Thực trạng công tác hộ tịch tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng - Pdf 13

Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy
cô giáo đã và đang công tác tại Khoa Luật – Đại học Huế đã dìu dắt, dạy dỗ
tôi trong suốt thời gian qua, 4 năm học tập trên giảng đường Đại học. Đặc
biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Giảng viên, Thạc sĩ Trần Việt
Dũng đã quan tâm hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô chú, anh chị đang công
tác tại Phòng Tư pháp quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã tạo mọi điều
kiện tốt nhất, cung cấp các số liệu, tài liệu cần thiết góp phần giúp tôi hoàn
thành đề tài nghiên cứu.
Và mặc dù đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, tìm tòi tài liệu, nhưng do
kiến thức còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều, cho nên sẽ không thể
tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các
thầy cô, bạn bè để tôi có thể hoàn thiện hơn bài làm của mình, cũng như
góp phần làm cho đề tài có giá trị hơn trong thực tiễn.
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Hạnh
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU: 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Mục đích của đề tài 5
3 . Ý nghĩa của đề tài 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài 6
6. Bố cục đề tài 7
B. PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HỘ TỊCH 7
1.1. Khái niệm công tác hộ tịch 7
1.2. Đăng ký hộ tịch và các thủ tục trong đăng ký hộ tịch 8
1.2.1. Đăng ký hộ tịch 8

2.2.2. Thực trạng quản lý hộ tịch 46
2.3. Những tồn tại, vướng mắc và những nguyên nhân của tồn tại, vướng mắc
trong công tác hộ tịch trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 47
2.3.1. Những tồn tại, vướng mắc trong công tác hộ tịch trên địa bàn quận Cẩm
Lệ, thành phố Đà Nẵng. 48
2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc trong công tác hộ tịch trên
địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 55
2.3.2.1. Nguyên nhân từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan
đến công tác hộ tịch 55
2.3.2.2 . Nguyên nhân từ công tác quản lý của cơ quan tư pháp 55
2.3.2.3. Nguyên nhân từ trình độ hiểu biết pháp luật của người dân 57
2.4. Các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác hộ tịch trên địa bàn
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 57
2.4.1. Các giải pháp chung nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác hộ
tịch trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 57
2.4.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh công tác hộ tịch 58
2.4.1.2. Tiếp tục phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền đăng ký hộ tịch 59
2.4.1.3. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong hoạt động đăng ký và
quản lý hộ tịch 60
2.4.1.4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực tư pháp hộ tịch 61
2.4.1.5. Nâng cao hiểu biết của người dân về công tác hộ tịch 62
2.5.2. Các giải pháp cụ thể nhằm góp phần cao hiệu quả công tác hộ tịch trên
địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng 62
2.5.2.1. Tăng cường đội ngũ cán bộ hộ tịch 62
2.5.2.2. Tăng cường tập huấn nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ Tư pháp – Hộ
tịch 63
2.5.2.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật hộ tịch cho
nhân dân quận Cẩm lệ 64
2.5.2.4. Cần đầu tư cơ sở vật chất nhiều hơn cho công tác hộ tịch 65
2.5.2.5. Cần thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về xử lý vi phạm

