Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Lời mở đầu
Năng lợng, đặc biệt là điện năng đóng vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Điện năng đợc sản xuất từ các dạng năng lợng khác
nhau nh: cơ năng của dòng nớc, nhiệt năng của than đá, dầu mỏ các nhà
máy điện thờng đợc xây dựng tại nơi có các nguồn năng lợng để đảm bảo tính
kinh tế và trong sạch về môi trờng. Do đó, xuất hiện vấn đề tải điện đi xa và
phân phối điện đến nơi tiêu thụ. Trong quá trình truyền tải và phân phối điện
năng đã phát sinh sự tổn thất khá lớn. Đây là một bộ phận cấu thành chi phí lu
thông quan trọng của ngành điện.
Trong các biện pháp nhằm giảm giá thành điện, giảm tổn thất điện năng
là một biện pháp quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ đối với
ngành điện mà còn đối với cả xã hội.
Thật vậy, ngành điện là ngành độc quyền, nên việc giảm tổn thất điện
năng giúp cho nhà nớc không phải bù lỗ, Ngân sách Nhà nớc đợc đảm bảo, đ-
ợc sử dụng vào các mục đích khác có lợi hơn. Về phía doanh nghiệp, sẽ khai
thác, sử dụng vào tối u nguồn điện, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành.
Đối với ngời tiêu dùng, đợc sử dụng điện với chất lợng cao, giá điện vừa phải,
phù hợp với mức sinh hoạt.
Từ nhiều năm qua, ngành điện đã quan tâm phấn đấu giảm tổn thất điện
năng, và đã đạt đợc những kết quả rất đáng khích lệ. Nhng ngành Điện là
ngành sản xuất kinh doanh chủ chốt, ngành động lực cho nền kinh tế quốc
dân, đặc biệt trong tình hình đất nớc đang thiếu điện nghiêm trọng. Phấn đấu
giảm đến thấp nhất tổn thất điện năng trở thành nhu cầu cấp bách không chỉ
của ngành điện mà của toàn xã hội. Ngày 31/08/1991, Chủ tịch HĐBT đã ra
chỉ thị số 256 CT và giao cho Bộ Năng lợng cùng một số cơ quan chức
năng Nhà nớc xây dựng và chỉ đạo chơng trình giảm tổn thất điện năng. Bộ tr-
ởng Bộ Năng lợng có quyết định thành lập Ban chủ nhiệm chơng trình giảm
tổn thất điện năng (TTĐN) của Bộ năng lợng có sự tham gia của Văn phòng
Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu t, Bộ Khoa học- Công nghệ và Môi trờng, Bộ
lớn nhất khu vực Đông Nam á, có đờng biên giới dài với các nớc bạn Trung
Quốc, trong đó có cửa khẩu Móng Cái thông thơng, sầm uất hàng hoá, Có
cảng biển Cái Lân nhiều tầu bè qua lại. Quảng Ninh còn là điểm hấp dẫn
khách du lịch trong nớc và Quốc tế đến thăm quan, nghỉ mát quanh năm với
khu du lịch Bãi Cháy, Tuần Châu, Trà CổĐặc biệt có Vịnh Hạ Long nổi
tiếng xinh đẹp, một di sản văn hoá thế giới. Đây là cơ hội để điện lực
Quảng Ninh khai thác lợi thế, đẩy mạnh công tác kinh doanh điện năng. Nhng
bên cạnh đó, Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, có địa hình phức tạp nên
trong quá trình truyền tải và phân phối điện đến hộ tiêu thụ không thể tránh
khỏi tổn thất.
Đợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.S Vũ Việt Hùng, của cán bộ
phòng kinh doanh Công ty điện lực I, Điện lực Quảng Ninh và cùng với sự lỗ
lực cố gắng của bản thân tôi chọn đề tài Một số giải pháp nhằm giảm tổn
thất điện năng ở Điện lực Quảng Ninh.
Qua đề tài này, trớc hết tôi mong muốn tổng hợp đợc những kiến thức đã
đợc học trong những năm qua và đóng góp đợc một phần nào đó trong việc
giải quyết những vớng mắc trong công tác giảm TTĐN của Điện lực Quảng
Ninh.
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
2
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề tài gồm 04 chơng:
Chơng I: Cơ sở của vấn đề quản lý tổn thất Điện năng trong ngành Điện
Chơng II: Giới thiệu chung về Điện lực Quảng Ninh và phụ tải khu vực
Chơng III: Phân tích tình hình tổn thất điện năng ở Điện lực Quảng Ninh
giai đoạn 2000 2004
Chơng IV: Một số giải pháp nhằm giảm tổn thất Điện năng ở điện lực
3
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trong xã hội. Chính vì tính chất đặc
biệt của sản phẩm điện nên quá trình sản xuất kinh doanh cũng có những
khác biệt so với những lĩnh vực kinh doanh khác.
