Đề tài: Chiến lược thay đổi giá của tập đoàn APPLE dành
cho sản phẩm IPHONE
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, cạnh tranh diễn ra gay gắt. Năm 2013, nền kinh tế
cả thế giới vẫn còn chịu ảnh hưởng của cuốc uy thoái kinh tế toàn cầu, vì vậy làm sao
để bán được hàng hóa càng khó hơn so với trước. Ngày nay khi mà nền công nghệ
phát triển, giữa các công ty lớn không có sự chênh lệch nhiều về kĩ thuật và công
nghệ, từ đó vai trò của marketing quan trọng hơn bao giờ hết , vì thế mà marketing
đóng vai trò quyết định cho sự thành công của công ty. Trong marketing có 4 công cụ
chủ yếu(4P), đó là: Product(sản phẩm), Price( giá), Place( phân phối), Promotions
( xúc tiến thương mại hoặc hỗn hợp bán), trong đó giá cả phản ánh phần nào chất
lượng của sản phẩm, chu kì sống của sản phẩm và được điều chỉnh thông qua chiến
lược giá của công ty, vì thế mà việc quyết định giá cho sản phẩm cần được nghiên cứu
và đưa ra quyết định đúng đắn.
Từ khi hình thành đến nay với các sản phẩm tiêu biểu như Ipod, Ipad và phải
kể đến điện thoại Iphone, Apple đã có sự phát triển nhanh chóng và trở thành một
trong những công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất các thiết bị điện tử như máy
nghe nhạc, điện thoại hay máy tính bảng. Cính vì thế nên chúng tôi quyết định chọn
đề tài là chiến lược giá điện thoại Iphone của Apple để tìm hiểu và phân tích những
chiến lược mà đã góp phần làm nên thành công cho Apple và đưa Apple đi lên như
vậy.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được chiến lược định giá và thay đổi giá của Apple đối với Iphone.
- Các yếu tố dẫn đến sự thay đổi giá của Apple đối với iphone.
- Rút ra được bài học kinh nghiệm trong việc định giá và thay đổi giá.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích
tổng hợp, đó là thu thập thông tin từ các nguồn thông tin, các nghiên cứu từ
đó phân tích và đưa ra kết luận
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
huống, các nhóm học viên phải chủ động tìm kiếm và phân tích các thông tin để đi
đến giải pháp cho tình huống. Để đáp ứng được yêu cầu này, học viên phải chủ động
tư duy, thảo luận - tranh luận trong nhóm hay với giảng viên, tìm hiểu thêm về lý
thuyết, tài liệu tham khảo để đạt đến giải pháp.
Chính trong quá trình tư duy, tranh luận, bảo vệ và sửa đổi các đề xuất - giải pháp của
mình, học viên (hay nhóm học viên) đã tham gia vào quá trình nhận thức. Sự tham gia
tích cực đó đã góp phần tạo ra sự hứng thú và say mê học tập, sáng tạo của học viên.
Đây chính là lúc quá trình dạy và học tập trung vào học phương pháp học, phương
pháp tiếp cận, phân tích và tìm giải pháp chứ không chỉ giới hạn ở việc học các nội
dung cụ thể.
- Thứ ba, nâng cao kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phân tích, giải quyết vấn đề, kỹ
năng trình bày, bảo vệ và phản biện ý kiến trước đám đông. Để giải quyết tình huống,
học viên được yêu cầu làm việc trong nhóm từ 4- 6 thành viên. Cả nhóm cùng phân
tích và thảo luận để đi đến giải pháp, sau đó trình bày giải pháp của mình cho cả lớp.
Lúc này học viên tiếp thu được kinh nghiệm làm việc theo nhóm, chia sẻ kiến thức,
thông tin để cùng đạt đến mục tiêu chung. Các kỹ năng như trình bày, bảo vệ và phản
biện ý kiến cũng được hình thành trong bối cảnh này. Học viên cũng học được cách tôn
trọng và lắng nghe ý kiến của người khác để làm cho vốn kiến thức của mình phong
phú hơn. Đây chính là những kỹ năng rất cần thiết đối với các nhà quản lý hiện đại.
