Viện KHCN Sở Hữu Trí Tuệ Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng
phơng pháp định giá nhn hiệu áp dụng trong giai
đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá tại Việt Nam
Cnđt: Trần Nam Long
8036
Phương pháp và quy trình định giá được đề xuất
được tác giả áp dụng để
định giá nhãn hiệu TISCO của Công ty Cổ phần gang thép Thái Nguyên như là một
ví dụ thực hành và kiểm nghiệm. 2
CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU
I. TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU
1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Tại Khoản 1 Điều 15 Hiệp định Các khía cạnh thương mại của Quyền Sở hữu
trí tuệ (TRIPS), nhãn hiệu được định nghĩa như sau:
Nhãn hiệu là “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp của dấu hiệu có khả năng
giúp phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ
của những doanh nghiệp khác. Các d
ấu hiệu gồm các từ, kể cả tên riêng, chữ cái,
chữ số, yếu tố hình và tổ hợp màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó,
phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu hiệu
không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các nước Thành
viên của Hiệp định có thể quy đị
nh rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính
phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng”.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, nhãn hiệu được quy định như sau:
“Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau” (Điều 4.16).
Như vậy, nhãn hiệu là một loại đối tượng sở hữu trí tuệ, thỏa mãn hai tiêu chí:
- Ph
Trong thực tiễn Việt Nam, hiện nay thịnh hành thuật ngữ “thương hiệu”.
Trong nhiều tình huống có sự lẫn lộn thuật ngữ đó với “nhãn hiệu”.
Khái niệm “thương hiệu” được sử dụng với hàm nghĩa không thống nhất. Có
thể điểm qua một vài cách quan niệm về “thương hiệu” như sau:
- Thương hiệu là toàn bộ doanh nghiệp hoặc một phần của doanh nghiệp: ví dụ
như “Thương hiệu Hummer sắp về tay người Trung Quốc” hay “mua bán thương
hiệu ô tô, thành công và thất bại”
1
.
Với cách quan niệm này, nói đến thương hiệu là nói đến tổng thể tất cả các
yếu tố tạo nên một sản phẩm, dịch vụ, ví dụ nói đến thương hiệu KFC hàm ý cả
nhãn hiệu KFC, ưu thế về vị trí cửa hàng, cách bài trí, phương pháp bán hàng, bí
quyết chế biến thực phẩm … vì những yếu tố này không thể tách rời. Thiếu một yếu
tố không làm nên KFC.
- Thương hiệu là sự k
ết hợp giữa nhãn hiệu và tên thương mại: Nhãn hiệu và
tên thương mại trong một số trường hợp song hành, có thể sử dụng lẫn, thậm chí là
trùng nhau ví dụ nói đến Công ty Thép Thái Nguyên là nói đến nhãn hiệu TISCO,
đôi khi người ta vẫn sử dụng khái niệm “Thép Thái Nguyên” - tức là sử dụng tên
thương mại - để chỉ sản phẩm mang nhãn hiệu TISCO.
Cách hiểu này được thấy rõ nhất tại Thông tư 146/2007/TT-BTC ngày
06/12/2007 của Bộ Tài chính, như sau: “Giá tr
ị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu,
tên thương mại) được xác định trên cơ sở các chi phí thực tế ” (Điểm 4.7.a, phần
A, mục III)
Trong hoạt động định giá nhằm cổ phần hóa doanh nghiệp tại Việt Nam thì
khái niệm “thương hiệu” thường được hiểu theo cách này.
gộp lại trong khái niệm thương hiệu?
Thứ hai, không phải trường hợp nào nhãn hiệu và tên thương mại cũng đi
liền nhau, ví dụ ta biết nhiều đến nhãn hiệu “trà thảo dược Dr Thanh” hay “Tam
Thái tử”, “gạch Prime”, “trà xanh không độ” … nhưng hầu như không biết đến tên
thương mại của loại sản phẩ
m mang nhãn hiệu đó. Trong trường hợp nói trên, rõ
ràng việc gắn nhãn hiệu và tên thương mại là không cần thiết và làm phức tạp hóa
quá trình định giá.