Trong kinh doanh hàng hoá thông thờng, khâu đầu tiên là mua và nhận
hàng còn khâu cuối cùng là bán và xuất hàng. Còn trong kinh doanh điện
năng, khâu đầu tiên chính là quá trình ghi điện đầu nguồn (do Tổng Công ty
Điện lực Việt Nam bán ) và khâu cuối cùng chính là quá trình ghi điện từ các
đồng hồ đo điện tại từng nhà hoặc hiện trờng của khách hàng. Do việc mua
và bán diễn ra đồng thời và ở nhiều nơi nên không thể quan sát toàn diện và
rất khó khăn cho quá trình quản lý.
Về phơng tiện đo đếm cũng mang tính chất đặc biệt, ở những ngành
kinh doanh thông thờng, ngời bán có thể dùng phơng tiện đo đếm chung để
cân, đong, đo đếm hàng hoá cho khách hàng, còn trong kinh doanh điện
năng, đồng hồ đo điện là phơng tiện đặc biệt dùng để đo lờng lợng điện
khách hàng đã tiêu thụ tơng tự nh cân, thớc đo,và mỗi khách hàng phải
dùng đồng hồ riêng, nên tầm quản lý rộng và hết sức khó khăn. Vì thế, chất
lợng và kỹ thuật đo đếm có ảnh hởng rất lớn đến sản lợng điện bán ra.
Khác với những loại hàng hoá thông thờng, sản phẩm điện đợc khách
hàng tiêu thụ trớc sau một thời gian mới ghi nhận và tính toán lợng điện
năng khách hàng đã tiêu dùng. Quá trình ghi nhận số liệu điện năng tiêu
dùng đó đợc chuyên biệt hoá thành công tác ghi điện. Vì vậy, trong kinh
doanh bán điện xuất hiện nhu cầu cần phải có những biện pháp quản lý chặt
chẽ quá trình ghi điện.
Thời điểm lập hoá đơn, thu tiền và tiêu thụ hàng hoá trong kinh doanh
điện cũng mang tính chất đặc thù. Đối với những hàng hoá thông thờng, hầu
nh chỉ sau khi tập hợp hoá đơn, xuất kho và thu tiền, khách hàng mới đợc
tiêu dùng hàng hoá. Còn đối với sản phẩm điện, khách hàng tiêu dùng xong
hoá khác là càng mua nhiều càng đợc khuyến khích, giảm giá, có thởng,
Nói cách khác, hiện nay khách hàng sử dụng điện sinh hoạt cha đợc khuyến
khích tiêu thụ điện năng.
Đối với hàng hoá thông thờng, hàng hoá lu kho lâu ngày có thể bị h
hỏng, biến chất nhng thờng vẫn tồn tại ở những dạng có thể quan sát đợc.
Ngợc lại, trong kinh doanh bán điện, có một lợng điện tổn thất mà chúng ta
không thể thấy đợc, bao gồm tổn thất kỹ thuật và tổn thất phi kỹ thuật. Nếu
nh tổn thất kỹ thuật là tất yếu, phụ thuộc và tình trạng lới điện thì tổn thất
phi kỹ thuật là hoàn toàn do chủ quan của những ngời làm công tác sản xuất
kinh doanh: bị ăn cắp điện, tính toán điện năng trên hoá đơn sai,tuy nhiên,
điều khó khăn là phân biệt đợc chính xác hai loại tổn thất này vì hầu nh
không bao giờ biết đợc có tổn thất phi kỹ thuật hay không?
Điện năng vừa là t liệu sản xuất vừa là t liệu tiêu dùng. Sản phẩm điện
đặc biệt ở chỗ, nó ít có khả năng lựa chọn khách hàng. Các hộ tiêu dùng rất
đa dạng, từ những hộ tiêu thụ vài kWh/ tháng đến những hộ tiêu thụ vài triệu
kWh/ tháng. Điện luôn gắn bó với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và
thân thiết trong sinh hoạt hàng ngày của toàn xã hội.
Tính chất đặc biệt trong kinh doanh điện năng cho thấy quản lý kinh
doanh điện năng thực sự là một ngành lớn và phức tạp. Mọi chiến lợc kinh
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
5
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
doanh luôn phải xuất phát từ những đặc thù đó thì mới mang lại năng xuất và
hiệu quả tối u cho ngành điện: tăng doanh thu để tăng lợi nhuận nhng phải
đảm bảo tiết kiệm điện đến mức tối đa.