- Thứ tư, giảng viên - trong vai trò của người dẫn dắt - cũng sẽ tiếp thu được rất nhiều
kinh nghiệm và những cách nhìn / giải pháp mới từ phía học viên để làm phong phú
bài giảng và điều chỉnh nội dung tình huống nghiên cứu. Đây cũng là một kênh quan
trọng để giảng viên thu thập kinh nghiệm từ các học viên, đặc biệt là những học viên
đã có quá trình công tác.
- Thứ năm, các tình huống tốt có tính chất liên kết lý thuyết rất cao. Để giải quyết tốt
một tình huống, người học có thể phải vận dụng và điều chỉnh nhiều tập lý thuyết
khác nhau. Đây chính là lúc các lý thuyết rời rạc của một môn học được nối lại thành
bức tranh tổng thể. Ở mức độ ứng dụng cao hơn, người học không chỉ vận dụng kiến
thức của một môn học mà trong nhiều trường hợp phải vận dụng kiến thức của nhiều
môn học khác nhau.
đơn thuần dịch lại các tình huống trong sách nước ngoài, vì với các tình huống như
vậy cả thầy lẫn trò đều khó tiếp thu. Nhiều trường hợp, giảng dạy bằng tình huống là
cách để thầy “nghỉ ngơi” vì trò phải làm việc, và thầy cũng chẳng biết giải tình huống
thế nào, nên người học thực chất cũng chẳng thu được lợi ích gì.
Mặt khác, phương pháp nghiên cứu tình huống lại đòi hỏi những kỹ năng phức
tạp hơn trong giảng dạy, như cách tổ chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ
chức và khuyến khích học viên thảo luận, dẫn dắt mạch thảo luận, nhận xét, phản
biện. Đây thật sự là những thách thức lớn đối với giảng viên trong quá trình ứng dụng
phương pháp này.
- Học viên. Thách thức lớn nhất thuộc về tính năng động, yêu thích kiến thức và khả
năng tư duy độc lập của học viên. Phương pháp nghiên cứu tình huống chỉ thật sự
phát huy những giá trị hữu ích khi có sự tham gia chủ động và yêu thích của học viên.
Tuy nhiên do đã quá quen thuộc với cách tiếp thu kiến thức thụ động (thầy giảng trò
ghi chép) nên khi chuyển qua phương pháp mới - đòi hỏi sự năng động, khả năng tư
duy và tính sáng tạo - thì một bộ phận học viên không thích ứng được. Bên cạnh một
số học viên rất năng động, yêu thích kiến thức (sẽ tiếp thu được rất nhiều trong quá
trình học), tồn tại một bộ phận học viên chỉ đến lớp vì nghĩa vụ.
- Phối hợp hiệu quả với các phương pháp khác. Phương pháp này đòi hỏi giảng viên
hiểu rõ các tính chất của học viên và các yếu tố tác động để có sự phối hợp nhuần
nhuyễn và cân đối với các phương pháp truyền thống. Khi sử dụng quá liều lượng nó
có thể làm phản tác dụng vì học viên có thể chỉ chú trọng giải quyết các tình huống cụ
thể và cho rằng thực tiễn luôn diễn ra như tình huống.
Đây chính là hạn chế lớn của phương pháp - tính khái quát hóa. Một số các giáo sư
nước ngoài chỉ đơn thuần dạy bằng tình huống, mỗi buổi lên lớp các nhóm sinh viên
đều được yêu cầu trình bày những tình huống cho trước.
Tuy nhiên điều kiện ở nước ngoài có khác, khi sách, tài liệu tham khảo rất đầy đủ và
sinh viên cũng rất quen với việc tự nghiên cứu trước khi đến lớp. Nếu máy móc áp
dụng vào điều kiện VN có thể sẽ gây phản tác dụng.