Thứ ba, định giá nhằm nhiều mục đích khác nhau nhưng mục đích phổ biến
là để thương mại hóa nhãn hiệu đó một cách hiệu quả nhất. Nếu như việc thương
mại hóa nhãn hiệu không có trở ngại gì về mặt pháp lý (đã có hành lang pháp lý cho
hoạt động li-x
ăng, chuyển nhượng, góp vốn, liên doanh bằng giá trị nhãn hiệu) thì
đối với tên thương mại, vấn đề phức tạp hơn rất nhiều.
Điều 139, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: “Quyền đối với tên thương
mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh
doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó”. Nh
ư vậy, nếu li-xăng
5
(cho thuê quyền sử dụng), góp vốn liên doanh bằng tên thương mại với tư cách là
một loại tài sản độc lập là không hợp pháp, ít ra là tính đến thời điểm hiện nay.
Để tránh hiểu sai, cần khẳng định rằng đối tượng của hoạt động định giá
được nghiên cứu trong đề tài này là nhãn hiệu, không phải là thương hiệu
.
II. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA, NGUYÊN TẮC ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU
2.1. Mục đích, ý nghĩa
Việc định giá nhãn hiệu nhằm xác định giá trị của nhãn hiệu mà doanh nghiệp
đang tạo dựng, đang sở hữu. Từ đó hiểu rõ hơn vị thế của mình trên thị trường, uy
tín đối với khách hàng và các nhà đầu tư; đánh giá đúng hơn nỗ lực của lãnh đạo &
nhân viên công ty trong việc tạo dựng nhãn hiệu, qua đó xây dựng chiến lược đầu
2
Valuation of Intellectual Property: What, Why and How, WIPO Magazine 9-10/2003
6
2.2. Nguyên tắc kinh tế chi phối hoạt động định giá nhãn hiệu
Việc định giá nhãn hiệu phải tuân theo các nguyên tắc sau đây
3
- Nguyên tắc sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất: Việc sử dụng tốt nhất và
có hiệu quả nhất của nhãn hiệu là đạt được mức hữu dụng tối đa trong những hoàn
cảnh kinh tế - xã hội thực tế phù hợp, có thể cho phép về mặt kỹ thuật, về pháp lý,
về tài chính và đem lại giá trị lớn nhất.
Tuy nhiên, một nhãn hiệu đang sử
dụng thực tế không nhất thiết đã thể hiện
khả năng sử dụng tốt nhất và có hiệu quả nhất.
- Nguyên tắc cung - cầu: Giá trị của một nhãn hiệu được xác định bởi mối
quan hệ cung và cầu trên thị trường.
- Nguyên tắc thay đổi: Giá trị của nhãn hiệu thay đổi theo sự thay đổi của
những yếu tố hình thành và có liên quan đến giá trị của nó.
Giá trị c
ủa nhãn hiệu cũng được hình thành trong quá trình thay đổi liên tục
phản ánh hàng loạt các mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị.
Bản thân các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị luôn luôn thay đổi. Do đó, trong định giá
nhãn hiệu phải nắm được mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố ở trạng thái động,
phải phân tích quá trình thay đổi nhằm xác định mức sử dụng nhãn hiệu t
ốt nhất và
có hiệu quả nhất.
- Nguyên tắc thay thế: Trong trường hợp hai hay nhiều nhãn hiệu có thể thay
thế lẫn nhau trong quá trình sử dụng, thì giá trị của những nhãn hiệu đó được xác
định bởi sự tác động lẫn nhau của nhãn hiệu này đến nhãn hiệu khác.
- Nguyên tắc tuân thủ: Nhãn hiệu cần phải phù hợp với môi trường của nó
nhằm đạt được mức sinh lời tối đa hoặc mức hữu dụng cao nhất. Do đó, phải phân
tích xem liệu nhãn hiệu đó có phù hợp với môi trường hay không khi thẩm định
viên xác định mức sử dụng nhãn hiệu tốt nhất và có hiệu quả nhất.
- Nguyên tắc cạnh tranh: Lợi nhuận cao vượt trội sẽ
thúc đẩy cạnh tranh,
ngược lại, cạnh tranh quá mức có thể làm giảm lợi nhuận và cuối cùng có thể không
còn lợi nhuận. Đối với nhãn hiệu, mối quan hệ cạnh tranh cũng được quan sát giữa
các nhãn hiệu với nhau và giữa nhãn hiệu này với nhãn hiệu khác. Do đó, giá trị của
nhãn hiệu được hình thành là kết quả của sự cạnh tranh trên thị trường.
- Nguyên tắc dự tính lợi ích tương lai: Giá trị của nhãn hiệ
u có thể được xác
định bằng việc dự tính khả năng sinh lợi trong tương lai.
Giá trị của nhãn hiệu cũng chịu ảnh hưởng bởi việc dự kiến thị phần của
những người tham gia thị trường và những thay đổi có thể dự tính trước trong yếu
tố này cũng ảnh hưởng đến giá trị.
Việc ước tính giá trị của nhãn hiệu luôn luôn dựa trên các triển vọng t
ương
lai, lợi ích dự kiến nhận được từ quyền sử dụng nhãn hiệu của người mua.
2.3. Khái niệm giá trị trong định giá nhãn hiệu
Nhằm mục đích định giá nhãn hiệu, các khái niệm sau cần được xem xét và
phân biệt:
- Giá trị: là biểu hiện bằng tiền về lợi ích mà nhãn hiệu có thể mang lại cho
chủ sở hữu nhãn hiệu tại một thời điểm nhất định. Giá trị là một thuật ngữ mang
tính giả thiết, thể hiện mức giá cả (price) dự tính sẽ được chấp nhận trong một giao
dịch bình đẳng trên thị trường.
Như vậy, giá trị không nhất thiết được hình thành và sử dụng trong quan hệ
trao đổi mua bán và trong nhiều trường hợp nó thể hiện số tiền ước tính khi xảy ra
một giao dịch giả định của nhãn hiệu. Giá trị ước tính này có thể bằng hoặc khác xa
giá trị trao đổi (tức là giá trị được giao dịch trên thực tế, còn gọ
định giá đối với những nhãn hiệu đã có uy tín trên thị trường, các nhãn hiệu nhái,
nhãn hiệu mới xây dựng về cơ bản không nên định giá và không cần
định giá.
- Có tính đơn nhất: Độc quyền, đơn nhất là đặc tính của mọi loại tài sản trí tuệ,
trong đó có nhãn hiệu. Chính vì tính đơn nhất này nên phương pháp thị trường (so
sánh các giao dịch đối với tài sản tương đương, sẽ được trình bày ở phần sau) hầu
như không áp dụng được trong định giá nhãn hiệu.
- Thời gian tồn tại không xác định: Về nguyên tắc, nhãn hiệu có thời gian tồn
tại không xác đị
nh, có thể gia hạn hiệu lực vô số lần. Trên thực tế có thể dễ dàng
tìm ra nhiều nhãn hiệu có thời gian tồn tại hàng trăm năm và cũng không thiếu nhãn
hiệu tồn tại rất ngắn. Tuy nhiên, đối với hoạt động định giá nhãn hiệu thì trong một
số trường hợp vẫn cần phải xác định thời gian tồn tại hữu ích. Để thực hiện việc
này, một số k
ỹ thuật đã được chấp nhận rộng rãi được áp dụng, cụ thể sẽ được trình
bày tại phần sau
9
- Không chịu hao mòn chức năng, không lạc hậu về thời gian: Tương tự với
các tài sản trí tuệ khác, nhãn hiệu có bản chất thông tin nên có thể sử dụng, vật chất
hóa dưới dạng bản sao vô số lần mà không bị hao mòn, giảm giá trị nhưng điểm
khác biệt của nhãn hiệu là đặc tính không chịu hao mòn chức năng. Ngược lại, càng
tồn tại lâu, sử dụng càng nhiều thì giá trị nhãn hiệu càng cao và vì vậy,
đối với định
giá nhãn hiệu thì các tham số về hao mòn chức năng (functional obsoletescence)
hoặc hao mòn vật lý (physical Depreciation) sẽ không được tính đến.
