chi nsnn và vai trò của chi nsnn đối với sự nghiệp cnh - hđh đất nước - Pdf 13

Lời mở đầu
Trải qua một thời gian dài thực hiện chính sách đổi mới và chủ trơng mở
cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nớc. Nền kinh tế nớc ta bớc đầu đã đem lại
những thành tựu nhất định và đã làm cho bộ mặt kinh tế nớc ta có những chuyển
biến đáng kể. Đời sống của nhân dân không ngừng đợc nâng cao, tuy nhiên về
các chỉ tiêu Việt Nam hiện vẫn đang là một trong các quốc gia kém phát triển
nhất khu vực. Hiện vẫn đang là một nớc nghèo và có nguy cơ tụt hậu so với các
nớc trong khu vực và trên thế giới. Để có thể vơn lên đạt trình độ ngang hàng với
các quốc gia khác nớc ta cần phải đạt đợc một tốc độ tăng trởng kinh tế cao và
bền vững trong thời gian tơng đối dài. Vấn đề đặt ra cho Việt Nam hiện nay là
phải tìm ra các giải pháp thích hợp để đạt tới tốc độ tăng trởng cao, bền vững.
Động lực chính của sự tăng trởng kinh tế đó là sự khởi động của cơ chế thị trờng
và mở cửa cho các hoạt động đối ngoại. Những nhân tố này trong những năm tới
vẫn tiếp tục có những tác động tốt. Nhng nếu chỉ với những tác động đó thì khó
có thể đạt tới mức tăng trởng mạnh mẽ nh đã có. Để có một tốc độ tăng trởng
cao hơn nền kinh tế Việt Nam cần có một lực đẩy mạnh mẽ hơn nữa, lực đẩy đó
chỉ có thể có đợc nhờ đẩy mạnh công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc, tạo ra
một sự chuyển đổi căn bản trong cơ cấu kinh tế theo hớng hiện đại.
Rõ ràng đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá không phải là việc của
riêng một bộ phận, một giai cấp mà là sự nghiệp trọng đại của nhân dân ta, đất n-
ớc ta. Sự nghiệp của toàn dân, do dân thực hiện nhằm mục đích làm cho dân giàu
nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Vì vậy công nghiệp hoá - hiện đại hoá là
một việc làm cần thiết và cấp bách.
Cũng chính vì sự cần thiết và cấp bách của công cuộc công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đã và đang đặt ra những yêu cầu về đổi mới cơ chế, chính sách tài
chính nói chung và phân phối sử dụng quỹ ngân sách - chi ngân sách nói riêng.
Để tạo lập ra sự ổn định của môi trờng kinh tế vĩ mô; tạo lập phân phối có hiệu
quả các nguồn lực tài chính toàn xã hội. Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đòi hỏi
một nguồn vốn lớn lao, hơn nữa kinh tế Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo đối với sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Chúng ta huy động nguồn tài chính trên
phạm vi rộng lớn từ trong và ngoài nớc, tạo lập quỹ Ngân sách Nhà nớc (NSNN)

Công nghiệp hoá ở Việt Nam đợc Đảng ta chính thức nêu trong văn kiện đại
hội lần thứ III (9/1960) và đợc coi là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhng do nhiều nguyên nhân trong đó có việc nhận thức
và quan niệm cha đúng về nội dung cũng nh bớc đi của công nghiệp hoá trong
điều kiện mới của quốc gia và quốc tế nên đã triển khai chiến lợc này theo mô
hình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kiểu khép kín và u tiên phát triển công
nghiệp nặng ngay từ đầu một cách tràn lan, hiệu quả rất thấp.
Nớc ta lựa chọn con đờng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ t
bản và với xuất phát điểm rất thấp là một nền kinh tế nông nghiệp, công nghiệp
thủ công lạc hậu cho nên việc thực hiện CNH - HĐH trở thành một nhiệm vụ cực
kỳ khó khăn và phức tạp. Thực tiễn 20 năm xây dựng nền công nghiệp ở miền
Bắc và 15 năm phát triển công nghiệp trong cả nớc, bên cạnh những thành công
còn có không ít thất bại, đa đến cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc về công
nghiệp hoá, ba vấn đề đặt ra cho nớc ta là:
Thứ nhất: Tại sao cần phải công nghiệp hoá ?
Thứ hai: Có thể thực hiện thành công công nghiệp hoá đợc không ?
Thứ ba: Con đờng, mục tiêu nội dung và bớc đi CNH - HĐH ở Việt Nam
cần phải lựa chọn là gì ?
Sự cần thiết khách quan phải tiến hành CNH - HĐH ở nớc ta bắt nguồn từ
đòi hỏi khắc phục tình trạng đói nghèo lạc hậu, phát triển kinh tế xã hội để giữ
vững nền độc lập dân tộc.
Từ đầu thế kỷ XX, dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta
đã đợc thức tỉnh và đã bền bỉ tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải
phóng đất nớc khỏi ách nô lệ và ngoại xâm. Cho đến mùa xuân năm 1975, dân
tộc Việt Nam đã bớc vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của hoà bình, độc lập,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Thắng lợi đó đã khẳng định sức mạnh cũng nh
xác định vị trí của Việt Nam trên bản đồ quốc tế nhng cũng đặt ra cho toàn thể
dân tộc một thách thức mới làm sao để khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu
và phát triển kinh tế để làm cơ sở cho nhiệm vụ củng cố và bảo vệ hoà bình, độc
lập dân tộc. Nh vậy, để thoát ra khỏi sự trì trệ và phát triển nền kinh tế thì CNH -

