VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU TÂM
•
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Đô thị bền vững
HĐND
Hội đồng nhân dân
LHQ
PGS.TS
Liên Hợp Quốc
Phó giáo sư, tiến sĩ
LĐ, TB & XH
NNL
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Nguồn nhân lực
NS
Ngân sách
NSNN
Ngân sách nhà nước
TU
Thành ủy
lệ nghịch giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội... Những tồn tại này dẫn
đến hiệu quả tác động của chính sách chưa được như kỳ vọng.
Cẩm Lệ là một quận của thành phố Đà Nẵng được thành lập vào năm 2005, nằm
ở vị trí cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố. Cũng như các quận/huyện khác trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng, Cẩm Lệ được quan tâm, đầu tư phát triển, mở rộng không gian
đô thị với quá trình đô thị hóa nhanh. Sau 10 năm thành lập, Cẩm Lệ từ một vùng đất
trũng, thấp với tỷ lệ sản xuất nông nghiệp chiếm trên 60% đã chuyển mình trở thành đô
thị với cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, cũng như thành phố Đà Nẵng,
Cẩm Lệ cũng gặp phải những bất cập như ô nhiễm môi trường, các chính sách phát
triển kinh tế - xã hội chưa có sự gắn kết với nhau, việc ứng phó với biến đổi khí hậu
còn chậm và chưa có nhiều giải pháp hiệu quả... Nhận thấy những vấn đề bức thiết này,
tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng” nhằm nghiên cứu và đánh giá lại quá trình thực hiện các chính
6
sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, từ đó đề xuất các giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững ở Cẩm Lệ nói riêng
và thành phố Đà Nẵng nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xây dựng và phát triển đô thị bền vững luôn là đòi hỏi tất yếu đối với một nước
như Việt Nam đang có tỷ lệ đô thị hóa cao với tốc độ nhanh chóng. Phát triển đô thị bền
vững làm cho sự liên kết ngày càng bền chặt trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ngày nay, tư
duy phát triển đô thị bền vững cũng đã có sự chuyển biến nhanh chóng, đi vào chiều
sâu và với quy mô ngày càng rộng lớn hơn. Những chính sách phát triển kinh tế - xã
hội không những đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống kinh tế của
người dân mà còn quan tâm đến các yếu tố văn hóa, xã hội, tài nguyên và môi trường
tạo cơ sở cho đô thị phát triển theo hướng bền vững. Do đó, phát triển đô thị bền vững
và các nghiên cứu có liên quan đã được nhiều học giả, tổ chức, nhà nghiên cứu trong và
hóa, xã hội.
”Phát triển bền vững đô thị: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của thế giới”
của tác giả Đào Hoàng Tuấn (2008), đã nêu một cách tổng quát các kinh nghiệm phát
triển đô thị bền vững của các nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng của nhiều nghiên cứu.
Sách “Đô thị học- Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Minh Hòa,
Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, năm 2012. Đây là một tuyển tập 93 bài viết
trong số hàng trăm bài công bố trên các tạp chí, sách chuyên khảo trong và ngoài nước
của tác giả khi nghiên cứu về đô thị hóa trong 20 năm liên tục (1990-2012). Cuốn sách
được tác giả trình bày theo các nội dung: Nhận thức chung về đô thị; văn hóa và xã hội
đô thị; tổ chức không gian sống đô thị; phát triển đô thị trong bối cảnh ở Việt Nam;
phát triển đô thị từ kinh nghiệm quốc tế. Cuốn sách cung cấp những kiến thức về
nguyên lý và quy luật chung của phát triển đô thi, về quy hoạch - kiến trúc, giao thông,
môi trường; đặc biệt là những cách tiếp cận mới về đô thị dưới nhãn quan của đô thị
học.
Năm 2010, đề tài “Quy hoạch đơn vị bền vững” được Bộ Xây dựng xuất bản là
nghiên cứu của Nguyễn Cao Lãnh khẳng định, sự thành công của đơn vị ở hiện nay,
bên cạnh giá trị truyền thống phải là các giá trị bền vững. Nghiên cứu đưa một số quan
8
điểm tương đối có giá trị về cơ cấu và chức năng của “đơn vị ở bền vững” tuy nhiên
tính kết nối và vị thế của khu so với khu vực lân cận chưa được đề cập và phân tích rõ.
