Nhóm 3. CQ512478
Dân số và phát triển
Dân số và các vấn đề xã hội
Dân số và giáo dục
I.Con số thực tế của việt nam và các nước trên thế giới
Theo báo cáo mới đây của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục LHQ (UNESCO), trên thế giới hiện có 100
triệu người mù chữ, trong đó 45,5% là cư dân châu Á-Thái Bình Dương.
Các nước có tỷ lệ mù chữ cao nhất châu lục này là Ấn Độ (34,6%), Trung Quốc (11,3%),
Bangladesh (6,8%), Pakistan (6,2%) và Indonesia (2,4%). Bản báo cáo có tên Giám sát
tình hình giáo dục toàn cầu năm 2006 cũng cho biết các quốc gia và lãnh thổ gồm Trung
Quốc, Brunei, Ma Cao, Maldives, Singapore và Thái Lan sẽ nhanh chóng giảm bớt số
người mù chữ do những nỗ lực về giáo dục của mình. Theo UNESCO, ngoài tác động
từ thiên tai thì mức học phí cao, chất lượng giáo dục kém và ngân sách giáo dục ít ỏi đã
đẩy tỷ lệ mù chữ tăng cao.
Các nước châu Á, đặc biệt là các nước có dân số đông có tỉ lệ mù chữ rất cao.
-Ở Ireland, hầu hết các dân cư trên đảo đều có trình độ đại học. Ở các nước Bắc Âu việc
khuyến khích học tập trong mọi tầng lớp nhân dân là điều tự nhiên.
-Ở Nhật, có tới 1/3 số phụ nữ có trình độ đại học
- Ở các nước Đông Nam Á (năm 2003)
hạng Quốc Gia % dân số biết đọc/viết Dân số(bổ sung sau)
72 Thái Lan 92.6
74 singapo 92.5
82 Việt Nam 90.3
87 Myanma 89.7
89 malaysia 88.7
95 Indonesia 87.9
127 Cambodia 73.6
135 Lao 68.7
147 Đông Timor 68.6
Mặc dù tỉ lệ mù chứ chỉ là một phần trong khi đánh giá về giáo dục của một quốc gian
nhưng những con số trên cũng phần nào thể hiện mối quan hệ giữa dân số và giáo dục
đồng nhất, tính cứng rắn và những cấu trúc ngang-dọc- và có tiêu chí nhập học được áp
dụng chung. Kiểu giáo dục này định hướng vào sự phổ cập, sự nối tiếp, sự chuẩn hoá và
thể chế hoá giáo dục. là những biện pháp bảo đảm ở 1 mức đọn nhất định tính liên tục
b.Giáo dục không chính quy
Ví dụ: sau khi học xong 1 bằng đại học chuyên ngành nào đó, người học muốn
học thêm về quản lý kinh tế, tin học hayngoại ngữ trong một vài tháng, tại một trung tâm
đào tạo nào đó, việc học tập đó có thể tiến hành trong nhà trường hay ngay tại các cơ
quan, xí nghiệp…. Việc giáo dục theo hình thức này gọi là giáo dục không chính quy.
Năm 1973, coombs và cộng sự đã đề nghị một định nghĩa về giáo dục không
chính quy được chấp nhận rộng rãi là;
“Bất kỳ một hoạt động giáo dục nào được tổ chức bên ngoài hệ thống chính quy
đã được xác lập…. nhằm phục vụ khách hàng và những mụ tiêu được xác định.”
Nói ngắn gọn ta có thể hiểu giáo dục không chính quy là việc học tập theo yêu
cầu của người học.
c.Giáo dục phi chính quy
Ví dụ: các hoạt động truyền bá giá trị văn hoá, đạo đức, những thái độ chung,
những mô hình hành vi của cộng đồng, xuất phát từ các bậc cha mẹ, nhà thờ, các hội, các
tổ chức văn hoá….
Ta có thể hiểu là kiểu học ngẫu nhiên, xảy ra liên tục hàng ngày, không được
cấu trúc và tổ chức, bao gồm những dạng hoạt động giáo dục phi cấu trúc
Trong GDPCQ, giáo dục là một quá trình thẩm thấu giữa người học và môi
trường, thể hiện vào sự tích luỹ tri thức và kỹ năng cá nhân trong suốt thời gian sống, lấy
từ môi trường không cấu trúc .
d.giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường
-Giáo dục nhà trường được nhất trí là đồng nghĩa với giáo dục chính quy.
- Giáo dục ngoài nhà trường được hiểu là giáo dục không chính quy và giáo
dục phi chính quy.
IV.Vai trò của giáo dục trong phát triển
b. Về chất lượng: Là một lĩnh vực phức tạp, mà sản phẩm của giáo dục là
nhân cách học sinh. Các tiêu chí đang được dùng phổ biến trên thế giới để đánh giá chất
lượng giáo dục là: Kiến thức, kĩ năng và thái độ mà học sinh đạt được sau khi kết thúc
một cấp học, bậc học nào so với chuẩn được đề ra trong mục tiêu giáo dục.