3.2. Nhóm phương pháp định giá sử dụng cách tiếp cận chi phí
Định giá bằng cách tiếp cận chi phí là việc ước tính giá trị một nhãn hiệu dựa
trên căn cứ là các tài liệu, số liệu phản ánh nguồn lực tài chính, nhân lực, vật lực đã
đầu tư để tạo ra nhãn hiệu đó hoặc nhãn hiệu tương đương.
Cơ sở lý luận của cách tiếp cận này là nguyên tắc thay thế với giả thiết rằng
xưởng, thiết bị);
- Chi phí vốn
4
, thuế và các chi phí hợp lý khác
3.2.2. Định giá dựa trên chi phí thay thế (COR - Cost Of Replacemanet)
Chi phí thay thế là chi phí cần sử dụng để thay thế một loại nhãn hiệu (ở đây
là nhãn hiệu) có cùng công năng sử dụng và đem lại hiệu quả kinh tế tương đương
với nhãn hiệu đích tại thời điểm định giá.
Đối với nhãn hiệu, để định vị một nhãn hiệu cần thay thế (hoặc tái tạo nh
ư sẽ
được trình bày ở phần dưới), thường dựa vào các tiêu chí sau:
- Độ lớn thị trường của sản phẩm/dịchvụ;
- Thị phần;
- Lợi ích kinh tế do việc sử dụng nhãn hiệu mang lại. Lợi ích kinh tế thường
được xem xét từ hai góc độ là giá trị vượt trội do mang nhãn hiệu và lượng bán
hàng vượt trội;
- Chi phí cần thiết để quảng cáo, tiếp thị;
- Khả năng sinh lợ
i (profitability) của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
- Chỉ số về mức độ nhận biết và trung thành với nhãn hiệu (thường thông qua
khảo sát, thăm dò); và
- Tiềm năng phát triển của nhãn hiệu.
3.2.3 Định giá dựa trên chi phí tái tạo (Cost Of Reproduction):
Chi phí tái tạo là chi phí cần sử dụng để tạo ra một bản sao của nhãn hiệu
đích (ở đây là nhãn hiệu) tại thời điểm định giá.
Với phương pháp này cần
định vị được nhãn hiệu (nhãn hiệu) cần tái tạo dựa
trên các tiêu chí nêu tại phần 1.2. Trên cơ sở đó ước tính các chi phí tại thời điểm
hiện tại để xây dựng một nhãn hiệu tương đương. Chi phí gồm các mục nêu tại phần
1.1
3.2.5. Phạm vi ứng dụng của cách tiếp cận này
Việc định giá bằng cách tiếp cận này tuy có nhiều nhượ
c điểm nhưng lại rất
hữu dụng cho doanh nghiệp trong tính toán hiệu quả kinh tế và hiệu quả đầu tư đối
với nhãn hiệu, từ đó phục vụ quá trình quản trị nội bộ doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp để định giá những nhãn hiệu mới hình thành
trước khi nó tạo dựng được chỗ đứng trên thị trường hoặc sử dụng để
định giá
những nhãn hiệu ít được sử dụng.
3.3 Nhóm phương pháp định giá sử dụng cách tiếp cận thị trường
Định giá bằng cách tiếp cận thị trường là việc phân tích, so sánh các giao
dịch đối với loại nhãn hiệu tương tự để ước lượng giá trị.
Cách tiếp cận này cũng được xây dựng chủ yếu dựa trên việc tuân thủ
nguyên tắc thay thế, đó là một người mua thận trọng không bỏ tiền ra để mua một
loại nhãn hiệu nếu có thể mua một nhãn hiệu khác tương đương với giá r
ẻ hơn và sự
đánh giá của thị trường là sự đánh giá cuối cùng.
Theo các nguyên tắc này, giá trị nhãn hiệu mục tiêu được coi là ngang bằng
với giá trị của nhãn hiệu tương đương đã được giao dịch trên cùng một thị trường tự
do. Xét về phương diện kỹ thuật thì với cách tiếp cận này, ta không cần phải xây
dựng một công thức hoặc mô hình tính toán mà đơn giản chỉ cần tìm kiếm nhữ
ng
bằng chứng về giao dịch tương đương, có thể so sánh được trên thị trường.
