tổ
chức tài chính vi mô không có chứ
c năng huy động tiền gửi tiết kiệm nếu muốn, hoặc
chuyển thành các Quỹ xã hội.
49Ngân hàng Nhà nước thừa nhận rằng hiện tại có khá nhiều chương trình tài chính vi mô do
Hội liên hiệp Phụ nữ tại các cấp tỉnh, huyện, xã quản lý, điều hành. Tuy nhiên toàn bộ các tổ
chức này đều phải gửi hồ sơ xin cấp phép về Hội liên hiệp Phụ nữ Trung ương để được cấp
phép vì chỉ có Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam mới đủ tư cách pháp lý.
Theo quy định củ
a Nghị đinh, Tổ chức tài chính vi mô không được phép cung cấp dịch vụ
đãi đối với người nghèo, và cụm từ “mục tiêu phủ rộng” về mặt
định lượng đã được sử dụng
49
Social Funds are regulated by Decree 177/1999/ND-CP of December 22, 1999 Promulgating the Regulation on Organization
and Operation of the Social Funds and Charity Funds.
50
Decree 134/2005/NĐ-CP dated 1/11/2005 on foreign currency transactions, and Circular 09/2004/TT-NHNN dated
21/12/2004.
51
In the current environment (pre-Decree 28/165 implementation), there is substantial uncertainty in the sector regarding the
legality of MFOs borrowing from abroad. Currently two MFIs (TYM and Binh Minh/SEDA) borrow from KIVA in USD with
interim verbal approval from the State Bank, but this may be related to the fact that KIVA loans are interest-free.
Tổ chức tài chính vi mô:
Để được cấp phép theo quy định của 28/165, Tổ chức tài chính vi mô phải đáp ứng một số yêu cầu sau:
A. Vốn điều lệ tối thiểu phải đạt 5 tỷ VND.
B. Dư nợ tài chính vi mô phải đạt ít nhất 65% tổng các danh mục đầu tư (dư nợ tài chính vi mô theo quy định là dưới
30 triệu VND (tương đương 1,875 USD) (Điều 53.2, Chương IV, Thông Tư hướng dẫn).
C. Danh mục cho vay có rủi ro phải dưới 5% tổng danh mục cho vay.
D. Trước khi được cấp phép, MFO phải cam kết bằng văn bản về việc có khả năng trang trải chi phí hoạt động (cụ thể
tỷ lệ điểm hoà vốn phải vượt 100%). Đây là một thách thức thực sự đối với một số MFO đang hoạt động ở Việt
Nam
22
rất nhiều để thoả mãn nhu cầu về vốn chưa được đáp ứng của người nghèo ở nông thôn. Kết
quả là, các chương trình cho vay theo chỉ định của Chính phủ đã được triển khai với sự tham
gia của rất nhiều nhà tài trợ, các Tổ chức phi Chính phủ trong nước và quốc tế, bằng các Quỹ
tín dụng quay vòng hướng tới sự phát triển cộng đồng và xã hội. Chất lượng tín dụ
ng, nợ quá
việc làm cho người nghèo (CEP), do Liên đoàn Lao động tại TP. Hồ Chí Minh thành lập
cùng năm. Đến nay đã có tổng cộng 28 tổ chức cung ứng các dịch vụ tài chính vi mô tại 36
tỉnh (chiếm 57% số tỉnh cả nước), song về cơ bản đa số tổ chức này không thể duy trì hoạt
động có quy mô và đạt mức bền vững tài chính được.
4.2. Lĩnh vực bán lẻ: Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính
Thị trường tài chính vi mô Việt Nam được đặc trưng bởi sự thống trị cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu bởi 3 nhà cung cấp chính thức, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội và hệ thống 984 Quỹ tín dụng nhân
dân. Cả ba nhà cung cấp này đều đang theo đuổi thị trường tiền gửi tiết kiệm, cho vay
nông thôn, cho vay món nhỏ, song với rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Công ty Dịch
vụ Tiế
t kiệm Bưu điện thành lập năm 1999 được cho là rất có tiềm năng để trở thành
một nhà huy động tiết kiệm quan trọng ở Việt Nam với lãi suất huy động cạnh tranh và
hệ thống địa điểm thuận tiện.
• Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là
VBARD hay AgriBank, là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam đồng thời cũng là
ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính đầy đủ và toàn diện nhất cho khu vực nông
thôn Việt Nam. Là đối tác tin cậy của cộng đồng các nhà tài trợ, đặc biệt là nhờ nguồn hỗ
trợ tín dụng lớn của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Phát
triển Quốc tế Pháp. Tính đến cuối n
ăm 2007, NHNo&PTNT Việt Nam đã triển khai 111
dự án với tổng giá trị đạt 4 tỷ USD.
23
Đối tượng cho vay chính của NHNo&PTNT Việt Nam là các hộ nông dân, các DNNVV
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp, nhưng trong thời gian gần đây, NHNo&PTNT Việt Nam đã chú trọng mở
rộng hệ thống các chi nhánh tại khu vực thành thị nhằm vươn tới thị trường các DNNVV
tại đây. 45% tổng nguồn vốn của NHNo&PTNT Việt Nam được huy động từ khu vực
viên này sau đó sẽ có quyền huy động và cho vay. Khoảng 84% tài sản của các Quỹ Tín
dụng Nhân dân được huy động từ các thành viên của Quỹ (từ vốn góp và các khoản tiết
kiệm).
• Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam được thành lập năm 2002 trên cơ sở tổ
chức lại Ngân hàng Phục vụ Người nghèo, có mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc và
được hỗ trợ một phần từ Ủy ban Nhân dân các tỉnh. Là kênh chính cung cấp tín dụng
hỗ trợ, phục vụ cho các mục tiêu chính sách, Ngân hàng Chính sách Xã hội được
đảm bảo thanh toán hoàn toàn bởi Chính phủ và được miễn các khoản thuế, các
khoản thu Ngân sách Nhà nước và chi bảo hiểm tiền g
ửi. Ngân hàng Chính sách Xã
hội huy động vốn ngày càng cao để cho vay, bao gồm tiền gửi từ công chúng, các
quỹ tài trợ (Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế-IFAD, Tổ chức các nước xuất khẩu
dầu mỏ-OPEC) và khoản đóng góp bắt buộc trị giá 2% tổng tiền gửi từ các ngân
hàng thương mại Nhà nước. Đối tượng cho vay chủ yếu của Ngân hàng Chính sách Xã
hội là các doanh nghiệp vi mô/ hộ sản xuất hoạt động tại vùng sâu, vùng xa; các h
ộ đạt
chuẩn nghèo được chứng nhận của Chính quyền Địa phương, và gần đây là cho vay các
DNNVV với mục đích tạo việc làm.
Từ năm 2006, Ngân hàng Chính sách Xã hội đã mở rộng các dịch vụ của mình đến với
các vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên để theo kịp lộ trình triển khai các
chính sách của Chính phủ. Tuy nhiên, tính đến tháng 6 năm 2006, các khoản vay cho
đồng bào dân tộc thiểu số mới chỉ
đạt khoảng 2% tổng dư nợ của ngân hàng
55
. Ngân
hàng Chính sách Xã hội hợp tác với các tổ chức quần chúng trong viêc huy động và
52
quần chúng tại Việt Nam, là các cơ quan đại diện hợp pháp của Chính phủ trong quản lý,
tài trợ và hợp với các Tổ chức phi Chính phủ Quốc tế (INGOs) để triển khai các chương
trình tài chính vi mô. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên
hiệp Thanh niên Việt Nam là 3 tổ chức quần chúng lớn với tổng số
hội viên lên đến 20
triệu người, đang quản lý nhiều chương trình tiết kiệm và vay vốn theo nhóm, triển khai
các dự án tài chính vi mô được tài trợ bởi các Tổ chức phi Chính phủ Quốc tế, kết nối
