Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận này, trước
hết tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy
cô giáo đã và đang công tác tại Khoa
Luật - Đại học Huế đã dìu dắt, dạy dỗ tôi
trong suốt thời gian qua, 4 năm học tập
trên giảng đường Đại học. Đặc biệt, tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Giảng viên, Thạc só Trần Việt Dũng đã
quan tâm hướng dẫn, chỉ bảo và giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến các cô chú, anh chò đang công
tác tại Phòng Tư pháp huyện Tuyên Hóa,
tỉnh Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện tốt
nhất, cung cấp các số liệu, tài liệu cần
thiết góp phần giúp tôi hoàn thành đề
tài nghiên cứu.
Và mặc dù đã có nhiều cố gắng
trong nghiên cứu, tìm tòi tài liệu, nhưng do
kiến thức còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm
chưa nhiều, cho nên sẽ không thể tránh
khỏi những sai sót. Kính mong nhận được
sự quan tâm, góp ý của các thầy cô,
bạn bè để tôi có thể hoàn thiện hơn bài
làm của mình, cũng như góp phần làm
cho đề tài có giá trò hơn trong thực tiễn.
Huế, ngày 10 tháng 02
năm 2013
Sinh viên thực hiện
Hồ Thò Hồng Hạnh
HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH 41
2.1. Thực trạng hoạt động chứng thực trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng
Bình 41
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Tuyên
Hóa 41
2.1.2. Những kết quả đạt được trong công tác chứng thực trên địa bàn huyện Tuyên
Hóa từ năm 2010 đến năm 2012 41
2.1.3. Những tồn tại hạn chế trong công tác chứng thực trên địa bàn huyện Tuyên
Hóa từ năm 2010 đến năm 2012 50
2.1.4. Nguyên nhân của thực trạng trên 59
2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chứng thực trên địa bàn huyện Tuyên
Hóa 63
2.2.1. Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao chất lượng hoạt động chứng thực
63
2.2.2. Các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động chứng thực
64
2.2.2.1. Hoàn thiện hơn các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động chứng thực
64
2.2.2.2. Nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện
hoạt động chứng thực 68
2.2.2.3. Đầu tư trang bị cơ sở vật chất, thiết bị làm việc tại các phòng làm việc 70
2.2.2.4. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
71
2.2.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện hoạt
động chứng thực 72
2.2.2.6. Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính trong hoạt động
chứng thực 74
C. PHẦN KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Theo quy định của pháp luật thì chứng thực là việc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (Phòng Tư pháp cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã
(UBND), cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài) căn cứ vào bản chính để xác
nhận bản sao các loại giấy tờ, văn bản là đúng với bản chính.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, trình độ xã hội hóa
ngày càng cao, các quan hệ dân sự, thương mại ngày phức tạp. Người dân
5
có thể sử dụng một lúc nhiều loại giấy tờ hoặc một loại giấy tờ vào mục
đích khác nhau. Điều đó đòi hỏi hoạt động chứng thực phải đáp ứng được
nhu cầu này. Đồng thời, cũng phải phù hợp với quá trình đổi mới mà Đảng
và Nhà nước ta đã đề ra là: cải cách nền hành chính nhà nước là trung tâm
của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước.
Thời gian qua hoạt động chứng thực ở nước ta nói chung và ở trên địa
bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình nói riêng đã phần nào đáp ứng
được nhu cầu của người dân, góp phần thiết lập được trật tự pháp lý trong
các giao dịch dân sự, hạn chế được các hiện tượng vi phạm pháp luật, trình
độ năng lực của cán bộ làm công tác chứng thực cũng được nâng cao. Song
trước tình hình hiện nay, hoạt động chứng thực vẫn còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc cần được giải quyết như: thẩm quyền chứng thực chưa
thống nhất, cơ chế một cửa thành hai cửa, chứng thực bản dịch còn lúng
túng, việc giám sát hoạt động chứng thực còn thấp, hay tình trạng quá tải,
ùn tắc và phiền hà trong việc chứng thực Để giải quyết những vấn đề này
trong lý luận cũng như trong thực tiễn liên quan đến hoạt động chứng thực
cần phải có một sự nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc. Đó là lý do để tác giả
khóa luận chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động chứng thực trên địa bàn
huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động
chứng thực: chủ thể, thẩm quyền, trình tự thủ tục hoạt động chứng thực và
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm
chính sách của Đảng và nhà nước về hoạt động chứng thực. Bên cạnh sử
dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật, đề tài còn sử dụng các
7
phương pháp so sánh, phân tích, chứng minh, tổng hợp, điều tra số liệu để
đánh giá thực trạng hoạt động chứng thực trên địa bàn huyên Tuyên Hóa,
tỉnh Quảng Bình.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận. Phần nội dung gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động chứng thực;
Chương 2 : Thực trạng hoạt động chứng thực và những giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động chứng thực trên địa bàn huyện Tuyên Hóa, tỉnh
Quảng Bình từ năm 2010 đến năm 2012.
