P
P
A
A
R
R
C
CB
B
a
aB
B
ể
ể
C
ục
k
iểm
l
âm,
Lu trữ tại: www.undp.org.vn/projects/parc Các quan điểm đa ra trong báo cáo này là quan điểm của cá nhân tác giả chứ không nhất thiết là
quan điểm của Chơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Cục Kiểm lâm hay cơ quan chủ quản của tác
giả
Bản tiếng Việt này đợc dịch từ nguyên bản tiếng Anh. Do số lợng báo cáo của dự án quá lớn, công
tác biên dịch có thể còn thiếu chính xác hoặc sai xót. Nếu có nghi ngờ, xin tham khảo bản gốc tiếng
Anh.
Đây là báo cáo nội bộ của dự án PARC, đợc xây dựng để phục vụ các mục tiêu của dự án. Báo cáo
đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các thành phần của phơng pháp tiếp cận hệ sinh thái mà
dự án sử dung. Trong quá trình thực hiện dự án, một số nội dung của báo cáo có thể đã đợc thay đổi
so với thời điểm phiên bản này đợc xuất bản.
ấn phẩm này đợc phép tái xuất bản cho mục đích giáo dục hoặc các mục đích phi thơng mại khác
không cần xin phép bản quyền với đIũu kiện phảI đảm bảo trích dẫn nguồn đầy đủ. Nghiêm cấm tái
xuất bản ấn phẩm này cho các mục đích thơng mại khác mà không đợc sự cho phép bằng văn bản
của cơ quan giữ bản quyền.
3
Các cơ chế tài chính 9
3.1
Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái 9
3.2
Thu nhập từ phí hợp đồng kinh doanh du lịch: 10
3.3
áp dụng phí sử dụng nguồn nớc 10
3.4
Hình thành Quỹ bản tồn Vờn QG Ba Bể 10
3.5
Phân tích SWOL (Mạnh, Yếu, Cơ hội, Hạn chế) 10
4
Các biện pháp thực hiện 14
4.1
quản lý đối với các vấn đề tài chính hiện vẫn cha rõ.
Tất cả các khuyến nghị ghi trong báo cáo đều tơng thích nh nhau đối với Vờn QG Ba Bể
dới quyền quản lý của UBND tỉnh. Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh ở đây là:
Vờn QG Ba Bể hiện tiếp nhận lợng ngân sách cao nhất so với các khu bảo tồn
khác ở Việt Nam. Điều quan trọng là UBND tỉnh Bắc Kạn vẫn duy trì ít nhất là mức
cấp, phân bổ vốn này trong tơng lai;
Nếu nguồn vốn không đợc duy trì nh mức trớc đây, các nguồn tài chính bổ sung
cần đợc huy động cho Vờn QG Ba Bể. Các nguồn này bao gồm các khoản lệ phí
bổ sung, phụ phí, thuế và các nguồn vốn quốc tế;
Cơ chế Quỹ tín thác đề cập trong Phơng án tài chính 3 có thể phụ thuôc vào sự
đóng góp của tỉnh, trung uơng và quốc tế. Nếu nguồn vốn cấp cho Ba Bể không đợc
duy trì nh trớc đây, khuyến nghị rằng quỹ tín thác và các nguồn thu từ quỹ cần đợc
huy động.
2
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
1 Giới Thiệu
Mục tiêu của Dự án Xây dựng các Khu bảo tồn nhằm bảo vệ nguồn Tài nguyên sử dụng
quan điểm sinh thái cảnh quan PARC (1998-2003) là xây dựng và thực hiện thí điểm các
phơng pháp cải tiến nhằm bảo vệ các loài và môi trờng sống độc đáo duy nhất đang bị đe
doạ ở Việt Nam. Dự án PARC đợc triển khai ở 3 khu bảo tồn (PA)- Vờn Quốc gia Ba Bể ở
phía bắc tỉnh Bắc Kạn, Khu bảo tồn Thiên nhiên Na Hang ở tỉnh Tuyên Quang, và Vờn
Quốc gia Yok Đôn ở Tây Nguyên thuộc tỉnh Đắc Lắc.
Một nghiên cứu tài chính hiện đang đợc tiến hành qua 3 giai đoạn nhằm hoàn thành kết quả
1.6 của Dự án PARC, với mục tiêu xây dựng một cơ chế cung cấp nguồn tài chính dài hạn
cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng ở các vùng mục tiêu. Một
phần của nghiên cứu này là tiến hành đánh giá hệ thống tài chính hiện đang đợc áp dụng
cho công tác quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam, nhất là đối với các điểm thuộc dự án
PARC. Điều này tạo cơ sở cho việc xác định các phơng pháp nâng cao hiệu quả tài chính,
khám phá các phơng án tài trợ, xây dựng các cơ chế tài trợ mới, với u tiên dành cho bảo
tồn đa dạng sinh học và thừa nhận các nhu cầu phát triển cộng đồng địa phơng ở các khu
Bốn báo cáo (đã đề cập ở trên) cung cấp phân tích chi tiết về tình hình tài chính liên quan
đến các khu bảo tồn ở Việt nam và bức tranh toàn cảnh về từng điểm dự án PARC và tình
hình tài chính của các điểm này. Các báo cáo này cần đợc tham khảo thêm nhằm nắm
đợc các chi tiết khuyến nghị. Đặc biệt, Báo cáo Tổng hợp đã tiến hành phân tích chi tiết về
3
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
tình hình tài chính của từng khu bảo tồn, chỉ ra các nhu cầu về nguồn tài chính và ớc tính
các nguồn lực tiềm tàng có thể huy động đợc thông qua sử dụng từng cơ chế tìm nguồn tài
chính chủ yếu đã đợc khuyến nghị. Ba báo cáo khác có nêu lên các khuyến nghị chi tiết về
từng cơ chế tài chính. Do đó, nên đọc phần Chiến lợc Tài chính bền vững (SFS) cùng với 4
báo cáo liên quan quan trọng này.