Trong lĩnh vực văn hóa đô thị, một nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn
Thanh Tuấn được xuất bản năm 2006 có tên “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện
nay ”, nội dung của cuốn sách không mô tả thực trạng văn hóa Việt Nam mà đi thẳng
vào phân tích những biến đổi về văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay theo nhiều khía cận
khác nhau từ văn hóa sản xuất kinh doanh cơ cấu dân cư, nhận thức, tổ chức quản lý đô
thị, nếp sống văn hóa đến văn hóa ứng xử của người dân đô thị. Tác giả đã phần nào
Để đạt được mục đích này, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển đô thị bền vững, chính
sách phát triển đô thị bền vững và các vấn đề thực hiện chính sách;
Hai là, nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách phát triển đô thị bền
vững tại quận Cẩm Lệ.
Ba là, trên cơ sở phân tích kết quả thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng hiện nay để đề ra những giải pháp nâng cao
hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn quận Cẩm Lệ
thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững trên địa bàn
quận Cẩm Lệ từ năm 2012 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Tiếp cận tổng hợp: Tiếp cận tổng hợp nghĩa là kết hợp cách tiếp cận từ trên
xuống và từ dưới lên. Đây là cách tiếp cận chủ đạo hiện nay, nó có thể khắc phục được
nhược điểm của cách tiếp cận từ trên xuống (có tính thực tế thấp, không phản ánh được
ý nghĩa xã hội và những ảnh hưởng của các đối tượng cụ thể) và nhược điểm của cách
tiếp cận từ dưới lên (thiếu cái nhìn tổng thể, toàn diện đối với tất cả các vấn đề). Với
cách tiếp cận tổng hợp, các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững được xem xét cả cả từ góc độ hiện tại kết hợp với những ưu tiên phát
1
0
triển trong tương lai, đảm bảo được mục tiêu hướng tới là PTBV có tính đến các yếu tố
thuyết về quy trình thực thi chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách
phát triển đô thị bền vững của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
1
1
Kết quả nghiên cứu của đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý thuyết phân tích
quá trình thực thi chính sách công, đánh giá quá trình thực thi chính sách công là cần
thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững ở nước ta nhằm nâng cao hiệu lực của chính sách phát triển đô thị bền vững đã
ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu các vấn đề về đánh giá thực hiện chính sách công. Đồng thời,
góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phát triển đô thị bền vững cho các
lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể.
Bên cạnh đó, khi những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát
triển đô thị bền vững phù hợp với thực tế thì chính sách sẽ đem lại hiệu quả thiết thực,
góp phần vào sự nghiệp xây dựng Đà Nẵng thành “thành phố môi trường”, “thành phố
4 an”: an ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm và an sinh xã hội.
7. Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển
đô thị bền vững;
Chương 2: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng;
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô
thị bền vững trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Đô thị Việt Nam được hiểu là một khu dân cư, trong đó lực lượng lao động chủ
yếu là phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị [29]. Ngày nay đô thị
không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất
phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức năng về hành chính hoặc thương mại...
mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả tất yếu của một quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của một vùng hay một quốc gia, biểu hiện của nó là tập
trung mật độ dân cư cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu
thế, cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại...
1.1.1.2. Khái niệm phát triển bền vững
Nếu Phát triển là khái niệm dùng để sự tăng lên về quy mô, sự thay đổi tích cực
về cơ cấu, tạo ra các khả năng khai thác nguồn lực cho phát triển và qua đó cải thiện
cuộc sống của con người; thì Phát triển bền vững (PTBV) khái niệm dùng để chỉ sự
phát triển đồng bộ về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển
trong tương lai xa. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): Phát triển bền vững là
một loại hình phát triển mới lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên
và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu
của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của thế
hệ tương lai. Ba lĩnh vực quan trọng nhất của phát triển bền vững đó là: kinh tế, xã hội,
môi trường.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de
Janeiro (Brazin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ
chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững”
là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát
triển bao gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là
thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm), và bảo
vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi
trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh
được 3 tiều chí quan trọng này. Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về phát
triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặc biệt là đối với người
nghèo. Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ có thể tiếp cận học hỏi thực
hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình [25].
+ Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làm giảm
các chất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị. Cải tiến công tác tiếp
cận đồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường. Bảo vệ môi trường, đảm
bảo sức khỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đô thị bền vững [25].
+ Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều
công nhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả. Điều ấy có nghĩa, các
nhà chức trách địa phương có trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn trong công cuộc phát
triển kinh tế cho địa phương mình, cho đô thị mình. Tuy nhiên, năng lực của chính
quyền địa phương nói chung còn rất hạn chế. Vì thế việc nâng cao năng lực cho chính
quyền địa phương là yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc PTBV kinh tế địa
phương [25].