Ngày nay các nớc phát triển không những có cơ cấu công - nông nghiệp
hiện đại mà thậm chí còn có khu vực sản xuất dịch vụ rất phát triển, không
những phát triển kinh tế trong nớc mà còn tích cực tham gia vào xu hớng quốc tế
hoá, tham gia vào quá trình phân công và hợp tác quốc tế. Nh vậy, chúng ta cần
phải sớm có chiến lợc cơ cấu kinh tế thị trờng phù hợp với điều kiện dân tộc và
quốc tế cuối thế kỷ này. Đây phải là bản thiết kế tổng thể nền kinh tế Việt Nam,
là sự hớng dẫn các nguồn đầu t một cách chủ động, nhằm thẳng vào mục tiêu
tăng trởng và phát triển. Đây là giải pháp đầu tiên để tránh nguy cơ tụt hậu ngày
càng xa hơn, vơn tới trình độ hiện đại. Chúng ta phải nhanh chóng thực hiện tiến
trình cải tạo sâu sắc cơ cấu kinh tế, chuyển từ nền nông nghiệp lạc hậu sang nền
kinh tế đợc tổ chức theo kiểu công nghiệp, dựa trên kỹ thuật máy móc và công
nghệ hiện đại. Quá trình cải tổ cơ cấu đó chỉ có thể thực hiện chủ yếu bằng CNH
- HĐH trên cơ sở tác động của công nghiệp để phân công lại lao động bố trí lại
ngành nghề phân bố lại dân c, làm cho công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát
triển một cách cân đối tạo khả năng tham gia thị trờng quốc tế.
CNH - HĐH là quá trình tạo lập và đổi mới toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ
thuật, công nghệ và cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, dựa trên sự ứng dụng rộng
rãi những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nhằm tạo ra sự phát
triển về chất của lực lợng sản xuất và năng suất lao động xã hội, biến nớc nông
nghiệp lạc hậu thành nớc có công nghiệp, nông nghiệp và kết cấu hạ tầng hiện
đại, có khoa học giáo dục và văn hoá tiên tiến.
CNH - HĐH tạo ra lực lợng sản xuất mới về chất, và trên cơ sở đó dẫn đến
hệ quả hình thành nhiều mối quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị trong toàn xã hội.
Thật vậy, trên cơ sở lực lợng sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa từng bớc đợc hình thành, đời sống nhân dân sẽ dần dần đợc cải thiện; liên
minh công nông trí thức và chính quyền Nhà nớc sẽ đợc củng cố và kiện toàn,
cách mạng t tởng và văn hoá sẽ có những điều kiện để thực hiện; giai cấp công
nhân đợc trởng thành về số lợng và chất lợng; sự cách biệt giữa lao động chân
tay và lao động trí óc giảm dần, nông thôn và thành thị xích lại gần nhau; sự bình
đẳng giữa các dân tộc trong nớc từng bớc đợc thực hiện, việc củng cố và tăng c-

sau. Chúng ta không chỉ tiếp nhận đợc những công nghệ hiện đại mà chúng ta
còn rút ra đợc nhiều bài học kinh nghiệm quý giá của những nớc đi trớc nh kinh
nghiệm về tiếp nhận chuyển giao công nghệ, thu hút vốn đầu t, bảo vệ môi trờng
v.v Những kinh nghiệm thành công và những kinh nghiệm không thành công
đều cần thiết và bổ ích đối với chúng ta.
Chúng ta nằm ở trung tâm Đông Nam á - một khu vực đang phát triển rất
năng động với tốc độ cao. Đây là yếu tố giúp chúng ta có điều kiện để khai thác
tốt u thế về vị trí do chịu ảnh hởng của quy luật lây lan để thúc đẩy quá trình
CNH - HĐH.
Điều thay đổi quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh lạnh là xu hớng đối
thoại, hợp tác vì sự phát triển đã gia tăng và ngày càng chi phối các quan hệ quốc
tế chính xu hớng này đã tạo ra 1 cơ hội mới để các nớc đi sau có thể tận dụng ở
mức cao hơn các u thế của thị trờng thế giới cho quá trình công nghiệp hoá rút
ngắn của nớc mình.
b, Xét về mặt trong n ớc.
Đất nớc sau hơn 10 năm thực hiện đổi mới đã thoát ra khỏi những cuộc
khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Nhiều tiền đề cần thiết cho CNH - HĐH
đã đợc tạo ra. Chúng ta đã và đang có những thế và lực mới, cả bên trong lẫn bên
ngoài, để bớc vào một giai đoạn phát triển mới.
Tài nguyên thiên nhiên nớc ta đa dạng và phong phú. Tuy trữ lợng của các
loại tài nguyên không lớn và trữ lợng trên bình quân đầu ngời không cao nhng sự
phong phú của các loại tài nguyên giúp chúng ta có thể phát triển một nền kinh
tế đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn đầu của CNH - HĐH. Nớc ta có
3200 km hồ biển, các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài
phán quốc gia rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, đây là một tiềm năng hết sức to
5
lớn. Nằm ở cửa ngõ của con đờng giao lu quốc tế, nớc ta có thể phát triển các
loại hình vận tải quá cảnh, viễn dơng, dịch vụ hàng hải viễn thông quốc tế
Thực tế cho thấy các nớc công nghiệp mới (NICs) đều là những quốc gia - lãnh
thổ hải đảo, bán đảo có các ngành kinh tế biển là những ngành đóng vai trò mũi

(1)
. Nớc ta lại có một vị
trí quan trọng ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng và biến động nên bị nhiều kẻ
nhòm ngó, đây lại là một khu vực đang có những diễn biến phức tạp, mà đang
tiền ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định.
Dấu ấn của cơ chế quản lý cũ, cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp cha đợc xoá bỏ hết; cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc còn đang
trong quá trình hình thành. Quản lý KTXH còn nhiều yếu kém, thủ tục hành
chính rờm rà; bộ máy quản lý cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả Việc thu hút
đầu t, chuyển giao công nghệ vì thế mà cũng bị hạn chế rất nhiều. Đặc biệt, tệ
nạn quan liêu, tham nhũng và những dấu hiệu suy thoái về phẩm chất, đạo đức
của 1 bộ phận cán bộ, Đảng viên đã làm cho các chủ trơng chính sách của
Đảng và Nhà nớc là thi hành sai lệch dẫn tới chệch hớng, đó cũng là mảnh đất
thuận lợi cho diễn biến hoà bình.
Nói đến CNH - HĐH thì chìa khoá hay điều kiện hàng đầu quyết định đến
tính khả thi cũng nh sự thành công của chiến lợc là vốn. Từ một diểm xuất
phát quá thấp, bớc vào CNH - HĐH, khả năng huy động vốn phục vụ cho quá
1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia - Hà Nội 1996.
6
trình này là rất hạn chế. So sánh với các nớc công nghiệp mời Đông á và một số
nớc Đông Nam á, tỷ lệ tích luỹ và đầu t của Việt Nam đều thấp hơn nhiều. Điều
đó cho thấy việc huy động vốn đầu t cho phát triển kinh tế của ta tuy đã có
những kết quả ban đầu nhng vẫn còn là 1 lĩnh vực nóng bỏng và là một thách
thức lâu dài đối với quá trình CNH - HĐH. Hiện nay trong tổng số vốn dùng để
đầu t xây dựng cơ bản của Nhà nớc thì vốn trong nớc chỉ có 25% còn 75% là vay
của nớc ngoài. Quản lý và sử dụng kém hiệu quả cùng với tham nhũng sẽ dẫn
nguy cơ mất khả năng trả nợ và các thế hệ mai sau sẽ trả nợ cho chính chúng ta
ngày hôm nay.
Khó khăn phải để đến nữa là sự vấn đề công nghệ, sự lạc hậu về công nghệ