- Môi trường, điều kiện vật chất. Đây là các thách thức khách quan, bao gồm các yếu tố
về điều kiện trang bị vật chất, qui mô lớp học, sự hợp tác của doanh nghiệp / xã hội
về nghiên cứu tình huống tương tự như tình huống mà bạn đưa ra. Khi làm điều này,
bạn sẽ thấy được những vấn đề tồn tại cần phải giải quyết. Hoặc biết đâu những ý
tưởng mới sẽ xuất hiện lúc ấy.
- Tìm và phỏng vấn những người có kiến thức
Khi thực hiện phỏng vấn, chúng ta không chỉ cần câu trả lời có hay không mà
chúng ta cần những thông tin trong chính những câu trả lời. Vì thế, điều mà bạn cố
phải làm là khiến người phỏng vấn nói ra tất cả những gì họ biết. Từ đó, bạn bổ sung
những điều ấy vào trong tình huống của mình.
Giai đoạn phân tích
- Tập hợp tất cả những thông tin bạn có
Bạn bắt đầu tập hợp những thông tin bạn có từ nhiều nguồn bài viết, sách vở và
nhiều cá nhân khác nhau. Rất khó để bạn có thể làm việc với hàng loạt thông tin như
thế. Nên hãy bắt đầu phân loại chúng.
- Phân chia ra các phần cho những người khác nhau
Mỗi cá nhân hay mỗi nhóm tham gia viết xây dựng tình huống cần phải giải
quyết những vấn đề thực sự quan trọng, là những vấn đề đang diễn ra mà người đọc
cần biết để hiểu được tình huống ấy.
- Cố gắng trình bày tình huống một cách hệ thống nhất chỉ trong vài câu
Khi bạn làm điều này, bạn sẽ thấy mình cần nhiều thông tin hơn nữa. Khi bạn cảm
thấy hài lòng với cách mà bạn định nghĩa vấn đề mà bạn muốn người đọc suy nghĩ,
hãy chẻ nhỏ vấn đề ra. Mỗi phần nhỏ ấy sẽ là một mảnh ghếp cần phải được hiểu rõ
trước khi giải quyết vấn đề.
Bắt tay vào viết
- Định nghĩa về vấn đề hay đưa ra câu hỏi về tình huốnh mà bạn muốn người đọc
phải giải quyết
Đây chính là điểm thu hút sự chú ý của người đọc. Bạn có thể bắt đầu với việc đưa
ra ngay một câu hỏi. Người đọc sẽ theo đó mà khám phá những nội dung tiếp theo.
Và bài viết sẽ được tiếp tục cho đến khi bạn cung cấp thông tin chốt lại ở phần cuối
bài, như món quà cho những ai kiên nhẫn đi cùng bạn phần cuối.
- Tổ chức hợp lý nội dung
tham gia ngay từ ban đầu trong quá trình hướng dẫn viết, đặt các yêu cầu và câu hỏi
gợi ý. Có thể dùng các phương pháp như cộng điểm hay miễn thi đối với những tình
huống có chất lượng cao.
- Từ kinh nghiệm thực tiễn: Các tình huống cũng đến từ quá trình nghiên cứu khoa học,
làm tư vấn, cộng tác với các doanh nghiệp hay thậm chí từ các quan sát và tổng kết
của cá nhân giảng viên.
- Triển khai tình huống: Có nhiều cách giảng dạy bằng tình huống. Đầu tiên có thể
dùng các bài đọc (bài báo) làm các ví dụ minh họa và mở rộng vấn đề cho từng đề
mục lý thuyết. Thứ hai, dùng một vài tình huống lớn để giảng dạy xuyên suốt cả một
môn học, mỗi buổi học đều dùng tình huống này nhưng triển khai ở các bước khác
nhau - đây là cách giảng viên cung cấp tính liên kết các nội dung cho người học. Thứ
ba, tình huống lớn giao cho nhóm sinh viên giải quyết trong một học kỳ. Thứ tư, tình
huống lớn có tính chất liên môn học - cái này hiện nay một trường ở Mỹ đã làm.