+ Quản lý và điều hành đô thị theo các tiêu chí: Khuyến khích tư vấn thảo luận
và đối thoại giữa cộng đồng, những người có liên quan đến các quyết định, sự ưu tiên
và sở hữu. Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để xây dựng các tiêu chí đánh
giá. Nâng cao năng lực thông qua việc chia sẻ kinh ngiệm và thông tin.Hình thành
mạng lưới truyền thông liên kết người dân với chính quyền địa phương, chính quyền
quốc gia và toàn cầu [25].
- Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam (Ashui), đã định nghĩa về phát triển
đô thị bền vững như sau: “Mối quan hệ hữu cơ,mật thiết giữa: A) Kinh tế đô thị;B) Văn
hóa xã hội đô thị;C) Môi trường-Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị và E) Quản
lý đô thị" [10].
Từ đó có thể nhận định rằng, một đô thị bền vững trong quá trình phát triển,
theo quan niệm đầy đủ là: Khi nó đạt được sự thống nhất trong một khuôn khổ bền
vững cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của
mục tiêu đề ra.
Chính sách công là sự cụ thể hóa từ chủ trương, quan điểm, định hướng của
Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các quyết định về chính
sách là những quyết định chính trị bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm
đáp ứng nhu cầu của người dân. Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội
đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không
chỉ đặt ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết
một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội,
mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng
và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết
các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [7].
Như vậy, kết hợp các khái niệm trên cho thấy xây dựng chính sách phát triển đô
thị bền vững được hiểu là tập hợp các quyết định chính trị liên quan của Nhà nước về
phát triển đô thị bền vững để lựa chọn các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính
sách để giải quyết các vấn đề về phát triển đô thị bền vững theo mục tiêu tổng thể của
Đảng và Nhà nước đã xác định.
Về mặt bản chất, chính sách là kết tinh ý chí của chủ thể về phương thức tác
động đến các đối tượng. Tuy nhiên, chính sách chỉ được thực hiện hóa khi nó tham gia
vào quá trình vận động, triển khai thực hiện trong đời sống xã hội [8].
Tổ chức thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách
công. Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể chính
sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng, hiện
thực hóa nội dung chính sách công một cách hiệu quả.
Như vậy, thực hiện chính sách về phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá trình
hoạt động của các chủ thể bằng các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa các quyết
định chính trị có liên quan của Nhà nước về phát triển đô thị bền vững, với các mục tiêu
cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về phát triển đô thị bền
trong quá trình quản lý nhà nước cũng như phát triển đô thị một cách bền vững. Tuy
nhiên, để có được một chính sách phát triển đô thị bền vững tốt, các nhà hoạch định
phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu. Nhưng dù tốt đến đâu thì
chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được thực hiện. Những phân tích trên
đây giúp chúng ta nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thực hiện chính sách đô thị
bền vững, từ đó chủ động tích cực thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững một
cách có hiệu quả.
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là giai đoạn biến ý đồ
chính sách thành hiện thực, biến thái độ ứng xử của Nhà nước đối với các đối tượng
quản lý thành hiện thực. Qua tổ chức thực hiện để khẳng định tính đúng - sai của chính
sách cũng như giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện. Tổ chức thực hiện chính sách
không tiến hành tốt dễ dẫn đến thiếu tin tưởng thậm chí chống đối của nhân dân đối với
Nhà nước, chẳng hạn việc thực hiện chính sách đền bù đất đai trong thời gian qua.
Hoạt động thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững có vai trò then chốt
trong thúc đẩy phát triển xã hội, phát triển đất nước, cụ thể như sau:
Thứ nhất, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm biến ý đồ chính
sách thành hiện thực. Trong quản lý xã hội và quản lý đô thị, công cụ được nhà nước và
chính quyền địa phương dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng
quản lý là chính sách. Tùy theo yêu cầu quản lý, phát triển nền kinh tế, phát triển đô thị
ở từng thời kỳ, nhà nước và chính quyền địa phương chủ động ban hành các chính sách
để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế theo định hướng. Như vậy,
có thể nói thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là giai đoạn biến thái độ ứng
xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực.
Thứ hai, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm từng bước thực
hiện các mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững và mục tiêu chung. Trong đó,
mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững có liên quan đến nhiều hoạt động chính
trị, kinh tế, xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết
tất cả các vấn đề có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi quá trình.
kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất.
Nói như vậy không có nghĩa là thực hiện một cách máy móc lộ trình và phương thức
thực hiện chính sách của nhà nước mà cần tùy theo những điều kiện cụ thể để tiến hành
thực hiện các bước cho hợp lý.
