VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIỀU TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
phố Đà Nẵng .................................................................................................................. 30
2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng ......................................................................................... 32
2.4. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận
Cẩm Lệ .......................................................................................................................... 57
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........... 65
3.1. Quan điểm, định hướng phát triển đô thị bền vững ở thành phố Đà Nẵng ............ 65
3.2. Các nhóm giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển đô thị bền
vững ở quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng .................................................................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT
Chỉ thị
ĐTBV
Đô thị bền vững
HĐND
Hội đồng nhân dân
LHQ
UBND
Ủy ban nhân dân
TW
Trung ương
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững .............................19
Bảng 1.2: Môi trường thể chế chính sách PTĐTBV .....................................................21
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất các ngành của quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012-2017 .............34
Bảng 2.2: Tổng thu ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm cho người lao động
quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012-2017 ...............................................................................35
Bảng 2.3: Hoạt động thể dục thể thao quận Cẩm Lệ qua các năm 2012-2016 .............36
Bảng 2.4: Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế quận Cẩm Lệ qua các năm
2012-2016 ......................................................................................................................37
Bảng 2.5: Đánh giá về chính sách phát triển đô thị quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng...............................................................................................................................60
Bảng 2.6: Đánh giá mục tiêu của chính sách phát triển đô thị UBND quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng ........................................................................................................61
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng cũng như các thành phố khác trong cả nước, mặc dù là thành phố trẻ
và có những thuận lợi trong quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng nhưng việc thực
hiện chính sách về phát triển đô thị bền vững cũng gặp phải những vấn đề như: quy
nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xây dựng và phát triển đô thị bền vững luôn là đòi hỏi tất yếu đối với một nước
như Việt Nam đang có tỷ lệ đô thị hóa cao với tốc độ nhanh chóng. Phát triển đô thị
bền vững làm cho sự liên kết ngày càng bền chặt trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ngày
nay, tư duy phát triển đô thị bền vững cũng đã có sự chuyển biến nhanh chóng, đi vào
chiều sâu và với quy mô ngày càng rộng lớn hơn. Những chính sách phát triển kinh tế
- xã hội không những đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đảm bảo đời sống kinh tế của
người dân mà còn quan tâm đến các yếu tố văn hóa, xã hội, tài nguyên và môi trường
tạo cơ sở cho đô thị phát triển theo hướng bền vững. Do đó, phát triển đô thị bền vững
và các nghiên cứu có liên quan đã được nhiều học giả, tổ chức, nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước quan tâm.
Phát triển bền vững là đề tài nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và thực hiện. Một trong số đó, có thể kể đến công trình“Tổng quan những nghiên cứu
về phát triển bền vững ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Song Tùng thực hiện năm
2008. Nghiên cứu phản ánh tổng quan những nghiên cứu về phát triển bền vững, gồm
02 phần phần 1 là tổng quan những nghiên cứu về phát triển bền vững nông nghiệp,
nông thôn ở Việt Nam và phần 2 là tổng quan những nghiên cứu về phát triển bền
vững đô thị và khu công nghiệp ở Việt Nam. Nghiên cứu có giá trị tham khảo rất lớn
vì đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và tổng quan những công trình về PTBV có giá
trị cho các học giả, nhà nghiên cứu.
Chương trình “Phát triển bền vững môi trường trong các đô thị nghèo” (20052010) do GS.TS. Nguyễn Hữu Dũng, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ Bộ Xây
dựng là giám đốc kiêm Trưởng ban quản lý Hợp phần. Bộ Xây dựng cam kết lồng
ghép các chương trình bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng trong quá
trình đưa ra quyết định: quản lý quy hoạch về môi trường đô thị, quản lý hạ tầng kỹ
thuật môi trường và cung cấp dịch vụ đô thị. Các hoạt động của hợp phần được gắn kết
với các mục tiêu của Chương trình cũng như các mục tiêu đề ra trong Chiến lược bảo
2
tính kết nối và vị thế của khu so với khu vực lân cận chưa được đề cập và phân tích rõ.