Chúng ta có thể làm dưới hình thức một môn học tổng hợp chỉ dạy bằng tình huống
hoặc thay hẳn cách làm hiện nay đối với thực tập tốt nghiệp.
- Xây dựng ngân hàng tình huống: Hiện nay các nỗ lực viết tình huống đều ở phía cá
nhân từng giảng viên, nếu có sự chuẩn hóa, tổng kết và xây dựng một cơ sở dữ liệu
chung giữa các giảng viên cùng một chuyên ngành và liên ngành giữa các khoa và
trường khác nhau trên toàn quốc thì chất lượng và hiệu quả sẽ được cải thiện rất đáng
kể. Đây là công việc mang tính vĩ mô và nằm trong nỗ lực đẩy mạnh giao lưu sinh
hoạt chuyên môn giữa các giảng viên, nhà nghiên cứu trong cùng chuyên ngành của
cả nước - tiền đề cơ bản để xây dựng một cộng đồng giảng dạy và nghiên cứu chất
lượng cao.
2.2. Lý thuyết về giá và các chính sách về giá ảnh hưởng đến chiến lược định giá
của tập đoàn Apple
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh quyết liệt của các công ty trở nên gay
gắt hơn, một mất một còn hơn. Họ đã nhận ra rằng marketing đóng vai trò quyết định
cho sự thành công của các công ty. Khi mà khoa học kỹ thuật đã phát triển như hiện
nay, khoảng cách về chất lượng sản phẩm không còn xa nữa thì vai trò marketing
càng quan trọng. Trong đó giá cả là một trong bốn công cụ chủ yếu của marketing.
đại bộ phận trên thị trường. Giá thị trường được hình thành trong quan hệ mua bán và
được hai bên cung cầu chấp nhận, nó thể hiện mối quan hệ trực tiếp trong hành vi
giữa người mua và người bán và sự thừa nhận trực tiếp từ thị trường về những sản
phẩm được đưa ra trao đổi. Giá cả là công cụ để giải quyết những mâu thuẫn về lợi
ích kinh tế giữa người mua và người bán. Bởi vì đối với người mua thì giá cả là các
căn cứ trực tiếp giữa cái được và cái mất khi họ muốn sử dụng hay chiếm hữu nó, còn
đối với người bán, giá cả là căn cứ trực tiếp đến doanh thu hoặc thu nhập.
2.2.1.3. Vai trò của giá
- Giá cả có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược marketing cũng như mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty thông qua việc xác định doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp.
- Giá cả là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu của doanh nghiệp khi người tiêu
dùng nhạy cảm về giá, họ dựa vào giá để lựa chọn hàng hóa. Do vậy doanh nghiệp
cần linh hoạt trong việc ổn định mức giá, tùy thuộc khác hàng thuộc đối tượng loại
nào mà đưa ra những mức giá hợp lý nhất.
- Giá cả là một tín hiệu thị trường giúp doanh nghiệp đánh giá được các cơ hội
kinh doanh và lựa chọn các phương pháp kinh doanh.
+ Nếu tăng giá tức là cung nhỏ hơn cầu, lúc này hàng hóa đang khan hiếm doanh
nghiệp nên tận dụng cơ hội này tăng giá để có thể thu được lợi nhuận cao.
+ Nếu giá giảm tức là cung vượt cầu, trong giai đoạn khó khăn này doanh nhiệp
có thể ổn định một mức giá thấp để đảm bảo cho công ty có thể tồn tại và đứng vững
trên thị trường.
- Giá cả là một bộ phận trong marketing mix, vì vậy một mức giá đưa ra hợp lý sẽ
là động lực thúc đẩy các yếu tố khác trong hệ thống marketing mix, thực hiện tốt
nhiệm vụ mà nhà quản lý đề ra.