I.1.2- Vị trí của ngành điện trong nền kinh tế quốc dân
Năng lợng mà đặc biệt là điện năng đóng vai trò quan trọng trong sự
đất nớc, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của ngời dân cả nớc nói chung
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
6
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
và vùng sâu, vùng xa, miền núi nói riêng. Do đó, ngành điện phải nâng cao
hiệu quả kinh doanh bằng cách phải đầu t nhiều thiết bị kỹ thuật thích hợp
nhằm đáp ứng đợc nhu cầu dùng điện của các phụ tải.
I.2 - Yêu cầu cơ bản của việc quản lý kinh doanh điện năng
I.2.1- Nội dung công tác truyền tải và kinh doanh điện năng
Công tác kinh doanh trong ngành điện bao gồm các nội dung:
* Truyền tải điện từ Nhà máy sản xuất điện đến các trạm hạ áp, trạm
biến áp rồi đến các hộ tiêu dùng.
* Ký kết hợp đồng cung ứng sử dụng điện.
* Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng.
* Đặt và quản lý công tơ.
* Ghi chỉ số điện năng tiêu thụ.
* Làm hoá đơn.
* Thu tiền điện.
* Phân tích kết quả kinh doanh điện năng.
Sơ đồ 01
: Sơ đồ biểu diễn tiến trình công tác kinh doanh điện năng.
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
7
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Thu
tiền
KW tự dùng và tổn
thất trong truyền tải
KW tổn thất
trong phân phối
và k doanh điện
năng
Cáp
điện
mới
Ngân
hàng
Cân đối giữa cung và cầu Quyết toán điện năng
KW phân
phối
KW th ơng
phẩm
Ngân hàng thanh toán
(Đối với hộ sử dụng điện cơ quan)
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Nếu khâu quản lý tốt sẽ giảm đợc chi phí đầu vào của quá trình sản
xuất kinh doanh, góp phần hạ giá thành của 1kWh điện, dẫn đến giảm giá
bán điện, tạo điều kiện cho việc hạ chi phí đầu vào cho các ngành sản xuất
và giảm chi phí cho các hộ tiêu dùng điện sinh hoạt, góp phần thúc đẩy nền
sản xuất phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân.
I.3- Tổn thất điện năng và những nhân tố ảnh hởng đến tổn thất điện năng
I.3.1- Khái niệm tổn thất điện năng
Hiệu số giữa tổng lợng điện năng do các nhà máy điện phát ra với tổng
Q: lợng điện năng bị tổn thất (đơn vị : KWh )
P
tb
: giá điện bình quân 1 KWh (đơn vị : đồng, nghìn, triệu, )
Tổn thất điện năng, nh đã trình bày, là lợng tổn thất trong tất cả các khâu từ
khâu sản xuất (phát điện) truyền tải phân phối điện (quá trình lu thông) đến
khâu tiêu thụ.
I.3.2- Phân loại tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng nói chung bao gồm:
* Tổn thất điện năng trong quá trình sản xuất (quá trình phát điện).
* Tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phôi điện năng.
* Tổn thất điện năng trong quá trình tiêu thụ.
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
9
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
I.3.2.1- Tổn thất trong quá trình sản xuất (quá trình phát điện)
Trong quá trình sản xuất điện, phải sử dụng các máy phát điện. Do
không sử dụng đồng bộ hệ thống máy phát điện nên không phát huy đợc hết
công suất của máy móc và hiệu quả kinh tế không cao. Do máy phát không
phát huy đợc hết công suất nên một lợng điện cũng đã bị tổn thất.
I.3.2.2- Tổn thất trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng
Trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng, ngời ta chia tổn thất
thành 02 loại: Tổn thất kỹ thuật và tổn thất thơng mại.
a/ Tổn thất kỹ thuật.
Tổn thất kỹ thuật là số lợng điện năng bị mất mát, hao hụt dọc đờng
dây trong quá trình truyền tải điện từ nguồn điện đến hộ tiêu thụ, bao gồm
tổn hao trên đờng dây, tổn hao trong máy biến áp ( cả tăng và giảm áp ), tổn
dùng do sự vi phạm quy chế sử dụng điện. Đó là lợng điện bị tổn hao do tình
trạng các tập thể, xí nghiệp, hộ tiêu thụ lấy cắp điện, khách hàng bị bỏ sót,
đội ngũ cán bộ quản lý yếu kém hoặc cố ý móc ngoặc thông đồng với khách
hàng, việc ghi sai số công tơ, thu tiền điện không đúng kỳ hạn, giá điện
không phù hợp với loại điện sử dụng.
I.3.2.3- Tổn thất ở khâu tiêu thụ
Mức độ tổn thất ở khả năng này phụ thuộc vào khả năng sử dụng, điều
kiện trang bị các thiết bị phụ tải ở các hộ dùng điện. Nguyên nhân gây nên
tổn thất ở khâu này là việc sử dụng điện không hợp lý của các đối tợng sử
dụng điện.