3
Trong lĩnh vực văn hóa đô thị, một nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn
Thanh Tuấn được xuất bản năm 2006 có tên “Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện
nay”, nội dung của cuốn sách không mô tả thực trạng văn hóa Việt Nam mà đi thẳng
vào phân tích những biến đổi về văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay theo nhiều khía cận
khác nhau từ văn hóa sản xuất kinh doanh cơ cấu dân cư, nhận thức, tổ chức quản lý
đô thị, nếp sống văn hóa đến văn hóa ứng xử của người dân đô thị. Tác giả đã phần
nào đưa ra được bức tranh về văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay trong bối cảnh phát
triển giao lưu và hội nhập, nhất là những khía cạnh cơ bản về văn hóa ứng xử trong
sản xuất và sinh hoạt của người dân đô thị hiện nay đối với môi trường xung quanh.
Bên cạnh những nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững của Việt Nam, cũng
có rất nhiều những nghiên cứu khác nói về Đà Nẵng. Trong số đó, nghiên cứu “Những
vấn đề đặt ra đối với quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Thành phố Đà Nắng hiện nay”
của tác giả Võ Văn Lợi được in trên Tạp chí Tài nguyên và môi trường. - Số
3/2014(185). Bài viết nêu những vấn đề đặt ra đối với quy hoạch sử dụng đất đô thị ở
thành phố Đà Nẵng hiện nay được làm rõ thực trạng quy hoạch sử dụng đất. Từ những
phân tích này, tác giả đã rút ra một số hạn chế, bất cập, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp
nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Đà Nẵng hiệu quả hơn.
Như vậy, vấn đề phát triển đô thị bền vững đã được nhận thức đúng đắn và
quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu một
cách có hệ thống, đầy đủ về việc thực hiện các chính sách phát triển đô thị bền vững
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đặc biệt trên địa bàn quận Cẩm Lệ. Xuất phát từ lý do
trên tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình. Đề tài luận văn thực hiện có sự
kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để đánh giá,
phân tích, từ đó đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương
phát triển kinh tế - xã hội của quận trong những năm tới.
xuống và từ dưới lên. Đây là cách tiếp cận chủ đạo hiện nay, nó có thể khắc phục được
nhược điểm của cách tiếp cận từ trên xuống (có tính thực tế thấp, không phản ánh
được ý nghĩa xã hội và những ảnh hưởng của các đối tượng cụ thể) và nhược điểm của
cách tiếp cận từ dưới lên (thiếu cái nhìn tổng thể, toàn diện đối với tất cả các vấn đề).
Với cách tiếp cận tổng hợp, các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát
triển đô thị bền vững được xem xét cả cả từ góc độ hiện tại kết hợp với những ưu tiên
phát triển trong tương lai, đảm bảo được mục tiêu hướng tới là PTBV có tính đến các
yếu tố BĐKH được dự báo một cách khoa học trong tương lai.
- Cách tiếp cận thể chế: Đề tài tiếp cận hệ thống các chính sách, pháp luật liên
5
quan đến phát triển đô thị bền vững của Trung ương, của thành phố Đà Nẵng và của
quận Cẩm Lệ.
- Cách tiếp cận khoa học quản lý: Đề tài dựa trên các nghiên cứu về khoa học
quản lý để đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát triển đô thị
bền vững tạo quận Cẩm Lệ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tư liệu: Luận văn tiến hành thu
thập, phân tích và tổng hợp thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn
kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa
phương; các tài liệu, công trình nghiên cứu, các báo cáo, thống kê của chính quyền,
ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề
chính sách phát triển đô thị bền vững ở nước ta nói chung và thực tế thành phố Đà
Nẵng và quận Cẩm Lệ nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và
học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Luận văn đã tiến hành phỏng vấn bằng bảng
hỏi đối với 120 nhân viên các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn quận Cẩm Lệ và thành
phố Đà Nẵng và 100 người dân sống trên địa bàn quận Cẩm Lệ để tìm hiểu các thông
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát triển
đô thị bền vững;
Chương 2: Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng;
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển đô thị
bền vững trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
7
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG
VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG
1.1. Những vấn đề lý luận về phát triển đô thị bền vững và chính sách phát
triển đô thị bền vững
1.1.1. Các khái niệm có liên quan
1.1.1.1. Khái niệm đô thị
Đô thị được hiểu là “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có
thể là công nghiệp; thành phố hoặc thị trấn” [31].