2.2.2. Các chính sách, chiến lược về giá ảnh hưởng đến chiến lược định giá
của doanh nghiệp
lược giá thích hợp để tạo cho sản phẩm có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
- Chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm - Chính lược về sản phẩm là nền tảng của chính lược
marketing của thương hiệu Apple, được xác định dựa trên kế hoạch kinh doanh quy
mô lớn hơn dành cho sản phẩm mới và chiến lược marketing tổng thể cho mọi sản
phẩm đang có trên thị trường của Hãng. Khi xem xét chính lược sản phẩm, doanh
nghiệp cần quan tâm đến những vấn đề sau: Sản phẩm cũ trên thị trường có được
người dân chấp nhận không. Sản phẩm mới khi tung ra thị trường có thực sự mới.
Những điểm nhấn có trong sản phẩm mới và ưu thế vượt trội so với sản phẩm trước
(sự cách tân hay cải tiến về kĩ thuật về kiểu dáng). Những quy định về chất lượng sản
phẩm của Hãng.
- Chiến lược phân phối
Nội dung cơ bản của chính lược phân phối là thiết kế và quản lý mạng lưới bán
hàng trong giai đoạn đầu doanh nghiệp tung sản phẩm ra thị trường. Mạng lưới bán
hàng của thương hiệu Apple là tập hợp các kênh với sự tham gia của các chủ thể khác
nhau có sức mạnh và uy tín khác nhau để đưa sản phẩm từ cơ sở sản xuất của Apple
đến các khách hàng một cách thành công. Việc thiết kế và quản lý các kênh bán các
loại sản phẩm Iphone của thương hiệu Apple phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau
đây:
+ Phù hợp với tính chất của sản phẩm khi Apple tung ra thị trường.
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng trong việc tiếp cận và tìm mua sản
phẩm của Apple một cách dễ dàng nhất.
+ Xem xét kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh với Apple và các đối thủ tiềm
tàng.
+ Các kênh phân phối cần đảm bảo tăng doanh số bán của công ty và thiết lập
mối quan hệ bền vững với các trung gian.
- Chiến lược yểm trợ, đẩy mạnh, kích thích tiêu thụ sản phẩm quảng cáo và
khuyến mại:
Đây chương trình rất quan trọng khi sản phẩm được tung ra thị trường. Mỗi khi
Apple tung ra một sản phẩm mới thì trước đó đã có các chiến dịch quảng cáo rầm rộ
thành một công cụ marketing hữu hiệu nếu nó phục vụ đắc lực cho chiến lược về thị
trường mục tiêu và định vị hàng hoá mà doanh nghiệp đã lựa chọn . Vì vậy , chiến
lược giá phần lớn là do quyết định trước đó về các chiến lược định vị hàng hoá trên
thị trường chi phối . Một doanh nghiệp thường theo đuổi một trong các mục tiêu sau :
- Tối đa hoá lợi nhuận hiện hành
- Dẫn đầu về thị phần thị trường
- Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm
- An toàn sống sót
- Các mục tiêu khác
Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận hiện hành thì khi các doanh nghệp nhận thấy
rằng môi trường kinh doanh cho phép họ thực hiện được mục tiêu tài chính , họ sẽ cố
gắng ấn định giá theo xu hướng mức giá đó đem lại doanh thu và lợi nhuận tối đa .
Với mục tiêu dẫn đến tỷ phần thị trường thì doanh nghiệp thường đặt mức giá theo
xu hướng giá thấp nhất cho phép kỳ vọng đạt được quy mô thị trường cao nhất.
Với mục tiêu dẫn đầu về chất lượng thì khi doanh nghiệp trở thành người dẫn đầu
về chất lượng sản phẩm trên thị trường mục tiêu , doanh nghiệp sẽ đặt một mức giá
cao để gây ảnh hưởng tới sự cảm nhận của khách hạng về chất lượng của hàng hoá.
Với mục tiêu an toàn sống sót, các công ty chọn mục tiêu này nếu họ đang gặp
khăn do cạnh tranh quá quyết liệt hoặc nhu cầu thị trường thay đổi quá đột ngột công
ty không đối phó kịp.