Sự sơ hở trong quản lý sẽ dễ dẫn đến thất thoát vốn trong đầu t xây dựng cơ bản,
chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm đau đơn trong tiếp nhận chuyển giao
công nghệ nớc ngoài. Nếu không nâng cao trình độ và năng lực cũng nh lơng
tâm, trách nhiệm của đội ngũ những ngời quản lý, nguy cơ đất nớc biến thành
một bãi thải công nghệ cho các nớc giàu là nhận tiền. Ngoài ra, cũng do sự kém
cỏi trong năng lực quản lý, chúng ta rất dẽ bị lừa. Bởi vì nhiều công ty nớc ngoài
khi khai thác hết tiềm năng rồi cũng tạm biệt anh. Lúc đó anh vẫn có 1 nhà máy
nhng đó là những đồ bỏ đi. Lúc đó anh vẫn có 1 nhà máy nhng đó là những đồ
bỏ đi. Nh vậy đất nớc sẽ có những ngôi nhà trống rỗng chứ không phải là nền
kinh tế, không phải là sự thịnh vợng. Đây là một thách thức lớn đối với nớc ta.
Nhìn chung những khó khăn ban đầu và sẽ phát sinh trong CNH - HĐH ở
nớc ta là rất lớn, song mặt thuận lợi vẫn là cơ bản. Với đờng lối CNH - HĐH
7
đúng đắn, chắc chắn sự nghiệp vĩ đại, nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội này ở nớc ta sẽ giành thắng lợi.
2-/ Nội dung CNH - HĐH.
2.1. Nội dung của công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam.
Công nghiệp hoá ở Việt Nam đợc Đảng ta chính thức nêu trong văn kiện đại
hội lần thứ III (9/1960) và coi là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ
tiến lên CNXH. Nhng do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc nhận thức và quan
niệm cha đúgn về nội dung cũng nh bớc đi của công nghiệp hoá trong điều kiện
mới của quốc gia và quốc tế nên đã triển khai công nghiệp hoá theo mô hình xây
dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kiểu khép kín và u tiên phát triển công nghiệp
nặng ngay từ đầu 1 cách tràn lan dẫn đến hiệu quả rất thấp.
Đến những năm đầu thập niên 80 chúng ta đã có sự điều chỉnh lớn và đến
đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề 3 chơng trình mục tiêu, dần dần tiếp cận một
cách khoa học về công nghiệp hoá phù hợp với thực tiễn nớc ta. Song trong thực
tế triển khai còn mang nặng tính chất đối phó với những khó khăn và mất cân đối
nghiệm trong trớc mắt hơn là sự chuẩn bị những điều kiện tiền đề, cơ bản cốt lõi
cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nớc.

cách mạng khoa học - công nghệ nhằm trang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho
nông nghiệp và các ngành của nền KTQD.
8
Hai là: CNH - HĐH ở nớc ta cũng nh quá trình tạo lập cơ cấu kinh tế mới,
nòng cốt là cơ cấu công - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại.
Nh vậy, xét về mặt cơ cấu kinh tế, nội dung của CNH - HĐH từ thập niên
90 trở đi là xây dựng một cơ cấu kinh tế đa dạng trong đó cốt lõi là cơ cấu nông
lâm ng nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ nhằm khai thác mọi tiềm năng
về lao động, đất đai và các nguồn tài nguyên khác để tăng nhanh nguồn hàng cho
tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu. Đồng thời đẩy mạnh phát triển một số ngành
công nghiệp nặng quan trọng phục vụ đắc lực cho phát triển nông nghiệp, công
nghiệp hàng tiêu dùng, hàng XK và chuyển dịch cơ cấu nên KTQD thành cơ cấu
công - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại.
2.2. Các giải pháp đối với chiến lợc CNH - HĐH.
Quá trình CNH - HĐH đất nớc về cơ bản là tiến hành cải biến cách mạng
trên cả hai mặt hữu cơ của nền kinh tế.
- Một mặt, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trên cơ sở công nghệ mới. Từ
tình trạng kỹ thuật và công nghiệp lạc hậu với năng suất lao động thấp từng bớc
xây dựng cơ sở vật chất kinh tế với công nghiệp hiện đại. Trong quá trình nếu
liên kết hợp nhiều trình độ công nghiệp, đồng thời tranh thủ tiếp thu nhanh các
công nghiệp tiên tiến.
- Mặt khác, cải tổ cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế của nền KTQD, từ tình
trạng cơ cấu sản xuất đơn điệu, lạc hậu, khép kín từng bớc hình thành cơ cấu sản
xuất, cơ cấu kinh tế đa dạng, hiện đại, mở cửa. Trong quá trình đi lên, thực hiện
kết hợp nhiều ngành nghề, nhiều loại hình kinh tế, nhiều quy mô và trình độ sản
xuất khác nhau, đồng thời tranh thủ mọi khả năng thực hiện hiện đại hoá. Để
thực hiện CNH - HĐH thắng lợi, phải tiến hành đồng bộ các giải pháp để khai
thác có hiệu quả nguồn lực trong và ngoài nớc. Trong tổng thể các giải pháp cần
thực hiện thì các giải pháp cơ bản nhất là:
+ Thứ nhất, tạo vốn và sử dụng vốn hợp lý: Vốn cho CNH - HĐH đợc xem