Ví dụ: Trong các hộ sử dụng điện, nếu sử dụng dây dẫn không đủ lớn
so với phụ tải, cách điện không tốt trên các phần cách điện thì sẽ dẫn đến
mất mát điện năng.
Tất cả mọi tổn thất đều diễn ra phía sau đồng hồ đo đếm điện của cơ
sở kinh doanh điện, nên các thành phần, đối tợng sử dụng điện cần biết rõ
nguyên nhân để giảm tổn thất cho chính mình bằng cách chọn phơng thức
sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhng lại có hiệu quả nhất. Đối với ngành điện, để
giảm tỷ lệ tổn thất, trớc tiên phải phân tích đợc nguyên nhân gây nên tổn
thất điện năng, xác định đợc nơi nào, khâu nào điện năng thất thoát nhiều
nhất.
I.3.3 - Các nhân tố ảnh hởng đến tổn thất điện năng
Từ khâu sản xuất đến khâu cuối cùng là khâu tiêu thụ, điện năng bị
tổn thất một lợng không nhỏ. Điện năng bị hao tổn do ảnh hởng của rất
nhiều nhân tố. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin đề cập đến nguyên
nhân dẫn đến tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối
điện năng.
I.3.3.1- Các nhân tố khách quan
Để đảm bảo tính kinh tế và trong sạch về môi trờng, các nhà máy
điện thờng đợc xây dựng tại nơi có nguồn năng lợng: cơ năng của dòng nớc,
nhiệt năng của than đá, dầu mỏ,Do đó, phải truyền tải điện từ nhà máy
Mạng lới truyền tải điện phải đi qua nhiều khu vực, điạ hình phức tạp.
Đồi núi, rừng cây,nên khi sự cố điện xảy ra, làm tổn thất điện do phóng
điện thoáng qua cây cối trong hoặc gần hành lang điện, đốt rừng làm rẫy
trong hành lang điện. Địa hình phức tạp làm cho công tác quản lý hệ thống
điện, kiểm tra sửa chữa, xử lý sự cố gặp không ít khó khăn, nhất là vào mùa
ma bão, gây ra một lợng tổn hao không nhỏ.
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
12
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Thiên tai do thiên nhiên gây ra: gió, bão, lụt, sét,làm đổ cột điện, đứt
dây truyền tải, các trạm biến áp và đờng dây tải điện bị ngập lụt trong nớc,
làm cho nhiều phụ tải lới điện phân phối bị sa thải do mạng điện hạ áp bị h
hỏng, ảnh hởng đến sản lợng truyền tải điện. Nhiệt độ môi trờng cao làm cho
dây tải điện nóng hơn so với bình thờng nên sản lợng điện truyền tải không
đạt chất lợng, bị hao hụt do toả điện ra bên ngoài.
Thiên tai do thiên nhiên gây nên tổn thất lớn đối với nền kinh tế nói
chung và ngành điện nói riêng. Đơn cử nh trận lụt thế kỷ xảy ra tại các tỉnh
miền trung vào những tháng cuối năm 1999: một số trạm biến áp và đờng
dây 110 KV bị ngập trong nớc nhiều ngày liền, không thể vận hành đợc,
nhiều phụ tải trên lới điện phân phối bị sa thải do mạng lới điện áp bị h
hỏng, ảnh hởng nhất định đến sản lợng truyền tải điện; sự cố sạt lở móng trụ
vị trí 371 đờng dây 110 KV Huế - Đà Nẵng có nguy cơ gây sự cố lớn cho hệ
thống, theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng trong ngành thì những
tổn thất của ngành do đợt thiên tai gây ra với 01 ngời chết, thiệt hại về tài
sản khoảng gần 30 tỷ đồng trong tổng số thiệt hại 3.300 tỷ đồng; có 55 vị trí
cột điện, đờng dây tải điện 110- 220 KV, 24 cột đờng dây 500 KV Bắc Nam
có nguy cơ bị đổ do xói lở trụ và kè móng; 124,5 km đờng dây cao, hạ thế và
đoạn hiện nay, xuất hiện tình trạng máy bị quá tải hoặc non tải, dây dẫn
không có tiết diện đủ lớn để truyền tải dẫn đến tình trạng quá tải đờng dây,
công tơ cũ, lạc hậu, không hiển thị rõ chỉ số, cấu tạo đơn giản làm cho ngời
sử dụng dễ lấy cắp điện. Trong ngành điện, sự đổi mới kỹ thuật không đồng
bộ cũng sẽ dẫn đến tổn thất điện năng. Ví dụ nh hiện nay, ngành điện đang
cải tạo, đổi mới lới điện để khắc phục tình trạng quá tải. Ngành điện đã thay
các trạm biến áp có cấp điện áp 35 KV, 15 KV bằng các máy biến áp có cấp
điện áp 22 KV nhng đờng dây và các trạm phân phối không đợc cải tạo đồng
bộ dẫn đến tình trạng không khai thác đợc cuộn 22 KV mà các cuộn 35, 15,
10, 6 KV vẫn bị quá tải. Nh vậy, lợng tổn thất vẫn bị tăng do chạy máy
không tải và do một số trạm quá tải.