- Đảm bảo tính khoa học và pháp lý trong tổ chức thực hiện chính sách.Tính
khoa học thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững là việc phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý chính sách phát triển đô thị,
việc thu hút các nguồn lực hướng mạnh vào thực hiện mục tiêu chính sách, hình thành
các chương trình, dự án để thực hiện có hiệu quả một chính sách... Tính pháp lý được
thể hiện trong tổ chức thực hiện chính sách là việc chấp hành các chế định về thực hiện
chính sách như: Trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức, các cá nhân được giao thực hiện
chính sách, thủ tục giải quyết các mối quan hệ trong thực hiện chính sách, cưỡng chễ
thực hiện chính sách trong trường hợp cần thiết.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
1.2.1. Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững1
Chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là một trong những
công cụ quản lý của Nhà nước để điều hành hoạt động kinh tế - xã hội. Vì vậy, chủ thể
ban hành chính sách công hay chính sách phát triển đô thị bền vững là Nhà nước, cụ thể
là các cơ quan có thẩm quyền cũng là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách công, đặc
1 Trấn Tiến Vinh, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, luận
văn thạc sĩ Chính sách công năm 2017,
biệt là có sự tham gia của các tầng lớp nhân dân là những đối tượng thực hiện chính
sách công, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách.
Về phía Nhà nước, chủ thể ban hành chính sách đồng thời là chủ thể tổ chức
thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững, gồm các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các Bộ có liên quan như Bộ Tài
nguyên và môi trường, Bộ Giao thông vận tài, Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, UBND các
Quốc hội (ủy ban Giám sát việc thực hiện Thấm tra, giám sát
Quan tâm, hỗ trợ
khoa học công nghệ Luật, Nghị quyết của Quốc
và Môi trường)
hội; giám sát hoạt động của
Chính phủ, các Bộ, các cơ
quan ngang bộ... trong việc
thực hiện chính sách phát
triển đô thị
Chính phủ
Thống nhất quản lý PTĐT Quản lý trong phạm
Quan tâm, Hỗ trợ
trong phạm vi cả nước; ban vi cả nước
hành văn bản QPPL, cơ
chế, chính sách cụ thể để
đảm bảo PTĐTBV
Cấp TW
Bộ xây dựng
Là cơ quan chính phủ thực Quản lý cấp Trung
nhà ở; công sở; thị
Cấp
địa UBND các tỉnh/thành Quản
về PTĐT
trên địa
trườnglýbất
động sản;
vật Quản lý cấp tỉnh,
bàn,
tỉnh,dựng;
thành quản lý nhà thành phố
liệu xây
phương
Phòng kinh tế và hạ Quản
PTĐTvụtrêncông
địa Quản lý cấp huyện,
nước lý
cácvề dịch
tầng
(huyện)
Động cơ/thái độ
Tác động
Tác động
dân, doanh nghiệp
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu và thực tiễn về quản lý và thực hiện chính sách công
1.2.2. Môi trường thể chế chính sách phát triển đô thị bền vững
Thể chế giúp cho mọi hoạt động của đời sống xã hội diễn ra có trật tự theo một
hệ thống nhất định. Vì vậy, hệ thống thể chế thống nhất từ Trung ương đến địa phương
là nền tảng tạo lập môi trường thể chế chính sách PTĐTBV. Hệ thống thể chế chính
sách PTĐTBV phải tuân thủ thể chế chung về quy trình ban hành văn bản quy phạm
pháp luật. Qúa trình thẩm định, phê chuẩn và ban hành phải tuân theo luật định.
Thể chế chính sách PTĐTBV dựa trên hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ban
hành theo thẩm quyền:
-Thể chế do cấp Trung ương quản lý bao gồm các văn bản Luật do Quốc hội
ban hành, các văn bản pháp quy do Chính phủ và các Bộ ngành ở Trung ương ban hành.
-Thể chế do chính quyền địa phương quản lý bao gồm các văn bản quy phạm
do HĐND, UBND và các cơ quan chức năng các cấp ở địa phương ban hành.
Hệ thống thể chế
Cấp trung ương
Chủ thể ban hành
Thẩm quyền ban hành
Quốc hội
Hiến pháp/Luật/Nghị quyết
Chính phủ
Cấp huyện, quận, thị xã
tỉnh, thành phố
- Quyết định
- Quyết định, Chỉ thị
thành phố thuộc tỉnh thành Các phòng Quản lý Đô thị (quận, thị xã
phố
thuộc tỉnh, thành phố), Phòng Kinh tế - Quyết định
và hạ tầng (huyện)
Nguồn: Tổng hợp từ các tài liệu và thực tiễn về chính sách phát triển đô thị bền vững 1.3. Các
bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững