Câu 3: Nội dung của những phẩm chất đạo đức cần giáo dục cho người được
giáo dục:
1. Định nghĩa
Giáo dục, đào tạo đều là những từ ngữ nhằm vào việc làm tăng triển, mở rộng và
nâng cao toàn bộ đời sống con người về thể chất, tri thức và tâm linh.
Giáo dục là “nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng
và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành
và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn
bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội ”.
Đào tạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp về những kinh
nghiệm, những tri thức, những kỹ năng đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo
đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập,
góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước Ngày nay, đào tạo đang dần tiến tới hợp
tác song phương với người học để giúp họ chủ động, tích cực, tự giác chiếm lĩnh lấy
tri thức, tự trang bị hành trang nghề nghiệp, chuyên môn”
Mỗi định nghĩa đều liên quan và bổ túc cho nhau trong việc giáo dục, nhưng khi
xét về tính toàn diện của đời sống làm người. Điều quan trọng là cho ta thấy được
đường hướng và vai trò của giáo dục, là nhằm giúp cho từng người phát huy hết mức
khả năng thiên phú của mình, với tính cách đạo đức, nhằm góp phần lợi ích tối đa
cho xã hội loài người.
Việc giáo dục phải giúp mỗi người nhận ra sự hiện diện cao quí của con người
trong cuộc sống này. Điều làm nên không phải là những thành tích, thành tựu, hay
những công trình bên ngoài, mà chính bản thân con người mới là sự thành tựu và
công trình sáng giá nhất, nghĩa là trở thành điều mà con người phải trở thành. Từ đó
con người mới quí trọng việc giáo dục từ mọi phía, và coi đó là điều thiết yếu để làm
nên cuộc sống chân thực của mình. Chính bản thân phải trở nên một công trình riêng
biệt, độc đáo, góp phần vào đời sống nhân loại, nhưng vẫn nằm trong mối tương tác
và hòa hợp chung, không chỉ giữa con người với nhau, mà còn đồng thời với Trời,
đất, vạn vật. Chính trong tương quan bao hàm đó mà người ta thấy được ý nghĩa sâu
xa của đời mình một cách thực tiễn và thiêng liêng. Nhờ đó, việc giáo dục giúp con
người đáp ứng cũng như hoàn thành một định hướng đúng về chính mình. Đó cũng
Còn lò thì trứng còn tốt, ra khỏi lò chẳng biết ra sao. Việc giáo dục của gia đình hay
học đường như lò ấp trứng là một hình thức giả tạo, trong đó đương sự sống, làm
việc, học hành một cách chiếu lệ, trôi nổi theo dòng nước chảy. Một con người như
thế khi vào đời sẽ bị chìm ngập trong những biến động. Để cho mọi cái dễ dàng lôi
cuốn mình, thì mình không còn là mình nữa. Bởi vậy, “Giáo dục một người là đào
luyện họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh”.
Vì thế, mọi công cuộc đào tạo hay giáo dục, cuối cùng là tự đào tạo, tự giáo dục
từ những gì mình đã được khai mở. Mỗi người là một cá vị độc nhất, hoàn toàn có tự
do và trách nhiệm về cuộc đời mình, không thể dựa dẫm hay nại vào người khác,
phải biết khai sáng cho mình một lối đi, một tâm thế, một phương cách thích hợp để
phát huy mọi tiềm lực và khả năng của mình cho một cuộc sống đầy ý nghĩa.
Mọi sự tốt đẹp đều triển nở từ đời sống tinh thần. Khi tinh thần đã trở nên nô lệ
cho vật chất thì con người bị tha hóa. Mọi sự bắt đầu từ bên trong, khi bên trong bị
manh động thì mọi cái bên ngoài trở nên hỗn loạn. Cuộc sống con người cao đẹp từ
chính đời sống tinh thần của họ, nghĩa là trong chính tâm thế và phẩm cách của họ.
Giá trị của một con người được xác định chính yếu từ đó. Mọi cái khác như tài năng,
chức vụ, chun mơn, thế giá xã hội chỉ là phụ thuộc.
Lịch sử cho thấy thế giới đầy những con người tài trí, nhưng tài trí ấy khơng nằm
trong những tâm hồn cao đẹp thì sẽ phát sinh những Hitler của thời đại mới. Bởi vậy,
giáo dục quan trọng nhất vẫn là nhằm đào luyện tâm hồn con người, là khơi lên chân
lý của sự sống đích thật đang tiềm ẩn nơi họ. Trong ý nghĩa đó Galileo đã phát biểu
mạnh mẽ rằng: “Anh khơng thể dạy một ai cái gì cả, anh chỉ có thể giúp họ tìm thấy
điều ấy ở trong họ mà thơi”.