Phần SFS chỉ tiến hành tóm tắt sơ bộ những thông tin cơ bản liên quan đến tình hình tài
chính của Vờn QG Ba Bể và bao hàm các nội dung chính sau đây:
Xây dựng chỉ tiêu tài chính thông qua đánh giá mức tài chính hiện hành của khu bảo
tồn đợc huy động từ tất cả các nguồn, và so sánh mức tài chính này với mức tài
chính mong muốn nhằm thực hiện kế hoạch hoạt động và bảo tồn gắn với phát triển
cộng đồng;
Thảo luận các cơ chế tài chính đã đợc khuyến nghị nhằm huy động đợc số tài
chính còn thiếu và tiến hành phân tích SWOL (các u điểm, nhợc điểm, các cơ hội
và hạn chế) cho các cơ chế này;
Nêu lên các biện pháp cụ thể cần có để thực hiện các cơ chế tài chính cũng nh quản
lý, phân bổ các nguồn lực nhất là ở cấp địa phơng, và xác định một lộ trình cho
tơng lai; và
Trình bày một mô hình dự báo luồng tiền mặt trên cơ sở các nguồn lực có khả năng
huy động đợc nhờ vào việc sử dụng các cơ chế tài chính đã đợc đề xuất.
Mục đích của Chiến lợc Tài chính là đảm bảo sự bền vững tài chính dài hạn sau khi dự án
PARC đã hoàn thành việc cung cấp hệ thống quản lý và cơ sở hạ tầng cơ bản.
1.2 Kết hợp các nội dung tài chính vào kế hoạch quản lý
tỉnh Bắc Cạn quản lý. Hoạt động quản lý tác nghiệp thờng ngày do Ban QL Vờn QG Ba
Bể, gồm 01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc và 63 cán bộ, nhân viên đảm nhiệm. Vờn QG có
diện tích vùng đệm là 42.100 ha gồm 05 xã với dân số là 5.590 ngời sống trong 829 hộ.
Ngoài ra, có khoảng 524 hộ với 3.200 dân sống ở bên trong Vờn QG Ba Bể. Điểm thu hút
chính của Vờn là hồ Ba Bể có diện tích 500 ha. Hàng năm, hồ thu hút khoảng 20.000 du
khách trong và ngoài nớc tới thăm.
Các cộng đồng địa phơng còn sống phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên
quanh Vờn QG Ba Bể. Ngời dân sử dụng tài nguyên rừng nhằm thoả mãn nhu cầu củi đun,
gỗ và sản phẩm ngoài gỗ. Bên cạnh đó các hoạt động săn bắt động vật hoang dã và đánh
cá trên hồ, trong các sông, suối trong phạm vi Vờn còn là nguồn sinh kế bổ sung cho các
cộng đồng này. Uớc tính (IUCN, 2002a) tổng giá trị tài nguyên mà các cộng đồng này sử
dụng trong vùng lõi và vùng đệm Vờn QG lên tới 6 tỷ đồng/năm. Giá trị trung bình nguồn tài
nguyên đợc sử dụng bởi một hộ là 3,2 triệu đồng/năm trong vùng lõi và 3,3 triệu trong vùng
đệm. Du lịch liên quan đến hồ cũng tạo nhiều cơ hội việc làm cho ngời dân nh lái thuyền,
nhà nghỉ trong thôn bản và dịch vụ hớng dẫn viên.
2.2 Thực trạng tài chính
Kế hoạch quản lý đợc xây dựng cho Vờn QG Ba Bể tại thời điểm thành lập Vờn có tổng
mức đầu t theo kế hoạch là 4.890 triệu đồng cho giai đoạn 10 năm 1991-2000. Năm 1997,
kế hoạch đầu t đợc xây dựng cho Vờn QG Ba Bể mở rộng lên 23.340ha với tổng kinh phí
là 36.108 triệu đồng (tuy nhiên, hiện cha đợc thông qua). Năm 2001 Dự án PARC đã xây
dựng kế hoạch hoạt động cho Vờn trong giai đoạn 2001-2005 với tổng mức đầu t là
79.320 triệu đồng chủ yếu dự trù cho đầu t cơ bản. Các mức đầu t cho thấy sự tăng mạnh
cho các năm từ 1991 đến 2005 (Biểu 1).
Biểu 1: Kế hoạch đầu t ngân sách và cán bộ cho Vờn QG Ba Bể (1991-2005)
Gia đoạn
Tổng đầu t
(triệu VND)
Cán bộ
1991-1992 879
so với đề xuất
1997 404 2.048 506%
1998 400 2.447 612%
1999
Kế hoạch quản lý 1990
393 2.732 695%
2000 Kế hoạch đầu t 1997 3.660 7.064 193%
2001 Kế hoạch hoạt động 2001 13.444 5.821 43%
Giá trị đợc tính theo thời giá năm 2001.
Bên cạnh ngân sách cho đầu t cơ bản, Vờn QG Ba Bể tiếp nhận ngân sách cho chi tiêu
thờng xuyên, khoảng 1.702 triệu đồng/năm theo tỷ lệ trung bình là 16 triệu/năm cho một
cán bộ trong số 65 cán bộ thuộc diện biên chế. Đầu t cho hoạt động phát triển vùng lõi và
vùng đệm đợc cấp hàng năm theo Chơng trình 135 qua các cấp trung ơng và tỉnh.
Trong năm 2001, ngân sách dành cho vùng lõi là 1.014 triệu đồng, cho vùng đệm là 5.696
triệu đồng. Tuy nhiên, đầu t cho vùng đệm không đợc phân bổ thông qua ban quản lý
Vờn QG và vì vậy không đợc u tiên cấp cho các hoạt động bảo tồn. Vì vậy đề nghị cần
trích một phần ngân sách đầu t cho vùng đệm để thực hiện các hoạt động phối hợp bảo
tồn với ban quản lý vờn.