- Những điều kiên để đảm bảo chất lượng
+ Số học sinh, sinh viên trên 1 giáo viên
+Trình độ giáo viên
+Tình hình trang thiết bị, phương tiên cho dạy và học.
+Chi phí bình quân cho 1 học sinh, sinh viên
Trong đó 2 chỉ tiêu mà các nước đang phát triển rất quan tâm là tỷ lệ học sinh đén trường,
đặc biệt là phổ thông và tỉ lệ người lớn mù chữ. Các chỉ tiêu này phản ánh trình độ và xu
hướng phát triển của nền giáo dục và chính sách giáo dục của mỗi một quốc gia. Nâng
cao tỷ lệ trẻ em đến trường đặc biệt là học sinh tiểu học theo tuổi, và giảm tỷ lệ người mù
chữ là mục tiêu chung của các quốc gia. Do vậy, để đánh giá về sự phát triển chung, Liên
hiệp quốc sử dung thước đo về chỉ số giáo dục
Thông tin thêm: chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam:………(tìm thông
tin sau)
Chỉ số về giáo dục của Việt Nam:………
VI. Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục
Ảnh hưởng của dân số tới giáo dục
1.Quy mô dân số ảnh hưởng tới quy mô giáo dục
- Quy mô của ngành giáo dục: được hiểu là số lượng trường học, lớp học, cán bộ,
công nhân viên chức làm việc trong nghành giáo dục, phương tiện dạy và học, đầu tư cho
giáo dục
Công thức tổng nhu cầu đi học trong 1 năm (hay tổng số người đi học trong tổng dân
số): = P.e trong đó: e% là nhu cầu đihọc trong năm của 1 quốc gia
P là quy mô dân só của nước đó
Rõ ràng là, tổng nhu cầu học tập phụ thuộc vào quy mô dân số(P) của nước đó và
nhu cầu học tập của mỗi cá nhân. Do đó, Khi quy mô dân số tăng lên thì quy mô nghành
giáo dục phải tăng theo và ngược lại
trọng lớn trong hệ thống giáo dục. Đặc biệt ở những nước có mức sinh cao , số lượng trẻ
em đi nhà trẻ, mẫu giáo sau đó là tiểu học ngày càng lớn
Cơ cấu dân số còn nảh hưởng đến quy mô hệ thống giáo dục ( trường, lớp, giáo
viên, đầu tư,….)
3.Phân bố dân cư ảnh hưởng tới giáo dục
Tình trạng phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng, miền sẽ có ảnh hưởng
trực tiếp đến quy mô, cơ cấu khung và cơ cấu lãnh thổ của ngành giáo dục. Những nơi có
mật độ dân số quá lớn, nhu cầu học của người dân tăng cao. Thông thường, những nơi có
mật độ dân số cao thường là nơi có điều kiện phát triển kinh tế và xã hội hơn những vùng
khác. Những vùng này yêu cầu conngười có trình độ chuyên môn và tay nghề cao để đáp
ứng kịp sự phát triển của kinh tế xã hội, và khoa học kĩ thuật. Nhiều khi, do chất lượng
giáo dục ở các vùng này cao hơn các vùng có dân cư thưa thớt, hoac vung sâu vùng xa,
cho nên nhu cầu để có một vốn tri thức nhất định, để tìm được một chỗ làm ổn định họ
phải di chuyển về thành thị để học tập. Điều này lại làm tăng quy mô giáo dục, ảnh
hường tới cơ cấu cấp học, ngành học.
CÒn các vung thưa thớt dân cư, do điều kiện về mức sống, hạn hẹp về trình độ nhận
thức, và sự cản trở của điều kiện địa lý nên họ không có điều kiện cho con em tới trường,
tinh trạng bỏ học giữa chừng cao
4.Chất lượng dân số ảnh hưởng đến chất lưọng giáo dục
Quy mô gia đình nhỏ tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục cho con cái
Các nhân tố ban đầu trong cuộc đời đứa trẻ: sức khoẻ và thói quen ăn uống của
người mẹ trong suốt thời kì mang thai, sức khoẻ và tình trạng dih dưỡng của bản thân đứa
trẻ trong suốt thời kì đầu của cuộc sốg, thu nhập và điều kiện sống của gia đình….sẽ
quyết địh liệu đứa trẻ hoạt động tốt hay không trong nhà trườ và trong cuộc sống sau này.
Hầu hết các công trình nghiên cứu thành tích học tập đều nêu ra 4 nhân tố quan
trọng trong việc xác định nhân tố mọt đứa trẻ là:
Môi trường gia đình bao gồm mức thu nhập, học vấn của cha mẹ, điều kiện nhà ở,
số con trong gia đình….
Tác đọng qua lại của nhóm cùng độ tuổi, nghĩa là loại trẻ em mà một đứa bé giao