Để duy trì được hoạt động kinh doanh ở mức bình thường và đảm bảo quay vòng
hàng tồn kho, công ty phải chủ động cắt giảm giá và định một mức giá bán thấp.
2.3.1.2. Hệ thống marketing – mix
Giá là một công cụ thuộc marketing – mix mà doanh nghiệp sử dụng để đạt mục tiêu
của mình . Việc đặt giá vào một tổng thể của chiến lược marketing – mix đòi hỏi các
quyết định về giá phải đảm bảo tính nhất quán với các quyết định về sản phẩm, kênh
phân phối và xúc tiến bán . Chi phí sản xuất giá thành quyết định giới hạn thấp nhất
của giá . Tất cả các doanh nghiệp đều muốn có một mức giá để bù đắp những chi phí
phải bỏ ra trong khâu sản xuất và phân phối , cộng với một khoản lợi nhuận chính
đáng cho những nỗ lực kinh doanh và gánh chịu rủi ro. Vì vậy khi ấn định mức giá
giá, song khi định giá bán sản phẩm của mình, các doanh nghiệp không thể bỏ qua các
thông tin về giá thành, giá cả và các phản ứng về giá của đối thủ cạnh tranh. Với
người mua giá tham khảo mà họ sử dụng để đánh giá mức giá của doanh nghiệp trước
hết là giá của sản phẩm và nhãn hiệu cạnh tranh. Trong trường hợp này thật khó có
thể bán được sản phẩm với giá cao hơn một khi khách hàng có được thông tin là tồn
tại một sản phẩm tương tự đang được bán với giá rẻ hơn. Tương quan so sánh giữa giá
thành của doanh nghiệp và của các đối thủ cạnh tranh sẽ liên quan đến lợi thế hay bất
lợi của doanh nghiệp.
Thị trường cạnh tranh bao gồm những dạng thị trường cơ bản sau: thị trường độc
quyền thuần tuý, thị trường cạnh tranh có độc quyền, thị trường độc quyền nhóm. Khi
doanh nghiệp hoạt động ở trong thị trường nào đi nữa thì cũng đều phải cân nhắc và
nghiên cứu kỹ đặc điểm của thị từng loại thị trường để có thể đưa ra quyết định về giá
cho thích hợp.
2.3.2.3. Các yếu tố bên ngoài khác
Khi xem xét công ty cũng phải xem xét dến những yếu tố khác thuộc môi trường bên
gnoaif của mình. Chẳng hạn như tình hình kinh tế có một tác động khiến cho doanh
nghiệp có những chiến lược giá khác nhau. Các yếu tố như lạm phát, tăng trưởng hay
suy thoái và lãi suất đều ảnh hưởng đếnc các quyết định giá, bởi vì chúng ảnh hưởng
đến chi phí sản xuất kinh doanh của mặt hàng lẫn những cảm nhận của người tiêu thụ
về giá thương mại và giá trị của mặt hàng đó.
Công ty phải xem xét giá của mình có ảnh hưởng thế nào đến những thành viên khác
thuộc môi trường của mình, những bạn hàng thương mại sẽ phản ứng ra sao trước
mức giá. Công ty nên định giá như thế nào cho các công ty bán lại có được lợi nhuận
thỏa đáng, khích lệ họ ủng hộ và giúp họ bán được mặt hàng một cách hiệu quả.
Chính quyến có một ảnh hưởng quan trọng bên ngoài khác đến quyết định giá. Các
nhà tiệp thị cần phải biết những luật lệ đang ảnh hưởng đến giá. Và chắc chắn được
rằng các chính sách giá của mình là vững vàng và hợp lệ.