đây cho ban hành Luật hộ tịch nhằm đưa ra một văn bản chính xác và nhất
quán nhất điều chỉnh công tác hộ tịch để công tác này đạt được hiệu quả
trên thực tế.
Được tách ra từ huyện Hòa Vang trước đây, tuy mới thành lập vào
năm 2005 nhưng quận Cẩm Lệ đã nhanh chóng bắt kịp được với xu hướng
phát triển chung của cả thành phố. Và đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn
về đội ngũ quản lý cũng như là sự thay đổi về địa phận hành chính, nhiều
khó khăn trong quản lý dân cư, dân số,… quận đã nhanh chóng ổn định
được đời sống của người dân cũng như đạt được nhiều thành tựu với mức
tăng trưởng kinh tế liên tục và khá ổn định gắn liền với các mặt tiến bộ
trong đời sống xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển, đô thị được chỉnh trang…
Đặc biệt là trong hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
cấp quận, do mới có sự thay đổi về mặt nhân sự cũng như là bắt đầu triển
khai hoạt động trên một địa bàn mới tách ra, tất nhiên sẽ kèm theo nhiều
khó khăn, đối với hoạt động của cơ quan tư pháp – nơi tiến hành công tác
hộ tịch nói riêng và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước khác
trên địa bàn quận nói chung [21]. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được
trong thời gian qua, vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc cũng như hạn chế
trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác hộ tịch
vào thực tiễn. Từ những nhận định trên và qua thực tế ở quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng tôi đã chọn đề tài : “Thực trạng công tác hộ tịch tại
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn
thực tiễn về hoạt động hộ tịch cũng như góp phần vào việc hoàn thiện hơn
nữa hệ thống pháp luật về hộ tịch nhằm thực hiện tốt hơn quyền lợi và
nghĩa vụ của một công dân.
2. Mục đích của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ thêm về các quy định
của pháp luật về hộ tịch và công tác quản lý hộ tịch. Trên cơ sở đó, đề tài
đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật trong hoạt động, nâng cao hiệu quả của công tác hộ tịch trên địa

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích,
tổng hợp, liệt kê, so sánh…
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, phần nội dung được chia
thành 02 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác hộ tịch
Chương 2: Thực trạng và giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần
tăng cường hiệu quả công tác hộ tịch trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành
phố Đà Nẵng
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HỘ TỊCH
1.1. Khái niệm công tác hộ tịch
Từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái
niệm “Hộ tịch”. Có quan niệm cho rằng: Hộ tịch là sổ biên chép các việc
liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự
khai giá thú, khai sinh, khai tử [25]. Quan niệm thứ hai lại cho rằng, việc
ghi chép vào sổ sách không phải là hộ tịch mà bản thân các sự kiện liên
quan đến tình trạng nhân thân của con người mới là hộ tịch. Có thể xem
cách hiểu thứ hai là cách hiểu khá thấu đáo và toàn diện, được khoa học
công nhận và được quy định khá rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, những sự kiện về hộ tịch rất đa dạng, nếu theo quan niệm cũ
trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo
quy định hiện nay của pháp luật, hộ tịch bao gồm 9 sự kiện cơ bản như:
sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ,
tên, chữ đệm; cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; xác định
lại dân tộc . Các sự kiện hộ tịch được xem là các sự kiện cơ bản, bởi các sự
kiện này có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của cá nhân.
Theo điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của chính phủ về đăng ký
hộ tịch [9], Điều 57 Bộ luật Dân sự 2005 [2] và tại Điều 1 Nghị định

nước có thẩm quyền là sự chính thức hóa các sự kiện đó, hoặc giúp cho cơ
quan nhà nước nắm được những thay đổi đó của cá nhân.
1.2.2. Thủ tục đăng ký hộ tịch
Là một loại thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối
với hoạt động tư pháp. Thủ tục đăng ký hộ tịch là cách thức, trình tự luật
định mà các cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch và cá nhân, tổ chức có
yêu cầu đăng ký hộ tịch phải tuân thủ khi thực hiện việc đăng ký một sự
kiện hộ tịch. Thủ tục đăng ký hộ tịch được quy định chặt chẽ bởi các quy
phạm pháp luật về thủ tục hành chính. Trong hệ thống pháp luật hiện hành
của nước ta, các quy phạm pháp luật về thủ tục đăng ký hộ tịch nằm rải rác
trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
1.2.3. Phân loại thủ tục đăng ký hộ tịch
Thủ tục đăng ký hộ tịch có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác
nhau:
a. Theo tiêu chí sự kiện hộ tịch, thủ tục đăng ký hộ tịch được chia
thành thủ tục đăng ký khai sinh, thủ tục đăng ký kết hôn; thủ tục đăng ký
nuôi con nuôi, thủ tục đăng ký khai tử
b. Theo tiêu chí chủ thể có thẩm quyền đăng ký hộ tịch, thủ tục đăng
ký hộ tịch được chia thành thủ tục do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện,
cấp xã tiến hành, thủ tục do cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt
Nam ở nước ngoài tiến hành…
c. Theo tiêu chí đối tượng đăng ký hộ tịch, thủ tục đăng ký hộ tịch
được chia thành thủ tục đăng ký hộ tịch áp dụng với công dân Việt Nam,
người nước ngoài, đồng bào dân tộc thiểu số
Ngoài ra, thủ tục đăng ký hộ tịch còn được phân loại theo các tiêu chí
đặc thù, đó là tiêu chí thời điểm và tính chất của việc đăng ký hộ tịch. Theo
các tiêu chí này, thủ tục đăng ký hộ tịch được phân loại thành thủ tục đăng
ký đúng hạn và thủ tục đăng ký quá hạn, thủ tục đăng ký lần đầu và thủ tục
đăng ký lại.
1.3. Quản lý hộ tịch