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt
động theo những khu vực kinh tế phi nông nghiệp [31].
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, hệ thống dân cư mà mỗi nước có quy
định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song phần nhiều đều thống
nhất hai tiêu chuẩn cơ bản [31].
- Quy mô và mật độ dân số: Quy mô trên 2000 người sống tập trung, mật độ
trên 3000 người/km2 trong phạm vi nội thị.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de
Janeiro (Brazin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững
tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền
vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của
sự phát triển bao gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội
(nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc
làm), và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện
chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử
dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là
sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác
hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng
môi trường sống.
1.1.1.3. Khái niệm đô thị bền vững/phát triển đô thị bền vững
Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất về phát triển bền vững đô
thị. Rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất
9
về phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiên
cứu. Tùy thuộc vào mục đích và phương pháp nghiên cứu mà các tác giả sẽ có
những quan điểm khác nhau. Các quan điểm về phát triển đô thị bền vững được
trình bày rất đa dạng.
* Trên thế giới:
- Xuất phát từ bản báo cáo của Ủy ban Brundtland, tại hội nghị URBAN21 (tổ
chức tại Berlin tháng 7/2000), người ta đã đưa ra định nghĩa về phát triển đô thị bền
vững: “Cải thiện chất lượng cuộc sống trong một thành phố, bao gồm cả các thành
phần sinh thái, văn hóa, chính trị, thể chế, xã hội và kinh tế nhưng không để lại
gánh nặng cho các thế hệ tương lai,một gánh nặng bị gây ra bởi sự sút giảm nguồn
vốn tự nhiên và nợ địa phương quá lớn. Mục tiêu của chúng ta là nguyên tắc dòng
dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội.
* Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ
ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị [25].
Như vậy phát triển đô thị bền vững luôn đồng hành với phát triển bền
vững nói chung. Đương nhiên, theo ý nghĩa này, phát triển đô thị bền vững không
bó hẹp theo quan điểm và nhiệm vụ của các nhà quy hoạch mà cần mở rộng hơn
nhiều lĩnh vực. Phát triển đô thị cần được lồng ghép và tiếp cận theo cách nhìn nhận
mà các tổ chức Quốc tế đã đồng thuận đề ra đó là:
+ Là nơi ở cho tất cả mọi người, khái niệm này ý chỉ việc cải thiện nơi ở thông
qua việc thực hiện chính sách nhà ở quốc gia. Hình thành thị trường nhà ở với những
chức năng đầy đủ và thích hợp. Huy động sự tham gia của cộng đồng. Cải thiện và
đảm bảo tính pháp lý và an toàn về quyền sử dụng đất. Cải thiện việc huy động tài
chính nhà ở. Và cung cấp đầy đủ cở sở hạ tầng dịch vụ cơ bản.
Giảm nghèo đói đô thị ở đây có 3 tiêu chí nghèo đô thị là nghèo tiền, nghèo
bất động sản và nghèo quyền do đó cần có một chính sách toàn diện mới giải quyết
được 3 tiều chí quan trọng này. Muốn vậy cần xây dựng một cơ chế bền vững về phát
triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư đặc biệt là đối với
người nghèo. Cung cấp đầy đủ thông tin cho cộng đồng để họ có thể tiếp cận học hỏi
thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình [25].