Tất cả những nhân tố trên đều dẫn đến tổn thất điện năng. Muốn giảm
đợc lợng điện tổn thất này thì phải cải tiến kỹ thuật công nghệ truyền tải nh-
ng phải cải tiến đồng bộ.
b/ Tổ chức sản xuất kinh doanh
Để quản lý tốt sản phẩm của mình, giảm lợng điện hao hụt trong quá trình
phân phối và truyền tải điện năng, ngời lao động đóng vai trò không nhỏ, các
công nhân, kỹ s,phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định. Phải thông
thạo về kỹ thuật, kinh tế, nghiệp vụ về điện để tuyên truyền, hớng dẫn cho khách
hàng trong quá trình mua hàng và phơng pháp sử dụng, nhất là an toàn điện,
tránh xảy ra những tổn thất không đáng có. Phải thông thạo trong việc sử dụng,
kiểm tra các thiết bị điện thuộc phạm vi mình quản lý. Khi có sự cố xảy ra: chập,
cháy, nổ,thì những cán bộ công nhân ngành điện phải đợc đào tạo chính quy và
có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ tối thiểu. Trình độ cán bộ, công nhân ngày càng
cao thì xử lý các tình huống càng kịp thời, chính xác. Bên cạnh đó, việc bố trí
đúng ngời, đúng việc trong ngành điện rất quan trọng, một mặt giúp họ phát huy
hết khả năng của mình, mặt khác đảm bảo đợc an toàn, bởi ngành điện là ngành
có yêu cầu cao về kỹ thuật. Đợc bố trí công việc phù hợp giúp cho cán bộ, công
nhân say mê, sáng tạo, tránh đợc các hành vi tiêu cực do chán nản gây ra: làm
việc thiếu nhiệt tình, không tận tuỵ hết lòng vì công việc, khi có sự cố xảy ra, xử
khách hàng, còn nhiều hiện tợng thiếu trách nhiệm trong khi thực hiện ghi chỉ số
công tơ hoặc còn hiện tợng các đơn vị hạch toán sai trong công tác kinh doanh.
Chính sự bất bình này dẫn đến những hiện tợng tiêu cực của ngời sử dụng điện:
câu móc trộm điện, quay ngợc công tơ, vô hiệu hoá công tơ,dẫn đến tổn thất
điện năng.
Vậy, để quản lý tốt sản phẩm của mình trong đó có giảm lợng điện năng
hao tổn thì việc tổ chức sản xuất hợp lý, tạo mối liên hệ cân đối, hài hoà giữa các
bộ phận, phải có một đội ngũ nhân viên có trình độ, tinh thần trách nhiệm cao
với công việc là hết sức cần thiết. Tổ chức sản xuất kinh doanh không hợp lý tất
yếu dẫn đến hoạt động của ngành kém chất lợng, điện cung cấp không đầy đủ cả
về số lợng và chất lợng, hao tổn điện năng nhiều.
c/ Quản lý khách hàng
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
15
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Ngành điện là ngành cơ sở hạ tầng, tạo nên động lực của toàn bộ nền kinh
tế xã hội. Điện năng là một loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt quan trọng, gắn với
đời sống hàng ngày của con ngời. Chính vì vậy, khách hàng tiêu thụ điện rất đa
dạng, thuộc mọi tầng lớp, mọi lĩnh vực, mọi miền và mọi vùng của quốc gia, từ
khách hàng chỉ tiêu thụ 2-3 KWh/tháng đến những khách hàng tiêu thụ hàng
triệu KWh/ tháng.
Khách hàng của ngành điện gồm sản xuất công nghiệp, sản xuất nông
nghiệp, thuỷ lợi, dịch vụ thơng mại và sinh hoạt tiêu dùng ở đô thị, nông thôn và
miền núi. Là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cơ chế mới, mục tiêu phát
triển khách hàng của ngành là:
* Hớng phát triển khách hàng vào các thành phần công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ thơng mại, nhất là các xí nghiệp liên doanh với nớc ngoài, các xí
điện, không chỉ đối với riêng Điện Việt Nam mà đối với ngành điện các nớc trên
thế giới. Giảm tổn thất điện năng có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc
dân và ngành điện.