toán nạn mù chữ ở độ tuổi 15 - 35 và thu hẹp diện mù chữ ở các đối tợng khác;
tăng tỷ lệ số ngời tốt nghiệp phổ thông cơ sở lớp 9 trong độ tuổi lao động lên đến
55 - 60%, tỷ lệ ngời đợc đào tạo trong tổng số lao động lên 22 - 25% vào năm
2000 và phát hiện bồi dỡng, trọng dụng nhân tài, tránh chảy máu chất xám.
+ Thứ t, phát triển kết cấu hạ tầng:
Phát triển kết cấu hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với CNH -
HĐH, đến việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài kết cấu hạ tầng bao gồm năng l-
ợng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc trớc hết ở các điểm nút mở ra với thị
trờng thế giới và gắn liền với các trung tâm phát triển kinh tế hớng ngoại của đất
nớc kinh nghiệm của các nớc NICs và ASEAN đều cho thấy rằng, ở đâu hệ
thống năng lợng, giao thông vận tải và liên lạc hiện đại, lao động đợc đào tạo tốt
thì ở đó công nghiệp, dịch vụ đều phát triển nhanh và hiệu quả.
+ Thứ năm, ổn định kinh tế vĩ mô, hoàn thiện cơ chế thị trờng.
ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố quan trọng cho sự tăng trởng kinh tế, thu
hút đầu t. Kinh nghiệm của các nớc NIEs đều cho thấy đảm bảo ổn định kinh tế
vĩ mô cùng với đầu t vào yếu tố con ngời và kinh tế hớng ngoại đảm bảo cho sự
thành công của quá trình CNH - HĐH.
Việc hoàn thiện cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc cùng với nó là
sự hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc có vai trò quan trọng trong
việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, phát huy sáng kiến, kích thích
cải tiến và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất thúc đẩy tăng trởng kinh
tế và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng. Việc cải cách bộ máy hành
chính, chống quan liêu tham nhũng làm cho bộ máy Nhà nớc hoạt động có hiệu
quả có tác động trực tiếp đến mọi vấn đề trong tiến trình CNH - HĐH làm cho
chính sách của Đảng và Nhà nớc đợc thực hiện có hiệu quả, là cơ sở niềm tin cho
nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và do đó có thể huy động đợc các nguồn lực
của đất nớc, của nhân dân vào sự nghiệp CNH - HĐH bởi vì CNH - HĐH là sự
nghiệp của toàn dân
(3)
2.3. Mục tiêu của CNH - HĐH.

Thứ t: Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả
sử dụng các nguồn lực, của phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế vừa phục vụ cho
an ninh, quốc phòng.
Thứ năm, kết hợp phát triển các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác
tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển, phát huy đợc lợi thế của mỗi vùng,
chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trởng giữa các vùng dần dần đợc khắc phục.
Đến năm 2000 phải đạt đợc các chỉ tiêu cụ thể: GDP bình quân đầu ngời
tăng gấp hai lần năm 1990, nhịp độ tăng GDP bình quân hàng năm đạt khoảng 9
- 10% sản xuất nông lâm - ng nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,5 - 5%, công
nghiệp 14 - 15%; dịch vụ 12 - 13%; xuất khẩu tăng 28%, tỷ lệ đầu t/GDP khoảng
30%. Về cơ cấu kinh tế đến năm 2000 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm
khoảng 34 - 35% trong GDP. Nông, lâm - ng nghiệp chiếm khoảng 19 - 20%,
dịch vụ chiếm khoảng 45 - 46%.
11
Chơng 2
Chi ngân sách Nhà nớc và vai trò của chi ngân sách Nhà n-
ớc đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
1-/ Những lý luận chung về NSNN.
1.1. Khái niệm NSNN.
NSNN đợc đặc trng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá
trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nớc - quỹ ngân sách để phục vụ cho
việc thực hiện chức năng của Nhà nớc. NSNN phản ánh hệ thống các quan hệ
kinh tế giữa Nhà nớc và các chủ thể trong xã hội phát sinh do Nhà nớc tạo lập,
phân phối và sử dụng các nguồn tài chính quốc gia nhằm đảm bảo yêu cầu thực
hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nớc theo nguyên tắc không
hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Hai quan niệm phổ biến hiện nay về NSNN cho rằng:
- NSNN là một bản dự toán thu chi tài chính của Nhà nớc trong một khoảng
thời gian nhất định, thờng là 1 năm.
- Quan niệm khác cho rằng: NSNN là quỹ tiền tệ của Nhà nớc, các quan

kinh tế có mục tiêu.
Nội dung cơ cấu chi NSNN khác nhau phụ thuộc vào mỗi một chế độ xã hội,
mỗi một giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên chúng có những đặc điểm chung nh sau:
- Chi NSNN gắn chặt với bộ máy Nhà nớc, và những nhiệm vụ kinh tế,
chính trị xã hội mà Nhà nớc đảm đơng trớc mỗi quốc gia. Nhà nớc với bộ máy
càng lớn, đảm đơng nhiều nhiệm vụ thì mức độ, phạm vi của chi NSNN càng
lớn.
- Chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung mức độ các khoản chi
NSNN là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nớc.
- Hiệu quả các khoản chi NSNN đợc xem xét trên tầm vĩ mô. Điều đó có
nghĩa là phải xem xét một cách toàn diện trên cơ sở hoàn thành các mục tiêu
kinh tế xã hội mà các khoản chi NSNN đảm nhiệm.
- Các khoản chi của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Đặc
điểm này đã thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lợng của
những địa chỉ cụ thể đều đợc hoàn lãi dới các khoản chi của NSNN. Điều này đ-
ợc quyết định bởi chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của Nhà nớc. Tính chất
này giúp phân biệt các khoản chi của NSNN với các khoản tín dụng.
- Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị
khác nh tiền lơng, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và nói chung là phạm trù thuộc
lĩnh vực tiền tệ.
2.2. Những nhân tố ảnh hởng đến cơ cấu, nội dung chi NSNN.
- Chế độ xã hội, đây là nhân tố cơ bản quyết định đến nội dung cơ cấu chi
NSNN cho chế độ xã hội quyết định đến bản chất và nhiệm vụ kinh tế - xã hội
của Nhà nớc. Nhà nớc là chủ thể của NSNN, vì thế nội dung cơ cấu chi NSNN
chịu sự ràng buộc của chế độ xã hội.
- Sự phát triển của lực lợng sản xuất. Đây là nhân tố vừa đặt ra yêu cầu vừa
tạo khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung cơ cấu chi ngân sách hợp
lý trong từng thời kỳ.
- Khả năng tích lũy của nền kinh tế là nhân tố ảnh hởng đến khả năng chi
đầu t phát triển kinh tế của ngân sách, khả năng tích luỹ càng lớn thì khả năng