Vờn QG Ba Bể cũng tạo nguồn thu từ dịch vụ nhà nghỉ, nhà hàng cà phê và karaokê đợc
giao khoán cho một số cá nhân. Năm 2001, Vờn thu đợc 200 triệu đồng từ các dịch vụ này
sau khi dành 25% để trả thuế. Số còn lại đợc tái đầu t cho các hoạt động của Vờn.
2.3 Các mục tiêu tài chính
Báo cáo Tổng hợp của Nghiên Cứu Tài Chính Dự án PARC pha II (xem IUCN 2002a để biết
thêm chi tiết) bao gồm phần đánh giá các nhu cầu vốn cho Vờn QG Ba Bể. Đánh giá này
đợc căn cứ trên nguồn vốn tiếp nhận từ các nguồn so với nhu cầu theo đề xuất của Nghiên
cứu Tài chính theo Kế hoạch Hoạt động 5 năm. Các yêu cầu về nguồn vốn bổ sung cũng đã
đợc tính toán cho việc thực hiện các Kế hoạch Sử dụng Tài nguyên Thôn bản (VRUP) ở các
xã vùng lõi và đệm, cho các chi phí thờng xuyên, các hoạt động và chi phí văn phòng và
các khoản dự phòng khác.
e
Chỉ tiêu tài chính trung bình hàng năm
c
11.246
-
(Nguồn số liệu: IUCN 2002a)
a
Bao gồm ngân sách Kế hoạch Hoạt động (gồm cả phần xây dựng và cơ sở hạ tầng lớn), ngân sách thờng
xuyên cho nhân viên, 8% dành cho chi khác, chi phí hoạt động văn phòng là 7,5% ngân sách thờng xuyên, 5%
chi cho duy tu bảo dỡng thiết bị và tài sản vốn, và 10% dự phòng.
b
mức ngân sách Nhà nớc trung bình hiện có và tổng nguồn thu có đợc
c
Bao gồm ngân sách dự án PARC trong tổng số 885 triệu/năm đến năm 2003. Do vậy ngân sách do dự án cấp
trớc khi kết thúc là 10.361 triệu đồng.
d
Gồm ngân sách trong Kế hoạch Hoạt động (không bao hàm chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng), ngân sách thờng
xuyên cho nhân viên, 8% dành cho chi khác, chi phí hoạt động văn phòng là 7,5% ngân sách thờng xuyên cho
con ngời, 5% chi duy tu bảo dỡng thiết bị và tài sản vốn, và 10% dự phòng.
e
Dựa trên giả thuyết ngân sách hàng năm đảm bảo tơng ứng với nhu cầu.
Khoản 8 của Nghị định 08/2001 hớng dẫn nhu cầu lập kế hoạch và lồng ghép công tác
quản lý vùng đệm với quản lý vùng lõi để hỗ trợ công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ các khu
rừng đặc dụng, và ổn định, nâng cao đời sống nhân dân. Phơng thức qui hoạch lồng ghép
cho các hoạt động phát triển và bảo tồn nh vậy cho phép tập hợp đợc các bên liên quan
vào quản lý các nội dung cảnh quan VQG Ba bể , gồm cả vùng lõi và vùng đệm.
Theo ớc tính, hiện có khoảng 524 hộ với 3.200 nhân khẩu đang sống trong vùng lõi và
6.215 hộ với 5.590 nhân khẩu sống ở vùng đệm Vờn QG Ba Bể. Vờn QG đang trong quá
các cơ chế tìm nguồn tài chính thích hợp để có thể đáp ứng đợc các nhu cầu này.
8
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
3 Các cơ chế tài chính
Nghiên cứu Tài chính khuyến nghị một số cơ chế có thể giúp tăng nguồn lực tài chính cho
Vờn QG Ba Bể. Chi tiết các khuyến nghị đợc nêu trong các báo cáo IUCN, 2002b, 2002c
và 2002d. Các khuyến nghị đợc xây dựng theo 2 cấp: cấp trung ơng và cấp cơ sở . Các
khuyến nghị đối với cấp trung ơng, không chỉ dành cho Vờn QG Ba Bể mà đợc áp dụng
cho các khu bảo tồn khác ở Việt nam, bao gồm:
áp dụng cơ chế phí ngời sử dụng đối với các cơ quan, xí nghiệp của nhà nớc đợc
hởng lợi từ hoặc gây tác động đến khu bảo tồn, để có thể thu đợc nguồn tài chính
chuyển giao chi trả cho việc sử dụng nguồn nớc, cung cấp nớc sạch, thuỷ lợi, thuỷ
điện, ng nghiệp, các lợi ích du lịch,vv
u tiên xây dựng một chơng trình quốc gia thích hợp cho các khu bảo tồn và vùng
đệm nhằm bảo đảm phát triển bền vững các cộng đồng địa phơng và củng cố công
tác bảo tồn.
Xây dựng chơng trình quốc gia cho các khu bảo tồn với cam kết dài hạn của chính
phủ về phân bổ ngân sách và bảo đảm phân bổ hợp lý, cân bằng về nguồn vốn cho
toàn bộ hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam;
Hình thành quỹ bảo tồn quốc gia cho các khu bảo tồn với nguồn vốn đợc bổ sung liên
tục theo mô hình của Ngân hàng Thế giới/quỹ môi trờng toàn cầu GEF trong khuôn
khổ Dự án Phát triển Ngành Lâm nghiệp.