Sự góp phần lớn lao nhất cho đời sống nhân loại khơng phải là những cơng trình
thế kỷ được xây dựng bằng bê-tơng cốt thép, hay những phát minh khoa học lớn lao,
mà chủ yếu là từ một đời sống thiện hảo của một con người. Những cơng trình tiến
bộ đều có hai mặt của nó, có nhiều khi mặt tiêu cực và tính hủy diệt còn nhiều hơn
bội phần về mặt tích cực và xây dựng. Khơng thể căn cứ vào đó mà xác định về sự
văn minh tiến bộ đích thực. Tiến bộ rất cần thiết cho đời sống con người, nhưng phải
được làm nên từ những con người thiện hảo. Phải là những con người thiện hảo mới
theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no hạnh phúc có điều kiện phát
triển nhân cách của cá nhân.
Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của tuổi trẻ, của học sinh không thể tách rời với
quá trình giáo dục. Đồng thời quá trình giáo dục có hiệu quả phải tác động phù hợp
với quy luật phát triển của người học trong đó quan trọng nhất là phù hợp với những
đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển nhân cách học sinh. Các nhà giáo dục
lỗi lạc như Konicxky, Rouscan, Pestalozi đã là những người phê phán kịch liệt nền
giáo dục, đồng thời chính các ông đã đòi hỏi mục tiêu giáo dục, nội dung, phương
pháp, hình thức giáo dục phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng giáo dục. Cũng
chính từ đó khoa học giáo dục đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu những quy luật,
những đặc điểm phát triển của trẻ em, của học sinh coi đó là một cơ sở quan trọng
của khoa học sư phạm.
Những thành tựu ngày nay của tâm lý học nhân cách, tâm lý học lứa tuổi và sư phạm
của khoa học giáo dục cũng như kinh nghiệm thực tiễn đòi hỏi quá trình giáo dục
phải thống nhất biện chứng với quá trình phát triển nhân cách người học. Muốn vậy
người làm công tác giáo dục cần nắm một số quan điểm cơ bản về bản chất của nhân
cách và sự phát triển nhân cách con người.
1.Khái niệm con người, nhân cách và sự PT nhân cách
Con người: là một thực thể thống nhất giữa yếu tố tự nhiên và XH.
- Mặt tự nhiên của con người thể hiện ở chỗ con người có nguồn gốc từ động vật,
con người chịu sự tác động của quy luật tự nhiên.
- Mặt XH của con người: Con người tồn tại trong mối quan hệ, liên hệ với người
khác tạo ra hình thức tồn tại đặ trưng của con người, đó là XH.
Mặt khác, con người còn có khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Vì vậy,
con người tạo ra được những phương thức, những điều kiện thỏa mãn nhu cầu của
mình.
Vậy con người được hiểu là chủ thể sáng tạo XH, lịch sử, chính trong quá trình đó
con người đã biến đổi bản thân mình. Ta khẳng định con người là có bản chất XH,
như C.Mac đã nói: “Bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ XH”.
- Sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và XH của con người:
trong cơ thể, tồn tại dưới dạng những tư chất và những năng lực. Chương trình mang
tính di truyền này trước hết đảm bảo cho loài người tiếp tục tồn tại, đồng thời làm
phát triển những hệ giúp cơ thể con người thích ứng với những biến đổi của các điều
kiện tồn tại của mình, tạo khả năng cho con người hoạt động có hiệu quả trong một
số lĩnh vực nhất định.
- Tuy nhiên, những nhân tố bẩm sinh di truyền mặc dù có vai trò quan trọng trong
sự PT nhân cách, nhưng những tính chất được di truyền chỉ đặc trưng cho những lĩnh
vực hoạt động hết sức rộng rãi, bao quát, chúng không định hướng vào một lĩnh vực
hoạt động hay sáng tạo cụ thể nào. Việc định hướng này là do những điều kiện lịch
sử- XH cụ thể và do trình độ phát triển của loại hình hoạt động lao động, nghệ thuật,
khoa học nhất định quyết định, đặc biệt là do tính tích cực hoạt động của cá nhân.
Vai trò của yếu tố môi trường
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và XH
xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người.
Có các loại môi trường:
- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các ĐK tự nhiên- hệ sinh thái phục vụ cho hoạt
động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất và vui chơi giải trí của con người.