8
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG CHỨNG THỰC
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động chứng thực
Có thể nói lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động chứng thực nó
gần như gắn liền với sự hình thành và phát triển của hoạt động công chứng.
Đây là một trong những hoạt động pháp lý đã xuất hiện từ lâu ở các
nước trên thế giới.
Cách đây hàng ngàn năm ở Hy Lạp và Ai Cập, đặc biệt là ở La Mã đã
có người làm dịch vụ văn tự. Nhưng nghề công chứng, chứng thực bắt đầu
phát triển vào khoảng thế kỉ XIV, XV. Thời gian này đã có hoạt động
chứng nhận các bản sao giấy tờ nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chứng
nhận các hợp đồng giao dịch.
Ở Việt Nam, sau khi cách mạng tháng tám thành công, ngày
thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác do pháp
luật quy định.
Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện, nhiều quy định của Nghị định
31/CP đã tỏ ra bất cập, không còn phù hợp với thực tế. Do vậy, ngày
8/12/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2000 NĐ - CP về công
chứng chứng thực thay thế cho Nghị định số 31/CP. Quy định của Nghị
định 75/2000/NĐ - CP bước đầu có sự tách bạch giữa công chứng và chứng
thực, tức là đã có sự phân biệt giữa hoạt động của cơ quan chuyên trách
thực hiện công chứng là Phòng công chứng. Theo quy định tại Điều 2 Nghị
định này thì chứng thực là việc UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y
giấy tờ, hợp đồng giao dịch và chữ kí của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ
cho việc giao dịch của họ.
10
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa hoạt động công chứng và chứng thực về
cơ bản mới chỉ dừng lại ở khía cạnh chủ thể thực hiện, có nghĩa là cùng
một việc nếu do Phòng công chứng thực hiện thì được gọi là công chứng,
còn nếu do UBND cấp xã, cấp huyện thực hiện thì gọi là chứng thực.
Từ nhiều năm nay nhu cầu về bản sao, kể cả bản sao được chứng thực
là rất lớn. Thực hiện Nghị định số 75/2000/NĐ - CP ngày 08/12/2000 của
Chính phủ về công chứng, chứng thực, hoạt động chứng thực của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã có những đóng góp lớn trong việc đáp
ứng yêu cầu chứng thực của nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong quá trình thực hiện
Nghị định số 75/2000/NĐ - CP về công chứng, chứng thực, cũng còn bộc
lộ nhiều hạn chế, bất cập, thể hiện rõ nhất là tình trạng quá tải, ùn tắc và
phiền hà trong việc công chứng, chứng thực bản sao giấy tờ, chữ ký tại các
Phòng công chứng và UBND cấp huyện. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
tình trạng đó là do còn có sự lẫn lộn, trùng lặp giữa hai hoạt động công
chứng (hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp mang tính chất
dịch vụ công, do công chứng viên thực hiện) và hoạt động chứng thực
bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức
tự nguyện yêu cầu công chứng.
Với việc tách bạch phạm vi giữa công chứng và chứng thực là hoàn
toàn phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
Do đó, ngày 18/05/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ
-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực
chữ ký (sau đây gọi tắt là Nghị định số 79/2007/NĐ - CP) để thay thế các
Nghị định trước đó, nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân.
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng
Công báo (đăng Công báo ngày 15/6/2007) và thay thế các quy định về
chứng thực bản sao, chữ ký trong Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày
12
08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực. Đây là Nghị định
mới nhất và có hiệu lực cho tới hiện nay.