Về cơ chế tài chính cấp cơ sở, Nghiên cứu Tài chính đề nghị chú ý tới các nguồn sau đây
đợc coi là phù hợp nhất đối với Vờn QG Ba Bể:
Tăng nguồn thu từ du lịch sinh tháI
áp dụng tính phí sử dụng nớc (phí bảo tồn vùng đầu nguồn)
Thành lập quỹ tín thác
Báo cáo Tổng hợp về Nghiên cứu Cơ chế tài chính (IUCN 2002a) cân nhắc 3 phơng án huy
động vốn sau đây: (i) từ ngân sách và nguồn thu hiện có của khu bảo tồn; (ii) ngân sách
hiện có và nguồn thu bổ sung; và (iii) áp dụng phơng án (ii) cùng với việc hình thành một
bằng nguồn vốn vay. Mỗi năm, một cơ sở dịch vụ nh vậy có thể đợc thầu (cho phép) hoạt
động theo giai đoạn 3 năm và số tiền tăng từ hợp đồng thầu khoán sẽ đợc thanh toán hàng
năm cho Vờn QG.
Phí bảo tồn tự nguyện: Hiện nay, có qui định thống nhất về mức lệ phí tham quan áp dụng
cho du khách quốc tế và trong nớc tới thăm các khu bảo tồn ở Việt Nam, trong đó khách
quốc tế có thể trả theo thiện chí ở mức cao hơn nếuhọ muốn đóng góp trực tiếp cho công
tác bảo tồn những khu vực này. Theo giả thuyết này, Nghiên cứu Tài chính khuyến nghị thiết
lập cơ chế phí bảo tồn tự nguyện cho khách du lịch cả quốc tế và trong nớc.
3.3 áp dụng phí sử dụng nguồn nớc
Nghiên cứu Tài chính đề xuất áp dụng qui định thu phí sử dụng nguồn nớc đối với các đối
tợng sử dụng mang mục đích thơng mại/công nghiệp đợc hởng lợi tài nguyên nớc ở
Vờn QG Ba Bể, phù hợp với các qui định của Sắc lệnh Chủ tịch nớc số 32/2001 về Ban
hành Qui định thu các khoản lệ phí, phụ phí. Các đối tợng hởng lợi gồm ngời sử dụng
nớc ở vùng hạ du cho tới tiêu thuỷ lợi, sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, nớc sinh
hoạt, đánh bắt cá v.v
3.4 Hình thành Quỹ bản tồn Vờn QG Ba Bể
Hình thành quỹ bảo tồn cho VQG Ba Bể là nhằm tạo ra cơ chế tiếp nhận, quản lý và tạo
nguồn thu. Quỹ này sẽ đợc Ban QL Vờn QG Ba Bể quản lý và tiếp nhận các nguồn thu
của địa phơng, trong nớc và quốc tế. Lu ý rằng quỹ cần phù hợp với cơ chế cấp vốn hiện
nay cũng nh trong tơng lai cho các khu bảo tồn ở Việt Nam. Quỹ giúp bổ sung cho (và dựa
trên) lợng ngân sách của chính phủ và có tiềm năng cùng phối hợp hoạt động với quỹ bảo
tồn của Ngân hàng Thế giới/GEF và xây dựng mô hình vận hành loại quỹ này ở khu bảo tồn.
3.5 Phân tích SWOL (Mạnh, Yếu, Cơ hội, Hạn chế)
Phân tích thế mạnh, các yếu điểm, cơ hội và hạn chế (gọi tắt là SWOL) của các cơ chế tài
chính cấp nhà nớc và cấp cơ sở đợc trình bày tại Biểu 5. Kết quả phân tích khẳng định
rằng các nguồn tài chính còn phụ thuộc nhiều vào ngân sách của chính phủ và để tạo ra sự
thay đổi phơng thức huy động, quản lý và phân bổ nguồn vốn phù hợp, cần có sự thảo luận
sâu rộng và thay đổi về chính sách kể cả khung pháp lý, và các qui định hỗ trợ hiện hành .
Du lịch sinh thái, một ngành đang đợc phát triển ở Việt Nam, có khả năng cung cấp các
nguồn vốn lớn cho các khu bảo tồn nếu đợc tổ chức và quản lý hợp lý. Quỹ tín thác địa
Phân bổ phụ thuộc vào lợng
ngân sách hàng năm
Chậm phân bổ dẫn đến chậm
trễ trong triển khai
Hầu hết các tỉnh không có khả
năng phân bổ đủ ngân sách
nhằm quản lý có hiệu quả khu
bảo tồn
áp dụng tiêu chuẩn không
thống nhất cho hạch toán chi
tiêu thờng xuyên giữa khu bảo
tồn do Bộ và khu bảo tồn do
tỉnh quản lý, dẫn đến chất
lợng quản lý khác nhau
Chuyển ngân sách trực tiếp sẽ
không đợc các bên hởng lợi
ủng hộ
Phí và lệ phí bổ sung sẽ tăng
áp lực lên các đối tợng tiêu
dùng, tăng chi phí giao dịch và
các thủ tục liên quan
Cơ sở pháp lý đảm bảo sự hỗ trợ
dài hạn của chính phủ đối với các
kế hoạch đầu t đã đợc phê
duyệt cho khu bảo tồn.
Liên kết ngân sách liên ngành
dựa trên nguyên tắc phí ngời sử
dụng có thể giúp tăng cờng
công tác bản tồn.