Theo EVN, năm 2003 Việt Nam giảm đợc 1% điện năng tổn thất sẽ tiết
kiệm đợc 237.400MW, tơng ứng với gần 179 tỷ đồng (tổng sản lợng điện phát ra
năm 2003 là 7.2 tỷ KWh).
Ngành điện là một ngành sản xuất kinh doanh sản phẩm điện nên muốn
tiếp tục duy trì và phát triển thì ngành điện phải có lợi nhuận để thực hiện tái đầu
t mở rộng để phát triển. Nếu sản phẩm điện mua về từ các nhà máy phát điện,
trong quá trình truyền tải và phân phối bị tổn thất 100% thì các Công ty kinh
doanh điện sẽ không có lợi nhuận, thâm hụt ngân quỹ do chỉ có đầu ra mà không
có đầu vào và các Công ty kinh doanh thuộc ngành điện sẽ nhanh chóng bị phá
sản, không tồn tại.
Trong trờng hợp lợng điện tổn thất với tỷ lệ cao. Do đây chính là một bộ
phận cấu thành nên chi phí sản phẩm, nên khi tỷ lệ tổn thất cao tất yếu sẽ dẫn
đến giá thành điện cao. Công ty kinh doanh điện muốn có lợi nhuận để thực hiện
tái đầu t thì giá bán phải cao hơn giá thành sản phẩm, giữa giá bán và giá thành
là mối quan hệ tỷ lệ thuận. Giá bán điện cao, theo quy luật cung- cầu, dẫn đến
sản lợng điện tiêu thụ giảm. Đối với ngành điện, đây là một thiệt hại lớn, ngành
sẽ thu hồi vốn lâu, nh vậy, việc sử dụng đồng vốn không hiệu quả, tất yếu dẫn
đến phá sản. Nền kinh tế quốc dân cũng bị thiệt hại rất lớn, bởi ngành điện có
một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, khi ngành điện
không tự mình phát triển đi lên thì Nhà nớc phải bù lỗ bằng Ngân sách Chính
phủ, mà nguồn ngân sách Chính phủ đợc thu từ các thành phần kinh tế. Vậy,
gánh nặng ngân sách buộc các thành phần kinh tế muốn tồn tại phải tăng giá bán
sản phẩm của mình, dẫn đến tình trạng hạn chế tiêu dùng. Đây không phải là
điều mong muốn của thị trờng, của các doanh nghiệp. Điều này làm cho nền
kinh tế bị đình trệ, sản phẩm hàng hoá không đợc lu thông. Vậy tổn thất điện
năng vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội.
Ngợc lại, tỷ lệ tổn thất điện năng thấp sẽ mang lại lợi ích hết sức to lớn
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
18
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
Chơng II
Giới thiệu chung về Điện lực Quảng Ninh
và phụ tảI khu vực
II.1- Quá trình hình thành và phát triển của Điện lực Quảng Ninh
Tháng 05/1965, Sở Quản lý và phân phối điện khu vực 5- Quảng Ninh trực
thuộc Công ty Điện lực Miền Bắc Bộ Điện lực đợc thiết lập. Công ty Điện lực
Miền Bắc quản lý 02 doanh nghiệp, đó là:
- Nhà máy Điện Hồng Gai.
- Sở quản lý và phân phối điện khu vực 5.
Trải qua các cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhà máy Điện
Hồng Gai bị h hỏng nặng, không thể khôi phục đợc. Năm 1972, Bộ Điện lực
quyết định giải thể nhà máy Điện Hồng Gai, toàn bộ tài sản và lao động của nhà
máy đợc chuyển sang sở quản lý phân phối điện khu vực 5.
Tháng 03/1973, sở Quản lý phân phôi điện khu vực 5 đổi tên thành sở
Điện lực Quảng Ninh, trực thuộc Công ty Điện lực I- Bộ Năng Lợng.
Tháng 05/1996 đến nay, sở Điện lực Quảng Ninh đổi tên thành Điện lực
Quảng Ninh.
Qua quá trình tiếp quản và phát triển, đến nay Điện lực Quảng Ninh đã trở
thành một doanh nghiệp quy mô lớn trực thuộc Công ty Điện lực I- Tổng công ty
Điện lực Việt Nam (EVN). Nhiệm vụ chính của doanh nghiệp là truyền tải và
kinh doanh bán điện. Ngoài ra, Điện lực Quảng Ninh còn làm Ban Quản lý A các
công trình xây dựng cơ bản do vốn ngân sách Nhà nớc cấp, đầu t xây dựng và
mở rộng lới điện của doanh nghiệp.
Ngoài các chi nhánh điện Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Yên Hng, Điện
Điện lực I, có t cách pháp nhân, đợc Công ty Điện lực I uỷ quyền và mở tài
khoản riêng tại ngân hàng địa phơng; đợc sử dụng con dấu riêng để giao dịch và
ký kết hợp đồng kinh tế với các cơ quan, xí nghệp trong và ngoài ngành, trong
phạm vi quyền hạn và trách nhiệm đợc giám đốc Công ty Điện lực I giao.