Tóm lại các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động tới sự hình thành giá có mối liên
hệ mật thiết và qua lại lẫn nhau.Trong đó các yếu tố bên ngoài đồng thời tác động đến
cả các yếu tố bên trong và cả quá trình hình thành giá. Chúng ta không thể xem xét
thông tin theo dõi những biến động về giá cả sản phẩm của doanh nghiệp và phân tích
đánh giá những tác động của các yếu tố hình thành giá, doanh nghiệp sẽ phải đưa ra
những đánh giá chính xác hiện trạng của hệ thống giá trong mối liên hệ về hoàn cảnh
thị trường nhất định. Công việc tiếp theo của doanh nghiệp là phải xác định những
nguyên nhân chủ yếu của những thay đôỉ đã nói ở trên. Việc kiểm tra giá rất quan
trọng, nó giúp cho doanh nghiệp tránh được những sai lầm và nhận biết được những
phản ứng từ các đối tác kinh doanh, khách hàng hay các đối thủ cạnh tranh về hàng
hoá mình đang cung cấp trên thị trường.Và doanh nghiệp còn nhận biết được hiệu quả
của việc tổ chức thực hiện những chính sách giá.
2.3.4. Các kiểu chiến lược giá
Các doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh thì không chỉ xây dựng một mức giá
bán duy nhất cho sản phẩm mà cần phải xây dựng cho mình những chiến lược giá để
có thể thích ứng một cách nhanh chóng với thay đổi của các yếu tố bên ngoài và bên
trong ảnh hưởng đến giá. Xác định giá cho sản phẩm mới mỗi khi đưa ra thị trường
một sản phẩm mới, thì việc quan trọng là định giá cho sản phẩm mới đó. Đây là một
công việc cực kỳ quan trọng, nó gắn với giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm, và
nó có vai trò rất lớn cho việc chu kỳ sống sản phẩm dài hay ngắn.Tuỳ thuộc và sản
phẩm mới của doanh nghiệp đưa vào thị trường như thế nào mà doanh nghiệp có thể
lựa chọn một trong hai chiến lược về giá sau:
- Chiến lược hớt váng
Khi áp dụng chiến lược định giá “ hớt phần ngon” thì doanh nghiệp thường đưa
ra mức giá bán sản phẩm ở mức cao nhất có thể đạt được, ở những giai đoạn thị
trường mà người mua sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới đó. Nhưng khi mức tiêu thụ
giảm xuống thì doanh nghiệp lại giảm giá xuống để thu hút nhóm khách hàng vốn đã
nhạy cảm về giá. Với phương pháp này, doanh nghiệp có sản phẩm mới đã thu hút
được phần tối đa về doanh thu ở các đoạn thị trường khác nhau. Muốn đạt được mục
tiêu như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu và xem xét rất kỹ về đặc tính của
sản phẩm mới, các nguồn lực của mình, cầu thị trường về sản phẩm mới và khả năng
chấp nhận của khách hàng về mức giá đặt ra của công ty. Chiến lược “hớt phần ngon”
chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp sau:
hoá, các mặt hàng tuy khác nhau nhưng lại có liên quan với nhau theo góc độ cầu và
chi phí, lại còn phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh theo từng mức độ khác nhau.
Định giá cho chủng loại hàng hoá định giá cho chủng loại hàng hoá tức là định giá
cho những sản phẩm có cùng một chức năng tương tự và được bán cho cùng một
nhóm người tiêu dùng. Khi định giá cho chủng loại hàng hoá, các bậc giá phải tính
đến chênh lệch về giá thành, các cách đánh giá của khách hàng về tính năng của sản
phẩm mới và giá của đối thủ cạnh tranh.
III. Phân tích các chính sách thay đổi giá Iphone của apple
3.1. Giới thiệu tập đoàn Apple và sản phẩm Iphone
3.1.1. Lịch sử hình thành tập đoàn Apple
Năm 1976, bắt đầu tại một gara nhỏ, Apple đã đặt nền tảng cho máy tính cá nhân
ngày nay. Từ một bộ sản phẩm nghiệp dư được yêu thích, Apple II đã trở thành sản
phẩm bán chạy nhất vào thời điểm đó. Khi IBM cho ra mắt máy tính cá nhân đầu tiên,
Apple cho ra mắt một chiến dịch quảng cáo với thông điệp: “Welcome,
IBM.Seriously”.