ơng quản lý, quyền qui
hoạch và quản lý vùng đệm
đợc trao cho tỉnh và địa
phơng. Sự phối hợp và hợp
tác giữa các bên do vậy rất
hạn chế
Các ban quản lý khu bảo tồn
không có đại diện chính của
các bên liên quan nhằm xây
dựng đợc kế hoạch tài chính
tổng thể để giải quyết những
vấn đề u tiên
Đòi hỏi có sự tham khảo sâu
rộng và đàm phán kỹ trớc
khi thống nhất và đa vào
thực hiện các cơ chế chia sẻ
ngân sách. 11
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
nhiên năm 1990 (sau đó đợc
điều chỉnh tại QĐ 05/1998/PL-
UBTVQH10 ngày 16/4/1998; và
Luật Ngân sách, 1996
Phát triển du
lịch sinh thái
Là nguồn tài nguyên bền vững,
dài hạn đợc tạo ra và quản lý
bởi địa phơng
ngân sách của chính phủ
Nhu cầu có đợc các hớng dẫn,
chính sách rõ về quyền sở hữu
của địa phơng, về cơ chế phân
bổ và sử dụng nguồn thu từ du
lịch sinh thái và đơn giản hoá các
qui định hiện hành
Tạo cơ hội tiết kiệm chi phí bằng
cách tránh đầu t vào cơ sở hạ
tầng và tiện nghi du lịch sinh thái
từ ngân sách của chính phủ
Các nguồn thu đợc tạo ra thông
qua hệ thống thu phí hợp đồng
kinh doanh du lịch nhằm cho
phép khối t nhân thiết lập và vận
hành các tiện nghi du lịch
Không phải tất cả các khu
bảo tồn đều có tiềm năng
phát triển du lịch sinh thái
nh nhau
Phát triển du lịch sinh thái
cũng phụ thuộc vào điều kiện
sẵn có về tiện nghi cơ sở hạ
tầng nh đờng sá, đờng xe
lửa và đờng hàng không để
du khách tiếp cận.
Các yếu tố trong nớc, khu
vực và quốc tế có thể tác
động đến số lợng khách
tham quan tới khu bảo tồn
năm
Cung cấp cơ chế bồi hoàn các
đóng góp dành cho bảo tồn đa
dạng sinh học toàn cầu.
Có thể thống nhất đợc các u
tiên của chính phủ và nhà tài trợ
về bảo tồn và phát triển bền vững
Nếu đợc sử dụng theo chiến lợc
đúng đắn và dựa trên sự qui
ho
ạ
ch hi
ệ
u
q
uả, các n
g
uồn vốn
Chuyển dịch các u tiên của
nhà tài trợ và cắt giảm ngân
sách có thể tác động tiêu cực
đến qui hoạch bảo tồn dài
hạn
Các dòng và chu kỳ chuyển
vốn có thể không đáp ứng
các qui tắc ngân sách của
chính phủ
12
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
Cơ chế quỹ tín
thác cấp quốc
gia và địa
phơng
Là cơ chế tiếp nhận, quản lý và
phân bổ vốn từ nhiều nguồn
khác nhau
Đảm bảo tạo ra dòng vốn
thờng xuyên, ổn định nhằm hỗ
trợ cho công tác qui hoạch và
quản lý dài hạn
Tạo điều kiện cho vốn nhàn rỗi
đợc huy động nhằm tăng thu
nhập và hỗ trợ các chi phí hoạt
động và bảo dỡng
Đóng vai trò là bớc đệm khi
xảy ra trờng hợp cắt hoặc
ngừng cấp ngân sách
Yêu cầu lợng đầu t lớn cho
tạo vốn ban đầu trong trờng
hợp chỉ sử dụng thu nhập nhằm
tạo nguồn phân bổ hàng năm
Yêu cầu phải bổ sung vốn
thờng xuyên và duy trì mức
hợp lý để thực hiện phân bổ
hàng năm
Các u tiên địa phơng có thể
làm cho vốn đợc phân bổ cho
các hoạt động không thiết yếu
khuyến nghị về Nghiên cứu Tài chính này không nhất thiết phải đợc chấp nhận cả ở cấp
quốc gia và địa phơng trớc khi chúng đợc đa vào áp dụng.
4.1 Tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái
Khuyến nghị tăng nguồn thu từ du lịch sinh thái bao gồm thực hiện ba biện pháp: Chia sẻ phí
tham quan và nguồn thuế du lịch với ban quản lý VQG; Hình thành phí bảo tồn tự nguyện; và
thực hiện thí điểm cung cấp tiện nghi du lịch sinh thái cộng đồng theo các hợp đồng thầu
khoán. Hai biện pháp đầu sẽ đợc thảo luận đồng thời vì chúng yêu cầu có sự điều chỉnh
tơng tự về chính sách và cần trao đổi với các cơ quan chức năng của chính phủ.
4.1.1 Chia sẻ phí tham quan và nguồn thuế thu từ du lịch; hình thành phí bảo tồn
tự nguyện
Hiện nay, tổ chức Đoàn Thanh niên thu phí tham quan và chuyển nguồn thu này cho huyện
sau khi giữ lại 20% để trang trải cho chi phí hoạt động thu. Một số nguồn thu khác từ du lịch
nh thu từ các chủ thuyền, nhà nghỉ và đợc chuyển vào ngân sách cho các đơn vị xã,
huyện và tỉnh. Tổng các nguồn thu này lên tới 130 triệu đồng trong năm 2001.
Nghiên cứu Cơ chế Tài chính cho rằng nếu chỉ 25% nguồn thu này đợc chuyển cho Ban
quản lý Vờn, thì tổng nguồn thu trong năm có thể lên tới 33 triệu đồng. Bên cạnh đó, ban
quản lý Vờn QG Ba Bể, qua dịch vụ nhà nghỉ, cũng thu đợc 200 triệu đồng năm 2001 và
sau khi nộp thuế (25% số này) cho tỉnh, số còn lại đợc sử dụng cho các hoạt động của
Vờn. Nghiên cứu cũng đề xuất áp dụng phí bảo tồn tự nguyện cho du khách với mức 15.000
VND/khách đối với khách nớc ngoài và 5.000 VND/khách đối với khách trong nớc. Theo
mức này, hàng năm có thể thu đợc 115 triệu đồng với số lợng du khách nh hiện nay.