- Chi phát triển.
Mục đích phân loại này để phân tích đánh giá tình hình thực hiện các chức
năng của Nhà nớc thông qua các khoản chi.
2.4. Những nguyên tắc tổ chức chi NSNN.
- Nguyên tắc thứ nhất: gắn chặt khả năng thu để bố trí các khoản chi.
- Nguyên tắc thứ hai: tiết kiệm, có hiệu quả.
- Nguyên tắc thứ ba: tập trung vốn có trọng điểm.
- Nguyên tắc thứ t: thực hiện phơng châm Nhà nớc và nhân dân cùng làm.
- Nguyên tắc thứ năm: Phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
các cấp theo luật để bố trí các khoản chi thích hợp.
- Nguyên tắc thứ sáu: Kết hợp chặt chẽ chi NSNN với khối lợng tiền tệ, lãi
suất, tỷ gía hối đoái để tạo nên sức mạnh tổng hợp tác động đến kinh tế vĩ mô.
3-/ Vai trò của chi NSNN đối với sự nghiệp CNH - HĐH.
3.1. Thực trạng của chi NSNN
- Trong giai đoạn 1986 - 1995 chính sách phân phối NSNN đã có nhiều đổi
mới tích cực, góp phần quan trọng vào những thắng lợi của nền kinh tế - xã hội.
- Chi ngân sách ngày càng tăng đã phục vụ có kết quả việc thực hiện các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ cơ cấu chi đã từng bớc thay đổi một
cách hợp lý hơn, tình trạng bao cấp qua chi ngân sách đợc thu hẹp dần.
- NSNN coi trọng đầu t cho phát triển, tiết kiệm chi tiêu dùng tăng chi tích
luỹ cho đầu t phát triển. Năm 1994 thặng d thu chi thờng xuyên của NSNN dành
cho đầu t đã đạt 3,4% so với GDP chiếm 55% tổng chi của NSNN cho đầu t phát
triển tăng gấp 3 lần so với năm 1990, 2 lần so với năm 1991. Trong năm 1999,
chi đầu t phát triển tăng 38,7% so với dự toán. Số tăng chi này chủ yếu là để thực
hiện kích cầu thông qua việc bổ sung vốn cho các công trình cơ sở hạ tầng, phát
14
triển nông nghiệp, nông thôn, kiên cố hoá kênh mơng, xây dựng giao thông ở
các tỉnh miền núi, vùng cao, vùng sâu và củng cố nhiều khó khăn, cũng trong
năm 1999, chi thờng xuyên đạt 102,1% dự toán năm. Trong đó chú trọng tăng
chi cho giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ nh tinh thần nghị quyết TW 2,

quan trọng đặc biệt, giúp cho tiền vốn chi ra của NSNN đợc sử dụng vào mục
đích đã định một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất. Nhờ những quy định chặt
chẽ này, việc điều hành NSNN trở nên có hiệu quả hơn và chi mua sắm, sửa chữa
của các đơn vị đã đợc quản lý một cách chặt chẽ bằng cơ chế đấu thầu (đối với
hợp đồng có giá trị > 100 triệu. Đối với các khoản chi thờng xuyên khác thì thủ
trởng đơn vị sử dụng ngân sách phải tự chịu trách nhiệm, KBNN chỉ kiểm tra
thanh toán theo bảng kê chứng từ, chính vì vậy đã tạo ra tính chủ động cho đơn
vị thụ hởng ngân sách, tạo sự thông thoáng trong việc quản lý chi thờng xuyên
của đơn vị.
Bên cạnh những kết quả đã đạt đợc, chi ngân sách còn những tồn tại và hạn
chế sau:
- Quản lý NSNN thiếu tập trung, thống nhất: nhiều nguồn lực tài chính
không đợc động viên vào NSNN còn phân tán chia cắt, sử dụng hết sức lãng phí,
kém hiệu quả đặc biệt là tài nguyên, khoáng sản, đất đai, nhà cửa và các loại bất
động sản khác bị mất mát, tổn thất rất lớn, một bộ phận không nhỏ đã biến thành
tài sản phờng hội của một nhóm ngời và cá nhân.
15
- Mặc dù tốc độ thu ngân sách tăng nhanh, liên tục song tình hình chi ngân
sách vẫn luôn căng thẳng, vì tiềm lực của ngân sách vẫn còn rất hạn chế nhng
phải chịu sức ép tăng chi của cả chi đầu t phát triển và chi thờng xuyên. ở đây
cần phải nói thêm rằng, giai đoạn trớc khi có luật NSNN (từ năm 1990 đến
1996), việc cấp phát ngân sách bằng lệnh chi tiền của cơ quan tài chính còn khá
phổ biến ở các cấp ngân sách, đặc biệt là ngân sách cấp tỉnh, huyện. Trong trờng
hợp này, tiền của NSNN đợc chuyển thẳng vào tài khản tiền gửi của đơn vị dự
toán, tồn quỹ ngân sách bị giảm trong khi đơn vị cha sử dụng ngay số tiền đó.
Điều đó một mặt gây căng thẳng giả tạo cho NSNN, mặt khác cơ quan tài chính,
kho bạc Nhà nớc rất khó khăn trong việc kiểm tra giám sát quá trình chi tiêu của
đơn vị.
- Việc quản lý NSNN vẫn còn nhiều yếu kém, nhiều khoản chi sai chế độ,
tiêu chuẩn, định mức. Định mức chi không đúng hoặc không rõ ràng, việc cấp

trực tiếp đối với khả năng tăng trởng kinh tế và đặc biệt là đối với sự nghiệp
CNH - HĐH sẽ bị ảnh hởng.
- Tuy nhiên trong tất cả các giai đoạn, tỷ trọng chi tiêu dùng chiếm tỷ trọng
cao trong tổng số chi của NSNN. Tỷ trọng chi tiêu dùng có xu hớng tăng trong
từng giai đoạn và tỷ trọng chi tích luỹ có xu hớng giảm đi tơng xứng, thể hiện
qua bảng sau:
16
Bảng 1 - Bảng cơ cấu và tỷ trọng chi NSNN
Giai đoạn Tổng số chi NSNN
Trong đó
Chi tích lũy (%) Chi tiêu dùng (%)
1956 - 1960 100 54,4 45,6
1961 - 1965 100 56,3 43,7
1966 - 1970 100 46,9 53,1
1971 - 1975 100 40,8 59,2
1976 - 1980 100 39,2 60,8
1981 - 1985 100 31,2 68,8
1986 - 1990 100 33,7 66,3
Nếu tính tổng hợp tất cả các giai đoạn thì chi tích luỹ có tỷ trọng là 43,2%,
chi tiêu dùng chiếm 56,8%. Nếu xét cụ thể từng giai đoạn 1956 - 1960 và 1961 -
1965 tỷ trọng chi tích lũy đạt trên 50%, chi tiêu dùng đạt dới 50%. Từ năm 1966
- 1970 tỷ trọng chi tích luỹ đã giảm mạnh và tỷ trọng chi tiêu dùng tăng lên gần
70%. Đặc biệt trong năm 1990 tỷ trọng chi tích luỹ hạ xuống rất thấp đợc thể
hiện bảng 1.
2-/ Vai trò của chi NSNN đối với sự nghiệp CNH - HĐH đất nớc.
NSNN phải động viên hợp lý ở mức cao nhất các nguồn lực của nền kinh tế
- xã hội. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa động viên tạo ra nguồn lực mạnh để
Nhà nớc có điều kiện thực hiện những nhiệm vụ chiến lực, với việc bảo đảm tích
tụ vốn trong doanh nghiệp, dân c để họ có thể mở rộng phát triển sản xuất kinh
doanh, tạo tích luỹ ngày một lớn cho đất nớc. Trong những năm trớc mắt, NSNN