1.2. Khái niệm và vai trò của hoạt động chứng thực
Khái niệm luôn là yếu tố mà không một công trình khoa học hay một
bài luận văn nào có thể bỏ qua khi nghiên cứu một vấn đề nào đó. Việc
nghiên cứu về hoạt động chứng thực cũng không phải là ngoại lệ. Do đó,
khi tìm hiểu quy định này, chúng ta cũng phải bắt đầu từ những quy định
mang tính chất nền tảng của khái niệm chứng thực.
Trước đây trong triết học đã từng xuất hiện chủ nghĩa thực chứng.
Chủ nghĩa thực chứng là một trào lưu triết học thịnh hành ở các nước như
Anh, Mỹ trong thời kì sau chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Thuật ngữ chủ nghĩa thực chứng (positivsm, positivisme trong tiếng
Anh, Pháp) xuất phát từ positivus có nghĩa là xác thực rõ ràng. Positive-
negative là một cặp từ được dùng ở nhiều nghĩa khác nhau, chẳng hạn như:
âm, dương của một nguồn điện. Cặp từ này cũng có nghĩa là khẳng định (nói
có) - phủ định (nói không) trong các phán đoán. Thí dụ, trong kết quả xét
nghiệm một loại virut nếu được ghi là negative có nghĩa là âm tính không có
virut. Cặp từ này còn có nghĩa là tích cực - tiêu cực. Riêng từ ''positive''
đồng nhất việc chứng thực của UBND và việc công chứng của phòng công
chứng. Trên thực tế khi triển khai thực hiện Nghị định 75/2000 nhiều cá
nhân, tổ chức đã không biết việc nào thuộc thẩm quyền của phòng công
chứng và việc nào thuộc thẩm quyền của UBND nên đã đến Phòng công
chứng để công chứng tất cả mọi văn bản. Chính và vây mà Phòng công
chứng thường xuyên quá tải. Nhận thấy được những hạn chế đó, nên Nghị
định số 79/2007 NĐ - CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng
thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đã ra đời thay thế cho Nghị
định số 75/2000.
Chứng thực là việc cơ quan hành chính nhà nước xác nhận tính chính
xác, tính có thực của các bản sao giấy tờ, văn bản được chứng thực so với
bản chính, xác nhận tính chính xác, tính có thực của chữ ký được chứng
14
thực là chữ ký của một các nhân cụ thể, là cơ sở cho việc thực hiện các giao
dịch của cá nhân, tổ chức trong xã hội được dễ dàng thuận tiện.
Theo quy định tại Nghị định 79/2007/ NĐ - CP ngày 18 tháng 5 năm
2007 về chứng thực thì hoạt động chứng thực gồm:
- Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định tại Điều 5 Nghị định này căn cứ vào bản chính để
chứng thực bản sao là đúng với bản chính;
- Chứng thực chữ kí là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy
định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ kí trong giấy tờ, văn
bản, là chữ kí của người đã yêu cầu chứng thực.
Như vậy, với quy định trên thì khái niệm chứng thực đã được làm rõ
tách bạch với khái niệm công chứng, không còn đồng nhất như trước đây.
- Về vai trò của hoạt động chứng thực
Khi đất nước chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, các thành phần kinh tế trong xã hội phát triễn mạnh mẽ, kèm theo
đó là một số lượng lớn các giao dịch, hợp đồng diễn ra từng ngày trên phạm
vi cả nước. Yêu cầu khách quan trên khiến cho nhà nước cần phải có công
Mục đích cơ bản của chứng thực chính là căn cứ vào bản chính để xác
minh bản sao giấy tờ đó là đúng với bản chính hoặc chứng thực chữ kí
trong các giấy tờ văn bản là chữ kí của người yêu cầu chứng thực. Hoạt
động chứng thực tạo ra một số lượng bản sao giấy tờ, chữ kí xác thực đúng
quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tham gia
các giao dịch dân sự, kinh tế và các giao dịch khác trong xã hội. Bởi đó là
căn cứ pháp lý có giá trị giống bản chính và thay thế cho bản chính.