Để thực hiện các khuyến nghị trên, có thể có các bớc dới đây (đợc tóm tắt trong Hình 1):
Bộ Nông nghiệp và PTNT và Ban Quản lý Vờn QG Ba Bể cần đề xuất thảo luận bớc
đầu với Dự án PARC và UBND huyện Ba Bể. Dự án PARC đã xây dung kế hoạch phát
triển du lịch sinh thái trong Vờn QG và các kế hoạch này cần thống nhất với và hỗ trợ
cho các khuyến nghị của Nghiên cứu Tài chính. Các cơ quan chức năng huyện Ba Bể
Hình 1: Du lịch sinh thái Chia sẻ các nguồn thu
Vờn QG Ba Bể
Dự án PARC
UBND tỉnh/huyện
Ba Bể/MB,
PARC, UBND tỉnh/huyện
Cơ quan chính phủ
C/ty du lịch
Điều hành du lịch
Cộng đồng địa phơng
Thoả thuận địa
phơng
Điều 30.3 Luật ngân sách 1996
Điều 32, 33 & 35 Nghị định
175/CP 1994
Sắc lệnh 32/2001 về Phí & Phụ phí
Điều 16.3 N/đ 08/2001 QD-TTg
Quy định pháp lý
Thoả thuận về
chia sẻ
nguồn thu
Nguồn thu từ phí/phụ phí
C/ty du lịch
Phí tham quan
Phí bảo tồn
Thanh toán
cho
UBND
xã, huyện
tỉnh
Hiện nay, mức phí tham quan thu đợc còn thấp hơn nhiều so với lợng du khách tới
tham quan Vờn QG Ba Bể. Điều này đòi hỏi tăng cờng hiệu quả hệ thống thu phí và
tăng cờng năng lực đội ngũ nhân viên tham gia. Dự án PARC cần phối hợp với một số
15
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
đơn vị liên quan nh Dự án Du lịch sinh thái của IUCN và VNAT để hỗ trợ thực hiện các
lớp tập huấn cho đội ngũ cán bộ này.
Bên cạnh công tác tập huấn cán bộ, việc tăng cờng hoạt động thu phí tham quan
cũng đòi hỏi thiết lập một số tiện nghi hỗ trợ nhỏ (chẳng hạn nh xây dựng trạm bán
vé)
4.1.2 Thực hiện thí đểm các dịch vụ du lịch sinh thái cộng đồng
Theo ớc tính chi tiết nêu trong phần Nghiên cứu Du lịch sinh thái (IUCN, 2002c), việc đề
xuất xây dựng một nhà nghỉ du lịch sinh thái cộng đồng 10 phòng mỗi năm cho 3 năm tới ở
Vờn QG Ba Bể sẽ cần một lợng vốn đầu t khoảng 390 triệu đồng. Vốn này đợc huy
động từ nguồn vốn vay theo mức lãi suất 7% và đợc thanh toán trong 5 năm từ nguồn thu
tạo ra sau khi đã khấu trừ cho phí hoạt động, trả thuế và phí nhợng thầu cho ban quản lý
Vờn QG. Thu nhập từ phí chuyển nhợng kinh doanh cho Vờn QG Ba Bể từ ba cơ sở dịch
vụ du lịch sinh thái sẽ là 45 triệu đồng/năm.
Trong hợp đồng kinh doanh du lịch, ban quản lý Vờn QG Ba Bể chỉ đóng vai trò hỗ trợ tiến
trình hoạt động và cung cấp các t vấn kỹ thuật cần thiết. Phơng thức hoạt động này dựa
trên nguyên tắc các cán bộ quản lý khu bảo tồn không tham gia trực tiếp vào hoạt động cung
cấp dịch vụ du lịch nhằm tránh sao nhãng nhiệm vụ trung tâm là quản lý và bảo tồn.
trong đó qui định quyền hạn xây dựng và vận hành cơ sở dịch vụ theo nội dung các kế
16
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
hoạch đã đợc phê duyệt và điều kiện cụ thể, nhằm đảm bảo tính toàn vẹn cho Vờn
QG. Hợp đồng cũng cần nêu rõ phí chuyển nhợng và thể thức, kế hoạch thanh toán.
Phí chuyển nhợng sẽ đợc tiếp nhận và quản lý qua quỹ bảo tồn Vờn QG Ba Bể
(xem dới đây).
Các qui định về phí hợp đồng đợc thể hiện tại Điều 16.3 của Nghị định 08/2001 QĐ-
TTg của Thủ tớng Chính phủ cho phép các ban quản lý khu bảo tồn rừng đặc dụng tổ
chức, cho thuê hoặc hợp đồng cung cấp dịch vụ du lịch sinh thái với các tổ chức, cá
nhân, hộ gia đình. Nghị định cũng qui định nguồn thu từ dịch vụ du lịch đợc dành hầu
hết cho đầu t công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng.
Khi tất cả các qui định, phê chuẩn đợc đáp ứng, sẽ triển khai kế hoạch và thiết lập cơ
sở dịch vụ. Việc tập huấn cán bộ, kể cả hớng dẫn viên, nhân viên dịch vụ cũng đợc
triển khai đồng thời. Dự án có thể phát triển một số tiện nghi du lịch bổ sung nh đờng
mòn, chòi quan sát thú nhằm giúp du khách tăng sự hiểu biết về thiên nhiên.
Ban quản lý Vờn QG Ba Bể cần đóng vai trò là ngời hỗ trợ và t vấn cho cả tiến trình
hoạt động dịch vụ và chỉ nên đa ra các hớng dẫn chung về cảnh quan theo từng giai
đoạn. Ban quản lý cũng cần thờng xuyên giám sát và đánh giá hệ thống hoạt động
dịch vụ mới và đa ra những điều chỉnh cần thiết.