kinh tế. Đặc biệt ở các nớc đang phát triển, vai trò của Nhà nớc trong việc cấp
vốn đầu t ban đầu để hoàn thiện cơ sở kinh tế hạ tầng, hình thành các ngành
công nghiệp. Then chốt, là hết sức to lớn để mở đờng và định hớng phát triển cho
toàn bộ nền kinh tế - xã hội.
Nhất là đối với sự nghiệp CNH - HĐH, mặc dù vậy không phải khoản đầu t
nào của Nhà nớc cũng góp phần kích thích hoặc làm tăng nhịp độ tăng trởng t t-
ởng chủ quan, nóng vội thờng là nguyên nhân của những quyết định sai lầm và
lãng phí. Thực tế cũng ghi nhận một hiện tợng mang tính chất quốc tế ở các n-
ớc đang phát triển là nền kinh tế kém phát triển, vốn đầu t của Nhà nớc càng bị
phân tán và càng bị hớng vào những lĩnh vực thiếu vốn.
Trong mấy năm gần đây, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ý kiến cho rằng
Nhà nớc chỉ nên dùng nguồn kinh phí của ngân sách để cấp phát cho các nhu cầu
tiêu dùng thuộc chức năng của mình, không nên bao cấp tràn lan, và nhất là
không nên để cho các nhà đầu t t nhân và các thành phần kinh tế khác thực hiện,
về mặt nguyên tắc, quan điểm này có thể hợp lý nhng nếu nhìn lại thực trạng
kinh tế Việt Nam và khả năng nguồn vốn thì nhiều vấn đề còn phải xem xét lại.
Nếu theo quan điểm này thì e rằng Việt Nam sẽ khó thực hiện CNH - HĐH.
Trong phần phân tích về CNH - HĐH ta biết rằng: Chiến lợc ổn định và
phát triển kinh tế đặt ra yêu cầu tăng cờng hơn nữa nhịp độ gia tăng của tổng sản
phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, sớm đa đất nớc thoát khỏi tình trạng nghèo
đói, cần phải đẩy mạnh CNH - HĐH. Để đạt đợc yêu cầu này, dứt khoát phải có
vốn đầu t. Theo tính toán của các nhà kinh tế, thì trong giai đoạn đầu, một nền
kinh tế còn yếu kém, muốn vơn lên, phải có nhịp độ gia tăng vốn đầu t cao hơn
nhịp độ tăng trởng kinh tế. Ngời ta cũng tính đợc rằng muốn giữ tốc độ tăng tr-
ởng ổn định ở mức 6%/năm (mức tối thiểu để thoát khỏi cảnh nghèo đói) thì một
nớc có thu nhập thấp phải có vốn đầu t hàng năm lớn hơn 15% GDP (với ICOR =
2,5%) và 22,5% (với ICOR = 3,75%) trong đó ICOR là tỷ lệ gia tăng vốn so với
tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm xã hội.
Một vấn đề đặt ra là vốn lấy ở đâu ? Về mặt lý thuyết thì tổng số vốn cho
nền kinh tế (vốn đầu t đợc hình thành từ 2 nguồn: nguồn trong nớc V

) + (V
TT
+ V
VT
)
Tất cả các nguồn vốn trên sẽ đợc tập trung vào hai khu vực đầu t. Đầu t của
Nhà nớc và đầu t của t nhân. Đầu t của Nhà nớc đợc lấy từ nguồn tiết kiệm của
Nhà nớc, vay dân, vay và viện trợ nớc ngoài, đầu t của t nhân lấy từ nguồn vốn tự
có của các nhà đầu t trong nớc, vốn đầu t thông qua huy động cổ phần, liên
doanh. Tuy nhiên trong 2 khu vực đó thì đầu t Nhà nớc vẫn giữ vai trò quyết định
18
trong nhiều mặt đối với công trình đầu t quan trọng và cần thiết để tạo điều kiện
phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và các công trình cần nhiều vốn nhng hiệu
quả kinh tế thấp và thời gian thu hồi vốn dài, không thu hút đợc các nhà đầu t t
nhân (trong và ngoài nớc) nh các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, các công trình
nhằm cung cấp dịch vụ cho sản xuất và tiêu dùng (điện, nớc).
Chúng ta sẽ làm sáng tỏ hơn khi phân tích cụ thể về các khoản chi đầu t.
+ Trớc hết là vốn đầu t cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong sự nghiệp CNH -
HĐH thì nhu cầu đầu t cho kết cấu hạ tầng đã thực sự trở nên cấp bách, vì hệ
thống này hiện nay đã ở trong tình trạng xuống cấp nặng nề, không những không
đáp ứng nhu cầu giao lu hàng hoá ở trong nớc mà còn quá lạc hậu so với nhu cầu
chung của thế giới. Để cải tạo, nâng cấp xây dựng mới các công trình thuộc hệ
thống này (kể cả các công trình giao thông, bu điện ) cần thiết phải có lợng vốn
rất lớn.
Về cơ sở hạ tầng, chi NSNN phải đảm bảo vốn để thực hiện các dự án sau:
Trong 10 - 20 năm tới việc hiện đại hoá bu chính viễn thông phải đi trớc
một bớc, đảm bảo sự giao lu thông suốt giữa các trung tâm kinh tế, các thành
phố và các vùng kinh tế trong cả nớc với các quốc gia khác trên thế gioiứ.
Trong thời gian tới phải tập trung nâng cấp sân bay quốc tế: Nội Bài, Tân
Sơn Nhất, Đà Nẵng, đạt trình độ quốc tế; nâng cấp các sân bay thuộc các thành