1.3. Phân biệt hoạt động công chứng và chứng thực
Từ lâu hoạt động công chứng và chứng thực đã xuất hiện ở nước ta,
nhưng việc hiểu và phân biệt được hai khái niệm này hầu như còn hạn chế
ngay cả đối với các cán bộ làm công tác công chứng chứng thực và cả trong
quần chúng nhân dân.
16
Thứ nhất, hoạt động công chứng
* Khái niệm: Công chứng là hoạt động của công chứng viên xác nhận
tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà
theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân tổ chức tự
nguyện yêu cầu công chứng.
* Chủ thể công chứng: Hoạt động công chứng do công chứng viên
thực hiện tại văn phòng công chứng.
Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp
luật, được bổ nhiệm để hành nghề công chứng. Công chứng là một nghề,
người hành nghề công chứng hoạt động trong Phòng công chứng hoặc văn
phòng công chứng.
* Địa điểm thực hiện công chứng: gồm Phòng công chứng và văn
phòng công chứng.
Phòng công chứng do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị
sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, có con dấu và tài khoản riêng. Tên
gọi của Phòng công chứng bao gồm bao gồm số thứ tự thành lập và tên của
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi phòng công chứng được thành lập.
* Khái niệm: chứng thực là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng
với bản chính, hoặc chứng thực chữ kí trong các giấy tờ, văn bản là chữ kí
của người yêu cầu chứng thực.
Hoạt động chứng thực bao gồm: chứng thực bản sao từ bản chính và
chứng thực chữ kí trong các giấy tờ văn bản.
Trước đây, hoạt động chứng thực còn bao gồm cả chứng thực hợp
đồng giao dịch. Tuy nhiên, từ khi có Nghị định 79/2007 NĐ - CP của
Chính phủ có hiệu lực thì đối với các hợp đồng giao dịch được chuyển qua
cho văn phòng công chứng hoặc phòng công chứng.
Chứng thực bản sao từ bản chính là việc của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.
18
Bản chính là bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lần đầu tiên
có giá trị pháp lý để sử dụng, là cơ sở để đối chiếu và chứng thực bản sao.
Chứng thực chữ kí là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực
chữ kí trong giấy tờ, văn bản là chữ kí của người đã yêu cầu chứng thực.
* Thẩm quyền chứng thực: Khác với công chứng, chứng thực do cơ
quan hành chính nhà nước thực hiện, bao gồm những cơ quan sau:
- Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố ( sau đây gọi chung là
Phòng Tư pháp cấp huyện) có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản
sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài, chứng thực
chữ kí của người dịch trong các giấy tờ văn bản từ tiếng nước ngoài sang
tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài, chứng thực chữ kí
trong các văn băn, giấy tờ bằng tiếng nước ngoài.
Trưởng phòng hoặc phó Phòng Tư pháp thực hiện việc chứng thực
theo quy định trên và đóng dấu của Phòng Tư pháp.
- UBND xã, phường, thị trấn, (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) có
thẩm quyền, trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn
bản bằng tiếng Việt, chứng thực chữ kí trong các giấy tờ văn bản bằng tiếng
quy định trong Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự. Pháp luật về chứng thực
được quy định trong các văn bản luật hành chính. Việc tách bạch giữa công
chứng và chứng thực như vậy vừa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính,
đồng thời cũng tạo điều kiện để tổ chức chuyển chế độ công chứng sang dịch
vụ công.
1.4. Thẩm quyền và trách nhiệm thực hiện hoạt động chứng thực
Theo quy định của Nghị định 75/2000/NĐ - CP của Chính phủ về
công chứng, chứng thực thì thẩm quyền thực hiện hoạt động chứng thực
được quy định chung chung tại Điều 4 như sau:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực ở trong
nước bao gồm: - Phòng công chứng;
20
- UBND cấp huyện;
- UBND cấp xã.
Cơ quan có thẩm quyền công chứng ở nước ngoài là cơ quan đại diện
Ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(sau đây gọi là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài).