Điện lực Quảng Ninh có nhiệm vụ là:
* Nhận điện từ nhà máy Nhiệt điện Uông Bí, truyền tải điện năng cung
cấp cho các hộ phụ tải trong và ngoài tỉnh Quảng Ninh.
* Tiếp nhận và làm các thủ tục mua, bán điện, lắp đặt công tơ, trạm biến
áp, sửa chữa hệ thống điện, thiết bị điện.
* Quản lý công trình đầu t xây dựng cơ bản, đầu t mở rộng, xây dựng lới
điện.
* Thiết kế quy hoạch lới điện cấp điện áp từ 35KV trở xuống trên địa bàn
tỉnh.
* T vấn thiết kế điện từ 35KV trở xuống trên địa bàn tỉnh.
* Thí nghiệm điện, đo lờng các thiết bị điện sử dụng trong lới điện trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
* Xây dựng các đờng dây và trạm từ 35KV trở xuống.
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
20
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
II.2.2- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Điện lực Quảng Ninh
Phạm vi tiêu thụ sản phẩm điện năng của Điện lực Quảng Ninh trải dài
gần 300km, nên việc quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh là một vấn
đề khó khăn phức tạp.
Điện lực Quảng Ninh là một đơn vị hạch toán phụ thuộc nằm trong dây
truyền kinh doanh bán điện do Công ty Điện lực I quản lý, do vậy về kết cấu
quản lý có những đặc thù chung của ngành điện.
21
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
* Phòng an toàn lao động: có nhiệm vụ tham mu cho Giám đốc sử dụng
ngời lao động thực hiện đúng chế độ bảo hộ lao động và các quy phạm của
ngành điện. Phòng có nhiệm vụ đôn đốc các phòng ban, chi nhánh điện,kiểm
tra định kỳ và đề xuất về an toàn lao động đối với mọi đối tợng. Nghiên cứu, đề
xuất chế độ làm việc hợp lý, đảm bảo an toàn cho ngời lao động. Tập huấn, huấn
luyện các an toàn viên theo định kỳ, bảo đảm cho lực lợng này có đầy đủ nghiệp
vụ thực hiện tốt trách nhiệm của mình.
* Phòng Điều độ: làm nhiệm vụ điều hành hoạt động cả hệ thống điện
bằng cách chỉ đạo trực tiếp qua điện thoại cho công nhân vận hành các trạm
trung gian, trạm 110 KV, thao tác đóng cắt khi sửa chữa, khi xảy ra sự cố và khi
mất cân đối về công suất, đồng thời nhận các thông số kỹ thuật từ các trạm
35,110 KV báo về nhằm hạn chế thấp nhất việc mất điện lới cao thế, bảo đảm
cho việc cấp điện đợc liên tục.
* Đội quản lý các thế: làm nhiệm vụ quản lý tốt, toàn bộ các đơng dây
110 KV, 35 KV, kịp thời phát hiện ra những nguy cơ sự cố, các ảnh hởng, gây
mất an toàn hành lang lới điện, khắc phục, xử lý kịp thời các sự cố đột xuất, sửa
chữa định kỳ thờng xuyên để đảm bảo an toàn lới điện.
* Công nhân vận hành các trạm 110 KV: theo dõi sự hoạt động của toàn
bộ các thiết bị máy móc trong trạm, nhận lệnh trực tiếp từ phòng Điều độ đồng
thời đọc và báo cáo các thông số kỹ thuật về phòng Điều độ.
II.2.2.2- Bộ phận sửa chữa, thí nghiệm, hiệu chỉnh
Thí nghiệm hiệu chỉnh do phòng Kế hoạch điều hành, nhằm phân phối
hợp lý khối lợng công việc cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị
trong Điện lực Quảng Ninh đã đợc bố trí các lao động thích hợp.
Các đơn vị đợc nhận nhiệm vụ thờng giao là: Đội Thí nghiệm, đội xây
dựng, Phân xởng Cơ điện, đội quản lý cao thế, các Chi nhánh điện.
Công việc chính của đơn vị này là sửa chữa kịp thời, nhanh gọn những đe
giám sát hoạt động tài chính của các đơn vị cơ sở.
* Phòng Hành chính-Bảo vệ: thờng trực giúp giám đốc giải quyết các
công việc hành chính và các yêu cầu đột xuất khi cần thiết. Có nhiệm vụ tiếp
nhận công văn, th tín, báo chí từ ngoài cơ quan đến và từ cơ quan đi, tổ chức hệ
thống quản lý hồ sơ lu trữ, chuẩn bị các yêu cầu cần thiết phục vụ cho các hội
nghị, thực hiện công tác thanh tra bảo vệ.