khách hàng với NHNo&PTNT Việt Nam và Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam bằng
các thỏa thuận hợp tác
56
. Các tổ chức quần chúng cũng đứng ra bảo lãnh các khoản vay,
thành lập và quản lý các nhóm, kiểm tra hồ sơ tín dụng của các khách hàng và quản lý
nợ quá hạn. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không có các bộ phận chuyên trách về tài
chính vi mô, tuy nhiên Hội đã kết hợp việc điều hành các khoản tiết kiệm cũng như các
chương trình tín dụng với các hoạt động khác (thường là các hoạt động mang tính xã
hội), trên cơ sở
cơ cấu tổ chức và cán bộ của Hội. Với việc Nghị định 165 có hiệu lực,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã có sự hỗ trợ kỹ thuật để hoạch định tương lai cho
chương trình ACCESS và nâng cao vai trò của hội trong tương lai trong lĩnh vực tài chính
vi mô
57
. Vào tháng 6/2008, đã có 25 tổ chức tài chính vi mô bán chính thức báo cáo
phạm vi hoạt động và số liệu tài chính cho Nhóm Công tác Tài chính Vi mô Việt Nam
(MFWG). Tính đến thời điểm 31/12/2007, 25 tổ chức này đã thu hút được tổng cộng
183,586 khách hàng với một danh mục vốn đầu tư là 16.657.888 USD. Mỗi khoản vay
trung bình có giá trị từ 80-90 USD. Một số chương trình tiêu biểu như: Quỹ hỗ trợ tạo
việc làm cho người nghèo (CEP), chương trình ACCESS (WU), Quỹ TYM (TYM), Quỹ hỗ
trợ tạo vi
ệc làm cho người nghèo tại Bà Rịa – Vũng Tàu, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hà
Tĩnh và 7 chương trình tài chính vi mô hợp thành “Mạng lưới M7”. Hiện nay, 4 tổ chức tài
ưu đãi, và mỗi khoản vay được dành cho một dự án riêng biệt. Vào tháng 12/2007,
tổng danh mục cho vay của CEP đạt 12.995.813 USD cho 74.360 khách hàng. Cho
vay bình quân mỗi khoản khoảng 175 USD.
Quỹ Tao
Yeu May
(TYM)
Quỹ TYM là bản sao của Ngân hàng Grameen được Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
thành lập năm 1992 với 26 chi nhánh trên 9 tỉnh và thành phố tại Miền Bắc Việt Nam
và chỉ phục vụ cho đối tượng là phụ nữ. Quỹ đã nhận được sự trợ giúp đặc biệt cả về
vốn và kỹ thuật của các nhà tài trợ như: CARD, Grameen Trust, CORDAID và
German Savings Banks Foundation, và cũng được phép tiếp cậ
n các khoản vay
thương mại (vay tới 118% vốn tự có vào tháng 12/2007). Bước quá độ trong quá trình
chuyển đổi thành tổ chức tài chính vi mô được cấp phép, năm 2006 TYM hoạt động
với tư cách là một pháp nhân độc lập (tổ chức tài chính phi ngân hàng), có Hội đồng
quản trị riêng, được Chính phủ thừa nhận. Vào tháng 6/2008, tổng danh mục cho vay
của TYM đạt 6.299.308 USD với 30,869 khách hàng, giá trị bình quân mỗi khoản vay
là 204 USD.
M7 Network
M7 là mạng lưới tài chính vi mô gồm 7 tổ chức tài chính vi mô, khởi đầu bởi Action
Aid. M7 bao gồm M7 Mai Sơn, M7 Uông Bí, M7 thành phố Điện Biên, M7 huyện Điện
Biên, M7 Đông Triều, M7 Ninh Phước, M7 Can Lộc. Mạng lưới trải dài trên 52 xã thuộc
địa bàn 7 huyện với 31,492 hội viên tham gia, trong đó 7,289 người là dân tộc thiểu
số. Hiện nay, 4 thành viên đã đăng ký trở thành Quỹ xã hội theo Nghị định 177 và 1
thành viên đã đăng ký trở thành Tổ chức phi Chính phủ
. Vào tháng 12/2007, tổng