Chính sách tài chính nói chung và chính sách chi ngân sách nói riêng đối
với các doanh nghiệp then chốt phải đợc coi trọng. Đồng thời với việc xúc tiến
nhanh quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc nh hiện nay là việc quản lý
đối với những doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu công ích, chẳng hạn đối với
một số sản phẩm do các doanh nghiệp này sản xuất ra mà Nhà nớc khống chế
mức đầu ra (điện, xăng dầu ) thì Nhà nớc nên để các doanh nghiệp thực hiện
hạch toán đầy đủ giá đầu vào của các nguyên, nhiên vật liệu, lao độg và chỉ
thực hiện bù lỗ ở một khâu, hoặc tài trợ phần chênh lệch giữa giá bán thực tế trên
thị trờng với giá quy định chứ không tài trợ tràn lan nh hiện nay.
+ Vốn đầu t cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Ngoài chính sách
thơng mại và thuế quan thì NSNN không ngừng đầu t hỗ trợ cho các doanh
nghiệp này thực hiện chiến lợc hớng về xuất khẩu. Trên thực tế để thực hiện vai
trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong thời gian gần đây. Nhà nớc đã có sự can
thiệp mạnh mẽ bằng biện pháp tài chính nh trợ giá hàng xuất khẩu, hàng chính
sách, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nớc làm ăn có hiệu quả v.v
b, Chi th ờng xuyên.
Khoản chi này nằm trong nội dung chi tiêu dùng của NSNN nó không tạo
ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tơng lai mà nó dùng cho tiêu dùng hiện
tại đối với từng cá thể từng bộ phận. Các khoản chi trong lĩnh vực này gắn liền
với chức năng quản lý xã hội và kinh tế của Nhà nớc tập trung vào y tế, giáo dục,
dự trữ, trả nợ, trả lơng.
Về tình hình thực hiện chi đầu t phát triển ở từng địa phơng cụ thể chúng ta
có thể có một cái nhìn khái quát thông qua bảng thống kê tình hình đầu t phát
triển trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ (1991 - 1995) và 1996 - 2000
1991 1992 1993 1994 1995
Tổng số 1.148.190 1.276.050 1.364.830 684.126 1.256.498
Đầu t từ nguồn vốn
XDCB từ NSNN
1.148.190 1.276.050 1.364.830 684.126 1.224.897
+ NSTW 1.036.587 1.091.211 1.107.825 462.854 1.017.798

hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện
đại ở những khâu quyết định. Trong các văn kiện. Đảng ta đã xác định mục tiêu
và động lực chính của sự phát triển xã hội là những con ngời, trớc hết là ngời lao
động, sự phát triển toàn diện của con ngời là nguồn lực quyết định sự tăng trởng
và phát triển nền kinh tế đất nớc, do đó chăm lo phát triển nguồn lực con ngời,
thực hiện công bằng xã hội là một trong những nội dung chủ yếu của CNH -
HĐH thể hiện ở trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo
nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi dỡng nhân tài. Đây là nhiệm vụ phải
thực hiện ngay đồng thời cũng là chiến lợc lâu dài đòi hỏi phải có sự đầu t lớn.
Do đó tỷ trọng chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa
học và kỹ thuật ngày càng tăng lên.
Cụ thể trong cơ cấu thì sự nghiệp của NSNN của các năm 1986 - 1990 nh sau:
Năm 1986 1987 1988 1989 1990
Tổng chi NSNN 100 100 100 100 100
Nghiên cứu khoa học 0,5 0,4 0,5 0,7 1,0
Sự nghiệp đào tạo 2,1 1,8 1,4 2,5 4,1
Sự nghiệp giáo dục 4,0 3,8 2,9 4,9 6,9
Trong chiến lợc 1996 - 2000 yêu cầu bằng chi bình quân hàng năm của giáo
dục đào tạo là 16,8%. Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thực hiện
chính sách u tiên, u đãi đối với giáo dục đào tạo đặc biệt trong đầu t và trong các
chế độ về tiền lơng để nâng cao chất lợng của ngành, có 4 giải pháp để thực hiện
chủ yếu là tăng cờng các nguồn lực trong đó NSNN giữ vai trò quan trọng.
Những thành tựu đạt đợc về mở rộng mạng lới trờng học lên tới 27.613 trờng,
tăng quy mô cả giáo dục mầm non, tiểu học, đại học, 91% dân số biết chữ, đội
ngũ lao động đợc đào tạo cơ bản. Số lợng giáo viên chất lợng đào tạo tăng,
phong trào toàn dân tham gia vào sự nghiệp giáo dục có tiến bộ đáng kể, có đợc
những tiến bộ này là do có sự quan tâm đổi mới công tác quản lý giáo dục đào
tạo. Chi NSNN trợ cấp, hỗ trợ đồng thời làm hoàn thiện củng cố và phát triển
công tác giáo dục song với kinh phí hàng năm cho một trờng phổ thông là 170
triệu đồng và 6 tỷ đồng cho một trờng đại học, nhìn chung nguồn tài chính còn

chiến lợc quốc gia, điều kiện để sánh vai với các cờng quốc năm châu, nên sự
tham gia của Nhà nớc bằng nguồn chi ngân sách là nguồn lực chủ yếu, giải pháp
quan trọng có vai trò to lớn trong phát triển khoa học công nghệ phục vụ CNH -
HĐH đất nớc. Trong ba nguồn đầu t cho khoa học là Nhà nớc, doanh nghiệp và
các tổ chức trong nớc đặt hàng và nguồn từ nớc ngoài vào thì nguồn đầu t từ
ngân sách tăng khá nhanh chiếm 80 - 90% chi phí thờng xuyên của hoạt động
này Nhà nớc cấp tiền cho các hoạt động công nghệ không có nghĩa là bao cấp
toàn bộ mà là tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của cả khoa học công nghệ trớc
tiên là u tiên đầu t và áp dụng những công nghệ cần vốn thấp, tận dụng lợi thế
sẵn có nh công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng,
tranh thủ hiện đại hoá ở một số khâu có ý nghĩa quyết định tới việc nâng cao
trình độ công nghệ ở các ngành khác nh công nghiệp cơ khí, điện tử, chú ý đặc
biệt tới chuyển giao công nghệ tiên tiến thích hợp từ nớc ngoài, chi cho nhập
khẩu máy móc thiết bị hiện đại và phụ tùng 39% tăng bình quân hàng năm 25%.
Ngoài ra NSNN còn cấp vốn cho những dự án không thể trực tiếp thu hồi vốn
đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ nh các thiết bị phục vụ cho việc nghiên
cứu, các xởng sản xuất thử nghiệm tài trợ cho việc nghiên cứu, các xởng sản xuất
thử nghiệm tài trợ cho việc phát huy nng lực của đội ngũ cán bộ khoa học,
khuyến khích ngời làm công tác khoa học bằng những lợi ích chính đáng.
Mặt khác nâng cao năng lực khoa học công nghệ trong những năm tới nhu
cầu về vốn rất lớn. Vì vậy cần đa dạng hoá các nguồn vốn xã hội đầu t cho khoa
học công nghệ, Nhà nớc là nhà đầu t chủ yếu vào các công trình thiết yếu trớc
mắt do điều kiện các nguồn vốn khác còn gặp nhiều khó khăn thì Nhà nớc cần
phải là nguồn bảo trợ chủ yếu, chi ngân sách cho khoa học công nghệ phải từ dới
1% đến 2% tổng chi ngân sách (tơng đơng 0,2% GDP) có nh vậy mới làm cho
khoa học công nghệ trong lĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật phát triển kinh tế theo hớng
công nghiệp hoá mà cả khoa học xã hội phát triển một cách toàn diện cả khoa
học công nghệ phục vụ công nghiệp, nông nghiệp, bảo vệ môi trờng quốc phòng
an ninh Lấy hạnh phúc con ngời làm động lực chủ yếu để thực hiện mục tiêu
của CNH - HĐH là đời sống vật chất và tinh thần cao tăng trởng kinh tế phải