Có thể nói phương pháp thị trường luôn là phương pháp đưa lại kết quả có
tính thuyết phục cao vì thị trường luôn là thước đo cuối cùng, mang tính tối thượng
đối với mọi quyết định kinh tế. Tuy nhiên, đối với định giá nhãn hiệu thì phương
12
pháp thị trường hiếm khi được sử dụng do sự thiếu vắng các chứng cứ thị trường
đối với loại nhãn hiệu tương đương.
3.3.1. Điều kiện để định giá theo phương pháp thị trường
Giá trị một nhãn hiệu chịu ảnh hưởng rất nặng của của yếu tố lĩnh vực hoạt
động của hàng hóa, dịch vụ. Một giao dịch thị trường chỉ được coi là căn cứ để xác
định giá trị của nhãn hiệ
u đích khi chúng cùng một lĩnh vực hoạt động hoặc ít ra là
tương đồng, có cùng một tiềm năng phát triển, cùng chia sẻ một môi trường pháp lý
và có một mức độ rủi ro ngang nhau. Ví dụ một nhãn hiệu mỹ phẩm được mua bán
trên thị trường thì nó sẽ là thông tin tham khảo hữu ích đối với các nhãn hiệu khác
cùng lĩnh vực mỹ phẩm vì điều đó đảm bảo mang hàm ý là tất cả các yếu tố khác là
giố
ng nhau (tình hình thị trường, luật pháp, rủi ro kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận
trung bình …). Vì thế, đương nhiên, thông tin thị trường về một nhãn hiệu thép xây
13
dựng chẳng hạn thì không tương đương và không thể làm cho tương đương để định
giá nhãn hiệu mỹ phẩm.
- Lợi tức do nhãn hiệu mang lại (profits): Hai nhãn hiệu trên cùng một lĩnh
vực nhưng không thể được coi là tương đương nếu như khả năng sinh lợi của chúng
khác nhau. Một ví dụ điển hình là trong lĩnh vực đồ thể thao: Sản phẩm của các
hãng danh tiếng có chất lượng không chênh lệch nhi
ều, tuy nhiên, có một thực tế là
một sản phẩm mang nhãn hiệu này lại được người tiêu dùng ưa thích hơn, và vì thế
nó mang lại tỷ suất lợi nhuận biên cao hơn tỷ suất lợi biên nhuận trung bình của
ngành hàng. Trong trường hợp này thì chính nhãn hiệu (và hàm chứa trong đó là uy
tín, chất lượng, đẳng cấp) đã đóng góp quan trọng trong việc tạo ra lợi ích kinh tế.
Nếu nhãn hiệu nói trên được trao đổi, mua bán thì ưu thế do nhãn hiệu
đó mang lại
cũng được tính toán và coi đó như một yếu tố để so sánh.
Như vậy, nếu như các chỉ số giao dịch trong cùng một ngành được coi là cơ
bản trong việc đánh giá tính tương đương của nhãn hiệu thì việc đánh giá mức độ
lợi ích mà nhãn hiệu đó mang lại là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, nếu mức độ lợi
tức mà nhãn hiệu đóng góp khác nhau thì tùy từng trường hợp mà ng
3.3.3. Điều chỉnh tương đương đối với giao dịch
Việc lựa chọn và điều chỉnh về tương đương hết sức phức tạp, cần căn cứ
vào từng trường hợp cụ thể và thường do các chuyên gia kinh tế, có chuyên môn
sâu về tài chính, kế toán và trong một số trường hợ
p cần có kiến thức về lĩnh vực kỹ
thuật chuyên ngành. Và ngay cả khi hội đủ các điều kiện như trên thì việc điều
chỉnh tương đương không phải trong trường hợp nào cũng nhận được sự đồng thuận
của các bên có liên quan.