quản lý chuyên ngành thuộc cơ cấu của Chính phủ ( Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại
giao) và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện. Thông qua những quy định
của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý tư pháp tại
Nghị định 158/2005 [10] có thể thấy rằng: trong toàn bộ hệ thống quản lý
hộ tịch có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan Trung ương và địa
phương( Chính phủ, Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân các cấp), giữa cơ quan
quản lý chung và cơ quan quản lý chuyên ngành, có sự phối hợp cụ thể
giữa các chủ thể quản lý trong và ngoài nước (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao)
đảm bảo cho hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch được diễn ra thông suốt
và đạt hiệu quả cao.
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này được quy định cụ thể từ
Điều 75 đến Điều 80 Nghị định 158/2005 NĐ-CP và Điều 64 Nghị định
06/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 158/ 2012/NĐ-CP.
1.4.2. Cơ quan đăng ký hộ tịch
Nghị định 158/2005/NĐ-CP [10] ngày 17/12/2005 có hiệu lực ngày 1
tháng 4 năm 2006 đã có nhiều đổi mới hơn so với Nghị định 83/1998 NĐ-
CP về phân cấp thẩm quyền cho các cơ quan như : Sở Tư pháp, Ủy ban
nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã. Quán triệt tinh thần cải cách
hành chính của Nhà nước và thực hiện theo Nghị định 158/2012 NĐ-CP
[10] thì các cơ quan đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta bao gồm : Bộ tư
pháp, Bộ Ngoại giao, Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban
nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước
ngoài. Trong đó, Bộ Tư pháp là cơ quan chức năng giúp Chính phủ thực
hiện thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch trong và ngoài nước, Bộ Ngoại
giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch đối
với công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Theo như quy định thì Bộ tư pháp và Bộ ngoại giao thực hiện chức
năng quản lý hộ tịch, không trực tiếp thực hiện thẩm quyền đăng ký hộ
tịch, còn các cơ quan như: Cơ quan đại diện ngoại giao lãnh sự Việt Nam
ở nước ngoài, Sở Tư pháp), Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân

Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền đăng ký một số loại việc
hộ tịch không có yếu tố nước ngoài không thuộc thẩm quyền của Ủy ban
nhân dân cấp xã, cụ thể như sau: [10]
1. Thay đổi, cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định
lại dân tộc cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi, bổ sung điều
chỉnh hộ tịch (trong trường hợp Sổ hộ tịch không còn lưu ở Ủy ban
nhân dân cấp xã mà chỉ còn lưu ở Ủy ban nhân dân cấp huyện). Đây
cũng chính là những thẩm quyền mới được phân cấp cho Ủy ban
nhân dân cấp huyện, trước đây, Nghị định 83/1998 NĐ-CP thì những
loại việc trên đều thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
2. Cấp lại bản chính Giấy khai sinh
3. Cấp các bản sao Giấy tờ hộ tịch từ sổ gốc.
Người thực hiện thẩm quyền đăng ký hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp
huyện là chủ tịch hoặc Phó chủ tịch huyện được giao phụ trách công tác hộ
tịch.
1.4.2.3. Uỷ ban nhân dân cấp xã
Trên cơ sở quán triệt tinh thần cải cách hành chính, Nghị định
158/2008 NĐ-CP đã phân cấp việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp xã cơ quan chủ yếu thực hiện
việc đăng ký các sự kiện hộ tịch không có yếu tố nước ngoài xảy ra trên địa
bàn xã, bao gồm: [10]
1. Xác nhận các sự kiện : sinh; tử; kết hôn; nuôi con nuôi; giám hộ;
nhận cha, mẹ, con; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại
việc sinh, tử, kết hôn, nuôi con nuôi; thay đổi, cải chính hộ tịch.
2. Căn cứ vào các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi
vào sổ đăng ký các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, hủy việc
kết hôn trái pháp luật, chấm dứt việc nuôi con nuôi.
3. Cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ gốc.
Người thực hiện đăng ký hộ tịch là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã được giao phụ trách công tác tư pháp.