Sau khi có Nghị định 79/2007/NĐ - CP của Chính phủ về cấp bản sao
từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký ra đời thay
thế cho Nghị định 75/2000 thì thẩm quyền thực hiện hoạt động chứng thực
được quy định một cách rõ ràng tại Điều 5 của Nghị định này. Cụ thể:
Phòng Tư pháp cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây
gọi là Phòng Tư pháp cấp huyện) có thẩm quyền và trách nhiệm:
- Chứng thực bản sao từ bản chính các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng
nước ngoài;
- Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ
tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài;
chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;
Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện
chứng thực các việc theo quy định tại khoản 1 Điều này và đóng dấu của
nghĩa vụ dân sự của các bên''.
Theo quy định của Nghị định số 75/2000 NĐ - CP của Chính phủ thì
việc thực hiện chứng thực bao gồm cả chứng thực các hợp đồng, giao dịch.
Tại Điều 3 của Nghị định này quy định: ''hợp đồng giao dịch quy định tại
Điều 2 của Nghị định này được công chứng chứng thực trong các trường
hợp sau:
Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng chứng thực;
Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật không quy định phải công chứng,
chứng thực nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu. Trường hợp này có
nghĩa là đối với một giao dịch, hợp đồng mà pháp luật không bắt buộc phải
22
chứng thực nhưng nếu cá nhân muốn chứng thực thì người thực hiện chứng
thực vẫn phải chứng thực cho người đó''.
* Thẩm quyền chứng thực hợp đồng giao dịch của UBND cấp huyện:
- UBND cấp huyện có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch
liên quan đến bất động sản theo thẩm quyền địa hạt quy định tại khoản 2,
Điều 23 của Nghị định số 75/2000 NĐ - CP;
- Chứng thực hợp đồng giao dịch liên quan đến động sản có giá trị
dưới 50 triệu đồng;
- Chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận
di sản;
- Các việc khác theo quy định của pháp luật.
Điểm b, khoản 2, Điều 24 của Nghị định 75/2000/NĐ - CP của Chính
phủ cũng quy định về thẩm quyền chứng thực hợp đồng giao dịch của
UBND cấp xã như sau: ''UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực di chúc
và văn bản từ chối nhận di sản''.
Thẩm quyền địa hạt của Phòng công chứng và UBND cấp huyện trong
việc công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản
được quy định tại Điều 23 của Nghị định như sau: ''Chủ tịch UBND cấp tỉnh
quyết định thẩm quyền địa hạt công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan
không được làm, số lượng, chất lượng, giá, phương thức thanh toán, thời
hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các
bên, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các thỏa thuận khác (nếu có).
Người yêu cầu chứng thực phải xuất trình đủ các giấy tờ cần thiết liên
quan đến việc chứng thực và phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của
các loại giấy tờ đó. Đối với giấy tờ đã xuất trình bản chính, thì phải nộp
bản chụp giấy tờ đó, cụ thể như sau:
- Xuất trình bản chính và nộp bản chụp các giấy tờ tùy thân đối với cá
nhân, giấy tờ đối với tổ chức;
- Xuất trình bản chính và nộp bản chụp đối với các giấy tờ để chứng
minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản trong trường hợp hợp
24
đồng liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở
hữu, quyền sử dụng;
Ví dụ: trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất thì phải xuất trình bản chính và nộp bản chụp giấy này.
- Trong từng trường hợp cụ thể, người yêu cầu chứng thực phải nộp
thêm các giấy tờ khác cần thiết cho việc chứng thực.
Ví dụ: trường hợp mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung hoặc đang cho
thuê thì người yêu cầu chứng thực còn phải nộp văn bản đồng ý của chủ sở
hữu chung khác, trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất hoặc
trong trường hợp mua bán một phần nhà ở thuộc sở hữu chung theo phần
thì nộp văn bản khước từ mua của chủ sở hữu chung khác hoặc giấy tờ
chứng minh về việc hết thời hạn do pháp luật quy định, kể từ ngày chủ sở
hữu chung nhận được thông báo bán và các điều kiện bán mà không có chủ
sở hữu chung nào mua.
Trong trường hợp chứng thực hợp đồng mua bán nhà ở đang cho thuê,
thì người yêu cầu chứng thực còn phải nộp văn bản khước từ mua của bên
thuê hoặc giấy tờ chứng minh về việc hết thời hạn do pháp luật quy định,
kể từ ngày bên thuê nhận được thông báo bán và các điều kiện bán mà bên