II.2.2.4- Bộ phận kinh doanh bán điện
Làm nhiệm vụ khép kín khâu kinh doanh bán điện từ nhận đơn, văn bản
xin mua điện, treo tháo, lắp đặt công tơ tới việc ký kết hợp đồng mua bán điện,
ra hoá đơn tiền điện cho toàn bộ khách hàng mua điện, chốt số điện công tơ của
khách hàng và của Điện lực Quảng Ninh theo đúng quy trình kinh doanh điện
năng đúng chính sách, chế độ đảm bảo doanh thu, giảm tổn thất, giảm d nợ
khách hàng, giải quyết đơn từ khiếu tố về công tác kinh doanh bán điện.
II.3- Tình hình kinh doanh điện năng ở Điện lực Quảng Ninh trong giai
đoạn 2000- 2004
II.3.1- Đặc trng phụ tải Điện lực Quảng Ninh
Khách hàng tiêu thụ điện của Điện lực Quảng Ninh đợc chia thành 05
thành phần sử dụng:
- Công nghiệp.
- Phi công nghiệp.
Khoa Kinh tế và quản lý
Trờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
23
Đồ án tốt nghiệp - Đinh Thế Lợi Kinh tế Năng lợngK44
- Giao thông vận tải.
- Nông nghiệp.
- ánh sáng sinh hoạt.
Biểu đồ 01: Sản lợng điện thơng phẩm của các thành phần sử dụng điện
Nh vậy, sản lợng điện thơng phẩm nhìn chung năm sau cao hơn năm trớc,
điện cho các thành phần sử dụng cũng đều tăng. Nguyên nhân là do kinh tế xã
hội Quảng Ninh đang trên đà phát triển. Năm 2001, năm khởi đầu của thiên niên
kỷ mới, đồng thời cũng là năm bản nề, năm đầu của kế hoạch 5 năm 2001- 2005.
Với những vận hội thời cơ và thách thức mới, tình hình sản xuất kinh doanh của
Điện lực Quảng Ninh diễn ra trong tình hình kinh tế hết sức thuận lợi. Bên cạnh
đó tình hình thời tiết của năm 2001 luôn ủng hộ cho Điện lực. Ma lớn kéo dài rất
ít, đặc biệt bão lớn không ảnh hởng tới Quảng Ninh nên công tác quản lý vận
hành lới điện không gặp phải khó khăn trở ngại khách quan. Ngành than, ngành
dịch vụ du lịch, ngành sản xuất vật liệu xây dựng và một loạt các ngành kinh tế
khác trên địa bàn phát triển mạnh. Chính sự phát triển của các ngành kinh tế đã
tạo đà cho sản lợng điện thơng phẩm và doanh thu tiền điện của Điện lực tăng
nhanh. Năm 2002, ngành công nghiệp khai thác than trong thời kỳ hng thịnh,
phát triển mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp mới xuất hiện. Nguồn điện trên lới
ổn định hơn những năm trớc, trạm 110 KV Giếng Đáy, trạm trung gian Đông
Triều đợc nâng công suất đã phần nào giải quyết đợc sự quá tải trên lới trung áp.
Năm 2003, là năm du lịch của tỉnh Quảng Ninh, các lễ hội các cuộc thi lớn đã
diễn ra tại tỉnh. Bên cạnh đó tình hình kinh tế xã hội của tỉnh đang trên đà phát
triển mạnhĐời sống của ngời dân ngày một cao hơn, các thiết bị kỹ thuật hiện
đại, các máy móc đợc sử dụng thay thế lao động chân tay. Quảng Ninh là tỉnh
với hoạt động sản xuất công nghiệp là chủ yếu nên sản lợng điện thơng phẩm
cho ngành công nghiệp là lớn nhất, đây chính là đối tợng khách hàng chính của
Điện lực Quảng Ninh.
Xét theo các khu vực, các vùng trong tỉnh, Cẩm Phả là nơi tập trung nhiều
mỏ than lớn: Cửa Ông, Cao Sơn,và cũng là nơi tập trung các nhà máy cơ khí,
động lực nên sản lợng điện thơng phẩm của chi nhánh điện Cẩm Phả chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong toàn bộ lợng điện thơng phẩm của Điện lực Quảng Ninh.
Thành phố Hạ Long- nơi tập trung nhiều khách sạn, khu vui chơi giải trí, một số
mỏ than và khu công nghiệp đứng vị trí thứ hai về tỷ lệ điện thơng phẩm. Thị xã
Uông Bí, Mạo Khê, Đông Triều cũng là khu tập trung nhiều dân c và có một số