cách thức, trình tự mà cơ quan có thẩm quyền cũng như các cá nhân, tổ
chức phải tuân thủ khi thực hiện việc đăng ký một sự kiện hộ tịch. Trình tự,
thủ tục đăng ký hộ tịch được quy định trong các văn bản pháp luật hiện
hành về hộ tịch như Nghị định158/2005/NĐ-CP, Nghị định 06/2012/NĐ-
CP sửa đổi bổ sung Nghị định 158/2005/NĐ-CP [10,11]. Có thể phân loại
thủ tục đăng ký hộ tịch theo các tiêu chí khác nhau:
Căn cứ vào nội dung đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký khai
sinh, thủ tục đăng ký khai tử, thủ tục đăng ký kết hôn
Căn cứ vào đối tượng đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký hộ
tịch thông thường, thủ tục đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài, thủ tục
đăng ký áp dụng cho đồng bào dân tộc thiểu số;
Căn cứ thời hạn đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký đúng hạn
và thủ tục đăng ký quá hạn.
Căn cứ vào tính chất đăng ký, có thể phân thành thủ tục đăng ký lần
đầu và thủ tục đăng ký lại
Tuy nhiên, dù căn cứ vào loại tiêu chí nào thì trình tự, thủ tục đăng ký
một sự kiện hộ tịch nào đều phải xác định đầy đủ các yếu tố sau: thẩm
quyền của cơ quan đăng ký, thời hạn đăng ký, thủ tục đăng ký.
Để có thể đăng ký một sự kiện hộ tịch, người đi đăng ký (đương sự)
cần phải nộp hoặc xuất trình đầy đủ các giấy tờ cần thiết (hồ sơ) trước cơ
quan có thẩm quyền. Hồ sơ đăng ký được xem như là điều kiện để đăng ký
hộ tịch, vừa là căn cứ để chứng minh tính xác thực của sự kiện hộ tịch, vừa
là căn cứ để cơ quan đăng ký có cơ sở để kiểm tra việc đăng ký có vi phạm
các điều kiện đã được pháp luật quy định không (Ví dụ: Vi phạm điều kiện
kết hôn, điều kiện nuôi con nuôi ). Tuỳ thuộc vào từng nội dung đăng ký
khác nhau, các đối tượng đăng ký khác nhau mà pháp luật quy định hồ sơ
đăng ký bao gồm các loại giấy tờ khác nhau. Nhưng thông thường, hồ sơ
đăng ký hộ tịch bao gồm bốn loại giấy tờ chính như sau: Giấy tờ xác nhận
có sự kiện hộ tịch xảy ra. Ví dụ: Giấy chứng sinh, giấy báo tử, tờ khai đăng
ký kết hôn…; Giấy tờ làm căn cứ xác nhận thẩm quyền đăng ký hộ tịch. Ví

c. Thủ tục đăng ký khai sinh:
1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp giấv chứng sinh (theo mẫu quy
định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha,
mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).
Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra
ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của
người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người
đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.
Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của
cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.
2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ
đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản
sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.
3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định
được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và
Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người
nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và
đăng ký khai sinh.
d. Khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi
1. Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo
ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi
trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng
trẻ em đó.
Biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới
tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ,
tên, địa chỉ của người phát hiện. Biên bản được lập thành hai bản, một bản
lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản, một bảo giao cho người
hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên

(sửa đổi bổ sung Nghị định 158/2005/NĐ-CP): [10,11]
a. Thẩm quyền đăng ký kết hôn
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiên
việc đãng ký kết hôn.
2. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong
thời hạn công tác, học tập lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn,
đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc đăng ký kết hôn được thực
hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một
trong hai bên nam, nữ
b. Thủ tục đăng ký kết hôn
1. Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy
định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân.
Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng
đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.
Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài
về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao,
Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.
Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ
trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ
khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo
quy định tại Chương V của Nghị định này.
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.
2. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy
hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân
và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam,
nữ.
Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài
thêm không quá 5 ngày.

(sửa đổi bổ sung Nghị định 158/2005/NĐ-CP): [10,11]
a. Thẩm quyền đăng ký khai tử.
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện
việc đăng ký khai tử.
2. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người
chết, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết thực hiện việc đăng ký
khai tử.
b. Thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử
1. Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết
2. Thân nhân của người chết có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết
không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan,
đơn vị tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử.
c. Thủ tục đăng ký khai tử
1. Người đi khai tử phải nộp giấy báo tử hoặc giấy tờ thay cho Giấy báo tử
theo quy định tại Điều 22 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP.
2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ
đăng ký khai tử và Giấy chứng tử, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và
cấp cho người đi khai tử một bản chính Giấy chứng tử. Bản sao Giấy chứng
tử được cấp theo yêu cầu của người đi khai tử.
d. Đăng ký khai sinh và khai tử cho trẻ chết sơ sinh
Trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký
khai sinh và đăng ký khai tử. Nếu cha, mẹ không đi khai sinh và khai tử, thì
cán bộ tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung để ghi vào Sổ đăng ký khai
sinh và Sổ đăng ký khai tử. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và
Sổ đăng ký khai tử phải ghi rõ “Trẻ chết sơ sinh”.
e. Đăng ký khai tử cho người bị Toà án tuyên bố là đã chết
1. Việc đăng ký khai tử cho người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được
thực hiện khi quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Người yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải thực hiện việc
đăng ký khai tử.

thuận phải có ý kiến của người đó về việc đồng ý làm con nuôi, trừ trường
hợp người đó bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi
dân sự.
Trong trường hợp người nhận con nuôi không cư trú tại xã, phường, thị
trấn, nơi đăng ký việc nuôi con nuôi nói tại khoản 2, Điều 25 của Nghị định
này, thì Giấy thỏa thuận về việc cho và nhận con nuôi phải có xác nhận của
Ủy ban nhân cấp xã, nơi người nhận con nuôi cư trú về việc người đó có đủ
điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
2. Bản sao Giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi.
3. Biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi, nếu người được nhận làm con
nuôi là trẻ bị bỏ rơi.
b. Trình tự đăng ký việc nuôi con nuôi
1. Người nhận con nuôi phải trực tiếp nộp hồ sơ nhận con nuôi cho Ủy ban
nhân dân cấp xã, nơi đăng ký việc nuôi con nuôi.
2. Trước khi đăng ký việc nuôi con nuôi, cán bộ Tư pháp hộ tịch phải kiểm
tra, xác minh kỹ các nội dung sau đây:
- Tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi;
- Tư cách của người nhận con nuôi;
- Mục đích nhận con nuôi.
Thời hạn kiểm tra, xác minh các nội dung trên không quá 5 ngày, kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần phải xác minh thêm, thì thời
hạn được kéo dài thêm không quá 5 ngày.
Sau thời hạn nói trên, nếu xét thấy việc cho và nhận con nuôi có đủ điều
kiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp
xã đăng ký việc nuôi con nuôi.
3. Khi đăng ký việc nuôi con nuôi, bên cho, bên nhận con nuôi phải có mặt;
nếu người được nhận làm con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, thì cũng phải có
mặt. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi và
Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nuôi con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status