Quản lý môi trường đô thị là cải thiện các điều kiện môi trường và làm giảm
các chất thải sinh hoạt và các chất thải công nghiệp trong đô thị. Cải tiến công tác tiếp
cận đồng bộ trong viêc cung cấp các dịch vụ môi trường. Bảo vệ môi trường, đảm
11
bảo sức khỏe, an toàn dịch bệnh để hỗ trợ đầy đủ phát triển đô thị bền vững [25].
Phát triển kinh tế địa phương cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều
công nhận chính sách phi tập trung là cần thiết và có hiệu quả. Điều ấy có nghĩa, các
nhà chức trách địa phương có trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn trong công cuộc phát
chính trị, chính thể, xã hội và kinh tế mà không trở thành gánh nặng cho thế hệ tương
lai”.
1.1.1.4. Khái niệm về chính sách
Chính sách là một thuật ngữ được quan tâm và sử dụng nhiều. Chính sách chủ
yếu do nhà nước ban hành nhằm thực hiện những mục đích của nhà nước hướng tới.
Cũng có nhiều quan niệm cho rằng chính sách do nhà nước đưa ra nhằm xác định rõ
cái gì nhà nước làm và tại sao nhà nước lại làm những việc đó mà không làm những
việc khác cũng như cái giá phải trả cho việc làm đó [9].
Cũng có thể hiểu chính sách công như là một sự phân bổ giá trị mang tính
quyền lực của nhà nước cho toàn xã hội và cái mà Chính phủ làm (hay không làm) đều
gắn liền với phân bố giá trị xã hội đó và chỉ có nhà nước mới làm được sự phân bổ đó
[9].
Cùng với các nghiên cứu của France Ellis, Tsaint Geouss, các nhà kinh tế học
Việt Nam đã tiếp cận với định nghĩa về khái niệm chính sách “Như là kiểu phương
pháp can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực nào đó theo những mục tiêu và sự can thiệp
cần thiết cũng như mức độ can thiệp thích hợp” [5]
Qua đó có thể thấy một chính sách có các đặc điểm sau:
- Là một phương pháp, biện pháp can thiệp;
- Chủ thể ban hành là Nhà nước;
- Tác động đến các đối tượng cụ thể dựa trên các cơ chế thực thi nhằm đạt được
mục tiêu đề ra.
Chính sách công là sự cụ thể hóa từ chủ trương, quan điểm, định hướng của
Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các quyết định về chính
sách là những quyết định chính trị bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm
đáp ứng nhu cầu của người dân. Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội
đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không
chỉ đặt ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết
một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội,
mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng
thực hóa chính sách trong đời sống xã hội.
Thứ hai, quá trình tổ chức thực hiện chính sách vào thực tiễn cuộc sống là quá
trình phức tạp, đầy biến động, chịu sự tác động của một loạt yếu tố, thúc đẩy hoặc cản
trở thực hiện chính sách.
14
Thứ ba, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững là toàn bộ quá trình
hoạt động của các chủ thể với số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện rất lớn,
bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức
thực hiện trên lĩnh vực đô thị của nhà nước. Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện
mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững diễn ra cũng hết sức phong phú, phức
tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy kìm hãm nhau theo
quy luật.
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững bằng những cách thức
khác nhau nhằm hiện thực hóa các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước về
phát triển đô thị bền vững là một quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì
thế chúng ta cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai
thực hiện một cách chủ động hoàn toàn, có phân công, phối hợp để thực hiện có hiệu
quả các nội dung chính sách trong đời sống xã hội.
1.1.2. Vai trò của việc thực hiện chính sách đô thị bền vững
Chính sách phát triển đô thị bền vững tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước
trong quá trình quản lý nhà nước cũng như phát triển đô thị một cách bền vững. Tuy
nhiên, để có được một chính sách phát triển đô thị bền vững tốt, các nhà hoạch định
phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìm kiếm rất công phu. Nhưng dù tốt đến đâu
thì chính sách cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được thực hiện. Những phân tích
trên đây giúp chúng ta nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thực hiện chính sách đô
thị bền vững, từ đó chủ động tích cực thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Thứ ba, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm khẳng định tính
đúng đắn của chính sách trong phát triển đô thị. Một khi chính sách phát triển đô thị
bền vững được triển khai thực hiện rộng rãi trong xã hội, thì tính đúng đắn của nó
được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối
tượng thụ hưởng chính sách phát triển đô thị bền vững.
Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững nhằm giúp cho chính
sách ngày càng hoàn chỉnh. Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động, phát
triển của môi trường nên giữa chính sách phát triển đô thị bền vững và thực tế xã hội
trong giai đoạn tổ chức thực hiện chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng
những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách.
Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện pháp thực hiện chính sách phát triển
đô thị bền vững trong quá trình thực hiện, chính là hoạt động hoàn chỉnh những chính
16
sách phát triển đô thị bền vững đang có và góp phần đúc rút những kinh nghiệm cho
hoạch định các chính sách giai đoạn sau [9].
1.1.3. Yêu cầu tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững phải đáp ứng các yêu
cầu sau:
- Bảo đảm mục tiêu thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững. Để có thể
thực hiện, mục tiêu chính sách phát triển đô thị bền vững phải cụ thể, rõ ràng, chính
xác. Đây là vấn đề quan trọng đầu tiêu để thu hút mọi hoạt động thực hiện chính sách
phát triển đô thị bền vững theo một định hướng. Thực hiện chính sách phát triển đô thị
bền vững là những hoạt động cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối
tượng chính sách nhằm đạt được các mục tiêu trực tiếp.
- Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách. Tổ chức thực hiện chính
sách phát triển đô thị bền vững là một bộ phận cấu thành trong chu trình chính sách,
nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống
thẩm quyền quản lý đối với bộ máy công quyền trên địa bàn đô thị, bao gồm:
- Xây dựng khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển đô thị bao gồm các văn bản
pháp quy, quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy chế quản lý quy hoạch, quản lý phát triển đô thị;
- Lập quy hoạch, kế hoạch thực hiện chương trình đầu tư phát triển đô thị; tổ
chức triển khai thực hiện nhiệm vụ trong quyền hạn và phạm vi quản lý đảm bảo cho
các hoạt động kinh tế xã hội trên địa bàn;
- Xây dựng hệ thống kiểm soát và phát triển đô thị theo quy hoạch và pháp luật
vì mục tiêu phát triển bền vững, chủ yếu về quản lý và sử dụng đất đô thị; quản lý phát
triển cơ sở hạ tầng, phát triển nhà ở; quản lý tài chính đô thị;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về quản lý phát triển
đô thị;
- Thanh tra, kiểm tra và quản lý trật tự xây dựng và phát triển đô thị; trật tự văn
minh đô thị, gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hóa-kiến trúc cảnh quan đô thị;
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về quy hoạch phát triển và xây dựng đô thị;
1
Trấn Tiến Vinh, thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững từ thực tiễn thành Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam,
luận văn thạc sĩ Chính sách công năm 2017,
18
Bảng 1.1: Chủ thể thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững
Cấp quản
Các bên tham
lý
gia (chủ thể)
lý
trong Quan tâm, Hỗ trợ
PTĐT trong phạm vi cả phạm vi cả nước
nước; ban hành văn bản
QPPL, cơ chế, chính
sách cụ thể để đảm bảo
PTĐTBV
Cấp TW
Bộ xây dựng
Là cơ quan chính phủ Quản
lý
cấp Ảnh hưởng
thực hiện chức năng Trung ương
quản lý nhà nước về
PTĐT (Quy hoạch XD;
kiến trúc; hoạt động đầu
tư xây dựng, phát triển
đô thị; hạ tầng kỹ thuật
đô thị và KCN; khu KT;
Khu CN cao; nhà ở;
công sở; thị trường bất
động sản; vật liệu xây
dựng; quản lý nhà nước