- Môi trường XH: Bao gồm môi trường chính trị, môi trường sản xuất- kinh tế,
môi trường sinh hoạt XH và môi trường văn hóa.
Vai trò: Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường XH có tầm quan
trọng đặc biệt vì nếu không có XH loài người thì những tư chất có tính người cũng
không thể phát triển được, cụ thể môi trường có vai trò như sau:
- Sự hình thành và PT nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường
nhất định. Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện
cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được các kinh
nghiệm xã hội loài người để hình thành và phát triển nhân cách của mình.
- Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường,quan điểm, thái độ của cá nhân
đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức
độ cá nhân tham gia cải biến môi trường.
sáng tạo và làm nảy sinh những nhu cầu mới, những thuộc tính tâm lý mới… Nhờ đó
nhân cách được hình thành và phát triển.
Hoạt động cá nhân đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách.
Hiện nay trong dân gian cũng như trong học thuật có nhiều quan điểm khác nhau,
thậm chí trái ngược nhau về bản chất nhân cách con người.
Một số quan điểm sai về bản chất con người
- Quan điểm tiền định: coi bản chất và số phận của mỗi con người đó được quy định
trước khi con người đó ra đời. Nó được thể hiện với nhiều màu sắc khác nhau. Do
Thượng Đế định sẵn: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính", "thông minh vốn sẵn tính
trời", "mới hay muôn sợ tại trời", "do kiếp trước", do mả ông cha để lại được hưởng
"phúc" hay chịu "hoạ".
Những quan điểm trên đây là những quan điểm khác nhau làm cho con người không
tin tưởng vào chính bản thân mình và chỉ chờ mong vào trời đất quỷ thần, số phận
hoặc "cũng lắm điều nhắm mắt đưa chân" nó nhủ con người không giúp ta tự tin,
dũng cảm tái tạo tự nhiên, đấu tranh xã hội cải tạo chính bản thân mình./.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng
để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh
tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách
mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Có thể nói, đạo đức là một trong
những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách
mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách
mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước: Người cách mạng
phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách
mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không
có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Người quan
niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công
nhân ái của Người.
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết
điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Người căn dặn, chúng ta: "Mỗi
con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong
mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái
độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người
phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho
cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập
cho tơi bời".
Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng: Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau,
nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con
người.
Ba là, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. - Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là
lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao;
lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không
dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn
hạnh phúc của chúng ta".
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân,
của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ
cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô
trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm
phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch,
không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung
sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại,
không bao giờ hủ hoá".
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao,
tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều
hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.
Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn
+ Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
Người cũng khẳng định đạo đức không phải là thứ có sẵn trong mỗi người mà
đạo đức là do con người tiếp thu được qua giáo dục và tạo thành nhờ bản thân
tích cực tu dưỡng bền bỉ rèn luyện trong môi trường sống và trong cuộc đấu
tranh cách mạng. Người đưa ra lời khuyên rất dễ hiểu: "Đạo đức cách mạng
không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà
phát triển, củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng
trong".
Nâng cao đạo đức trong tình hình mới, Đảng và nhân dân ta quán triệt tư tưởng
đạo đức Hồ Chí Minh, ra sức bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức, vận dụng các
nguyên tắc xây dựng đạo đức mà Người đã nêu ra.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức luôn luôn gắn liền với kinh tế. Trung với nước, hiếu
với dân, suốt đời hy sinh cho cách mạng để giành lấy độc lập và tự do là nhằm
xoá bỏ áp bức, bóc lột, phát triển kinh tế đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho
nhân dân, cho mỗi con người. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương tăng trưởng
kinh tế phải đi đôi với phát triển mọi mặt của xã hội; phát triển kinh tế phải đi
đôi với phát triển văn hoá, đạo đức, con người. Tinh thần này đã được thể hiện
trong câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước
hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa".
Học tập tư tưởng trong đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước tiếp tục cổ
động phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ đổi mới, biểu dương các tập thể,
cá nhân có thành tích xuất sắc, dấy lên phong trào “người tốt việc tốt”, nêu
gương sáng đạo đức cách mạng để mọi người tôn vinh và noi theo.
Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới
đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, bên cạnh việc xây dựng
những phẩm chất đạo đức. Trung với nước, hiếu với dân, thương người, cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh thần quốc tế trong sáng nêu trong di sản
của Người, chúng ta còn phải đấu tranh quyết liệt chống các tệ nạn xã hội nảy
sinh trong nền kinh tế thị trường đang làm phương hại đến nền đạo đức cách
mạng.