Hình 2: Du lịch sinh thái: Cơ sở dịch vụ cộng đồng
ý tởng của BQL Vờn
QG Ba Bể
tới các bên liên quan
Đánh giá nhu cầu
Ban QL Vờn QGBB
Kế hoạch TNTB
Cơ sở DLST
Quy định pháp lý:
Nghị định Chính phủ
08/2001/QD-TTg17
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
4.2 áp dụng phí sử dụng nớc (phí bảo tồn vùng đầu nguồn)
Nghiên cứu Tài chính đề xuất áp dụng hệ thống thu phí sử dụng nớc khai thác từ sông và hồ
trong khu vực Vờn QG Ba Bể. Nguời tiêu dùng nớc ở hạ lu sử dụng tài nguyên nớc cho
nhiều mục đích, nh tới tiêu trong nông nghiệp, giao thông vận tải, nớc dùng cho sinh
hoạt, phát triển nghề cá Nghiên cứu đề xuất chỉ áp dụng thu phí sử dụng nớc đối với sản
xuất thơng mại/công nghiệp. Mức thu hạn định với 250 đồng/m3 (tơng ứng với 50% phí áp
dụng ở Hà Nội), trong đó 2,5% đợc hiểu nh phí bảo tồn vùng thợng nguồn. Cơ chế này
có khả năng tạo nguồn thu 150 triệu đồng mỗi năm (xem IUCN, 2002a để biết thêm chi tiết).
Các bớc dới đây (tóm tắt tại Hình 3) cung cấp hớng dẫn thực hiện cơ chế này: Sắc lệnh Chủ tịch nớc số 32/2001 ban hành qui định thu phí, phụ phí, đã cung cấp
khung pháp lý cho việc áp dụng cơ chế phí sử dụng nớc. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi
có thảo luận giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT với Bộ Tài chính, chính quyền địa phơng
Kết quả giám sát và đánh giá quá trình thực hiện sẽ đa ra những điều chỉnh cần thiết.
18
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
Hình 3: Nguồn nớc Phí sử dụng
Cơ sở pháp lý:
Sắc lệnh 32/2001 về
qui định phí, phụ phí;
Nghị định 175/CP năm
1994; &
Thuế Tài nguyên Thiên
nhiên
Thoả thuận áp dụng phí:
Đàm phán giữa Bộ NN với
Bộ TC,
các đơn vị tỉnh và công ty
cấp nớc
Hội thảo các bên
liên quan:
Triệu tập bởi Ban QL
Vờn QGBB cho địa
phơng, c/ty cấp nớc
và ngời sử dụng
Xác định đối
tợng sử dụng
và mức phí:
Ban QL Vờn
QG, các đơn vị
huyện
Ký hợp đồng với
qui hoạch quản lý, qui hoạch tài chính bền vững và có nhiều thành phần tham gia (IUCN,
2002d). Về cơ cấu tài chính, có thể thiết lập ba loại quỹ tín thác. Loại quỹ tín thác Vốn ban
đầu (endownment) là duy trì nguồn vốn ban đầu để tạo thu nhập và chỉ phân bổ nguồn thu
nhập cho công tác bảo tồn; hai là loại quỹ tín thác chìm (sinking fund) với cơ chế huy động sử
dụng vốn theo từng giai đoạn hay thời gian cụ thể cho tới khi hết quỹ; và ba là quỹ tín thác
quay vòng với cơ chế tiếp nhận các nguồn vốn bổ sung và đóng vai trò là phơng tiện bảo trì
các nguồn vốn.
Quỹ bảo tồn Vờn QG Ba Bể là quỹ tín thác Vốn ban đầu (endownment) nhằm giúp tạo ra
nguồn thu từ vốn đợc đa vào đầu t. Nguồn đóng góp của chính phủ và các nhà tài trợ
giúp cấp vốn cho loại quỹ này. Nguồn thu chính hàng năm cho quỹ chính là các nguồn thu từ
dịch vụ du lịch sinh thái, phí sử dụng nớc, các khoản tài trợ cá nhận và thu nhập tạo ra từ
vốn đầu t. Nghiên cứu Tài chính (IUCN, 2002a) ớc tính rằng với nguồn vốn 5 tỷ đồng và
quỹ tín dụng quay vòng 300 triệu đồng, quỹ bảo tồn có khả năng tạo nguồn thu hàng năm là
125 triệu theo mức lãi suất 2,5%/năm (sau khi điều chỉnh do lạm phát và thay đổi tỷ giá).
Các bớc dới đây (đợc tóm tắt tại Hình 4) cung cấp những hớng dẫn hình thành quỹ tín
thác khu bảo tồn: Nghiên cứu Tài chính thực hiện nghiên cứu tiền khả thi về xây dựng quỹ tín thác địa
phơng cho Vờn QG Ba Bể. Nghiên cứu sẽ đợc tiếp tục bằng đánh giá khả thi chi tiết
và thiết kế. Quỹ sẽ đợc hình thành dới sự giám sát của ban quản lý Vờn QG Ba Bể
và nh vậy đợc xem nh đơn vị thuộc biên chế tỉnh và đợc quản lý bởi UBND huyện
Ba Bể.
Trong khuôn khổ Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp, Ngân hàng Thế giới đang phối
hợp với Chính phủ Việt Nam hình thành Quỹ Bảo tồn quốc gia nhằm quản lý có hiệu
quả các khu bảo tồn. Quỹ này, sẽ đợc Quỹ Bảo tồn Quốc tế (GEF) tài trợ, sẽ có thể là
loại quỹ chìm trong đó những khoản tài trợ nhỏ sẽ đợc đầu t cho các hoạt động bảo
tồn đợc tiến hành tại các các khu vực có tầm quan trọng về sinh học trong khoảng thời
gian từ một đến ba năm tuỳ theo các nhu cầu quản lý và triển khai thí điểm một số mô
Hình 4: Quỹ bảo tồn Vờn QG Ba Bể
Đàm phán & thoả thuận:
giữa Khu BT, Bộ TC,
địa phơng về nhu cầu hình thành
Quỹ bảo tồn
Quan hệ với:
Ngân hàng TG/GEF
Quỹ bảo tồn quốc gia
nhằm quản lý hiệu quả các
Khu bảo tồn ở Việt Nam
Quyết định về:
Quỹ BT địa phơng
Xây dựng qui định
cho Quỹ bảo tồn Ba Bể
Thoả thuận & Quyết định:
về giảm thuế và các đóng
góp của Chính phủ
Thảo luận với:
các bên liên quan
Thoả thuận về:
Cơ cấu quản lý và các quy định;
Huy động vốn từ chính phủ và các
nhà tài trợ quốc tế
Quỹ bảo tồn Ba Bể
đợc hình thành
Trợ giúp kỹ thuật &
Tăng cờng năng lực
ví dụ dự án PARC
Phân bổ cho:
21
Chiến lợc tài chính bền vững Vờn Quốc Gia Ba Bể
5 Quy hoạch tài chính
Với việc thực hiện một số cơ chế tài chính trên đây, các nguồn thu bổ sung sẽ đợc tạo ra
hàng năm cho ban quản lý Vờn QG Ba Bể. Các nguồn vốn này dự kiến đợc tiếp nhận và
quản lý qua quỹ tín thác (quỹ này có thể tạo nguồn thu bổ sung qua chiến lợc đầu t vốn)
dới dạng trái phiếu của Chính phủ Việt Nam.