Về y tế, thời gian tới nhu cầu đầu t cho sự nghiệp y tế và chăm sóc bảo vệ
sức khoẻ nâng cao thể chất nhân dân là hơn 31000 tỷ đồng chiếm 1,6 GDP trong
đó NSNN đảm bảo đợc 60% tập trung cấp phát kinh phí cho các hoạt động
phòng chống dịch bệnh và đi đến xoá bỏ các căn bệnh hiểm nghèo. Thực hiện
chơng trình tiêm chủng quốc gia, thanh toán tiền chữa bệnh cho ngời nghèo có
công với nớc, hỗ trợ quỹ bảo hiểm y tế. Ngoài ra chi NSNN trong lĩnh vực y tế
còn có nhiệm vụ sắp xếp lại mạng lới các cơ sở y tế theo hớng giảm bớt đầu mối,
tăng thiết bị và điều kiện khám chữa bệnh, đãi ngộ cán bộ y tế, chơng trình vệ
sinh thực phẩm, môi trờng, hỗ trợ kinh phí thực hiện chơng trình quốc gia về dân
số - kế hoạch hoá gia đình để đạt mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em dới một
tuổi xuống dới 30%, toàn bộ dân c thành thị và 80% dân số nông thôn đợc cung
cấp nớc sạch, 100% số xã có trạm y tế và 40% số trạm y tế xã có bác sĩ tăng tuổi
thọ bình quân lên khoảng 10 tuổi, hạ thấp tỷ lệ tăng dân số xuống 1,8%/năm.
* Từ nhận thức đúng đắn quan điểm công bằng xã hội phải thể hiện ở cả
khâu phân phối hợp lý, t liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất ở
việc tạo điều kiện cho mọi ngời đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực
của mình. Nhà nớc đã hết sức cố gắng trong việc bố trí cho các hoạt động sự
nghiệp và các nhu cầu đảm bảo xã hội thực hiện chức năng trọng yếu nhất của
tài chính là phân phối dới hình thức giá trị, phân phối tài chính đợc tiến hành qua
nhiều hình thức trong đó có các khoản chi của ngân sách, chỉ trả lơng cho cán bộ
công nhân viên thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, an ninh quốc phòng nằm
trong khoản chi tiêu dùng hiện tại, một mặt về phía ngời hởng lơng nó có vai trò
tạo thu nhập đảm bảo đời sống, mặt khác nó đảm bảo vai trò quản lý vĩ mô nền
kinh tế - xã hội của Nhà nớc, thể hiện: Trên phơng diện lý luận tiền lơng là một
yếu tố của quá trình sản xuất và tái sản xuất do quan hệ sản xuất quyết định.
23
CNH - HĐH đặc biệt chú trọng đến nhân tố con ngời khắc phục những hạn chế
của cơ chế thị trờng bằng việc Nhà nớc quy định các hình thức, nguyên tắc phân
phối và trực tiếp chi làm sao đảm bảo tiền lơng của các công chức đáp ứng đợc
các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của bản thân và gia đình chấm dứt tình trạng

hiện ở mối quan hệ chặt chẽ với lạm phát do (hiện tợng thừa tiền trong lu thông)
giá cả hàng hoá tăng, thiếu hàng hoá. Vì vậy khi lạ phát xẩy ra Nhà nớc thực
hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là cắt giảm các khoản chi tiêu của Ngân sách
làm giảm tổng cầu cân đối với tổng cung.
Đảm bảo ổn định kinh tế xã hội đòi hỏi phải có dự trữ quốc gia hình thành
bằng nguồn kinh phí cấp phát của NSNN để xử lý khi có hiện tợng thiên tai, dịch
hoạ bất ngờ, hoặc bình ổn thị trờng, điều hoà cung cầu về tiền tệ, ngoại tệ và một
số mặt hàng chiến lợc.
Ngoài ra trên 10% tổng số chi tiêu hàng nằm của NSNN còn đợc để bố trí
các khoản chi cho duy trì củng cố lực lợng quân đội an ninh, thực hiện tốt nhiệm
vụ trọng tâm của thời kỳ mới là xây dựng đất nớc và bảo vệ tổ quốc kết hợp kinh
tế với quốc phòng, CNH - HĐH với đảm bảo an ninh quốc phòng vững chắc.
24
Thực hiện chi ngân sách địa phơng (1996 - 2000)
Nội dung chi 1996 1997 1998 1999 2000
1. Chi đầu t XDCB tập trung 290.758 229.770 674.600 652.300 750.145
Trong đó
- Nguồn cân đối trong ngân sách 260.167 208.524 235.000 246.300 283.245
- Nguồn ghi thu ghi chi thiết bị 30.591 21.246 439.600 406.000 466.900
2 - Chi XD cơ sở hạ tầng từ nguồn thu cấp
quyền SDĐ
130.315 241.179 206.000 190.000 218.500
3 - Chi phát triển nhà từ nguồn thu bán nhà 30.000 34.500
4 - Cấp bù lỗ, trợ giá 9.584 11.929 12.000 12.000 13.800
5 - Chi đầu t chiều sâu 89 1.438 4.800 8.050
6 - Cấp VLĐ các DNNN 1.431
7 - Chi SN kinh tế 279.943 269.166 315.000 285.000 327.750
- Chi SNNL thuỷ lợi 20.241 21.856 25.000 30.000 34.500
- Chi SN giao thông 62.215 67.936 65.000 60.000 69.000
- Chi SN đô thị nhà ở 163.742 179.374 225.000 195.000 224.250


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status