Quy hoạch về thu nhập và chi tiêu hàng năm của mô hình quỹ bảo tồn Vờn QG Ba Bể đợc
trình bày tại Biểu 6. Với việc bổ sung vốn hàng năm cho quỹ và sự phát triển về nguồn vốn,
các khoản thu nhập sẽ đạt đợc mức tăng trởng ổn định trong các năm tới. Lợng ngân
sách hàng năm của Chính phủ cùng với các nguồn thu bổ sung từ cơ chế tài chính mới sẽ
giúp đảm bảo cấp đủ nguồn vốn thực hiện các kế hoạch sử dụng tài nguyên thôn bản và kế
hoạch hoạt động cho Vờn QG Ba Bể.
Biểu 6: Mô hình quỹ bảo tồn Vờn QG Ba Bể
Triệu
VND
Vốn quỹ tín thác 5.000
Vốn tín dụng cộng đồng (cho vay hàng năm) 300
Tổng đầu t ban đầu
5.300
Ngân sách hoạt động hàng năm sau năm 2006 4.140
Ngân sách hàng năm thực hiện KH Sử dụng TN Thôn bản 511
Quản lý quỹ tín thác (họp ban quản lý, lơng cán bộ, chi phí văn phòng) 90
Chi phí hàng năm cho hoạt động tín dụng cộng đồng 30
Bỏ sung vốn hàng năm vào quỹ tín thác 150
Tổng chi phí hàng năm 4.921
Ngân sách chính phủ, kể cả điều chỉnh chi tiêu thờng xuyên (trực tiếp cho ban
động bảo tồn vùng lõi hoặc tín dụng cộng đồng vì các lợi ích bảo tồn.
Để sử dụng các nguồn lực tài chính hiệu quả, cần đảm bảo rằng tất cả các nguồn lực hiện
nay và tơng lai cần liên kết chặt chẽ với các nhu cầu bảo tồn Vờn QG Ba Bể, cả ở vùng lõi
và vùng đệm. Vì vậy, việc xác định nhu cầu và u tiên quản lý thông qua tiến trình xây dựng
kế hoạch hoạt động/quản lý cần phải đợc tiếp tục duy trì. Tuy nhiên, xây dựng các kế hoạch
này phải tiến hành đồng thời với xây dựng kế hoạch tài chính và ngân sách.
Tiến trình xây dựng kế hoạch có sự phối hợp không chỉ xác định rõ các hoạt động quản lý mà
còn dự toán cụ thể nguồn lực tài chính cần thiết để đáp ứng cho việc thực hiện các kế hoạch
này. Xác định nguồn lực tạo vốn và kế hoạch thời gian cấp vốn theo kế hoạch hoạt động là
những nội dung cần thiết trong tiến trình này. Chiến lợc tài chính bền vững (SFS) đợc xây
dựng là nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra và hy vọng sẽ cung cấp hớng dẫn hữu hiệu cho ban
quản lý Vờn QG Ba Bể và UBND huyện Ba Bể thực hiện có hiệu quả các khuyến nghị của
Nghiên cứu Tài chính.
Trong khi Nghiên cứu Tài chính đa ra một số khuyến nghị quan trọng nhằm xây dựng qui
hoạch ngân sách và hệ thống quản lý hành chính hiệu quả (IUCN, 2002b), cần nhận rõ rằng
phải có thêm nỗ lực, thời gian để các thay đổi cơ bản về cơ cấu này có hiệu lực và đó là
những vấn đề nằm ngoài phạm vi của SFS này. Tuy vậy, các khuyến nghị cần đợc Bộ Nông
nghiệp và PTNT theo dõi thực hiện vì chúng đóng vai trò thiết yếu đối với phơng thức quản
lý khu bảo tồn hiện nay ở Việt Nam. Việc thực hiện thắng lợi chiến lợc này chắc chắn sẽ tạo
ra tác động tích cực lên công tác quản lý hệ thống các khu bảo tồn.
Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế xây dựng kế hoạch lồng ghép và thực hiện chơng trình bảo
tồn vùng đệm theo Điều 8 của Nghị định 08/2001/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ qui định
quản lý rừng đặc dụng và các khu rừng tự nhiên khác cần đợc xây dung và vận hành một
cách đơn giản. Các thay đổi cơ bản này cần sớm có hiệu lực nhằm tăng cờng công tác bảo
tồn tại Vờn QG Ba Bể.
Phơng án xây dựng quỹ bảo tồn Ba Bể đa ra cơ sở kết hợp công tác qui hoạch với quản lý
cảnh quan khu bảo tồn theo một cơ chế chung. Tuy nhiên, cần đảm bảo rằng tất cả các bên
liên quan chủ chốt đều có đại diện trong ban quản lý quỹ. Đặc biệt, việc xây dựng và thực
hiện Kế hoạch Sử dụng tài nguyên Thôn bản, có sử dụng nguồn lực từ quỹ bảo tồn, có thể
tăng cờng mạnh mẽ tiến trình kết hợp bảo tồn với phát triển.