3.3.4. Một số phương pháp định giá áp dụng cách tiếp cận thị trường
Ngoài một số trường hợp có thể xác định giá trị nhãn hiệ
u bằng cách tiếp cận
thị trường một cách trực tiếp, ví dụ như nhãn hiệu P/S được mua đứt với giá trên 5
triệu USD, nhãn hiệu Dạ Lan được định giá để liên doanh năm 1995 có giá 3,2 triệu
USD … thì với phần lớn các trường hợp khác, việc định giá phải thông qua một số
kỹ thuật như:
a. Định giá thông qua thị trường chứng khoán
Hiện nay, thị trường chứng khoán đã trở thành một kênh huy động v
ốn quan
trọng của doanh nghiệp, qua đó, nhà đầu tư nhỏ lẻ có thể kết hợp hữu hiệu với nhà
đầu tư lớn hơn cùng sở hữu và cùng kinh doanh. Tại các nước phát triển, thị trường
chứng khoán được coi là hàn thử biểu của nền kinh tế, theo đó mọi diễn biến cả ở
cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô của từng doanh nghiệp đều được ph
ản ánh ngay lập
tức vào giá trị cổ phiếu.
Vì thế, người ta có thể lợi dụng những biến động của cổ phiếu khi tồn tại
hoặc vắng mặt một nhãn hiệu nào đó để xác định giá trị.
Tháng 01/2007, hãng Cisco System, chủ sở hữu nhãn hiệu i.Phone dùng cho
điện thoại hữu tuyến, có thể gọi được điện thoại thông thường và điện thoại qua
giao thứ
c VoIP đe dọa kiện hãng Apple vì đã sử dụng nhãn hiệu i.Phone cho điện
Nhãn hiệu có thể được định giá thông qua việc so sánh mức phí li-xăng trên
cơ sở lý luận rằng hai nhãn hiệu có giá trị ngang nhau nếu có giá trị sử dụng bằng
nhau. Tuy nhiên, khi so sánh mức phí cần lưu ý các điều khoản đi kèm ví dụ như
phí ban đầu (up-front-fee), mức phí tối thiểu, lượng hàng tiêu thụ tối thiểu ….
3.3.5. Ưu, nhược điểm của cách tiếp cận thị trường
a. Ưu điểm
- Đối với các nước có nhiều giao dịch mua bán nhãn hiệu, có nhiều thông tin
thị trường hoặc thị trường chứng khoán minh bạch, công khai như Hoa Kỳ, Nhật
Bản, EU … thì đây là phương pháp quan trọng vì nó thể hiện sự đánh giá của thị
trường - sự đánh giá đầy đủ, chính xác và khách quan nhất. Giá trị mà thị trường
thừa nhận là giá trị cuối cùng, vì vậy, có sức thuyết phục mạnh đối với các bên có
liên quan.
- Là ph
ương pháp đơn giản, không đòi hỏi nhiều về kỹ thuật vì không có
công thức hay mô hình cố định mà chỉ dựa vào sự hiện diện của các giao dịch trên
thị trường để rút ra các bằng chứng về giá trị.
b. Nhược điểm
- Trên thực tế, không bao giờ có giao dịch về một nhãn hiệu hoàn toàn tương
đồng với nhãn hiệu đích tính độc quyền và đơn nhất của nó. Hơn nữa, đ
ôi khi giá
giao dịch được công bố không hoàn toàn phản ánh giá thị trường vì còn có những
điều kiện kèm theo không được tiết lộ như quyền cung cấp nguyên phụ liệu đối với
các hợp đồng franchising, lượng sản phẩm tối thiểu và tối đa được sản xuất khi mua
li-xăng…
- Thị trường thường xuyên biến động, vì thế thông tin thị trường dễ bị lạc
hậu, làm ảnh hưởng đế
n tính chính xác của việc định giá. Để hạn chế nhược điểm
này, cần tiến hành những nghiên cứu chi tiết về lĩnh vực đích, diễn biến tài chính,
Kỹ thuật tính toán giá trị vượt trội (Premium Pricing) để tính toán lợi ích kinh tế do
nhãn hiệu mang lại.
Ví dụ về việc trường hợp này có nhiều, có thể đơn cử một áo sơ mi do hãng
An Phước sản xuất có cùng chất liệu, cùng kiểu dáng, cùng nơi sản xuất nh
ưng nếu
mang nhãn hiệu An Phước thì chỉ bán được với giá 500.000VND, nếu mang nhãn
hiệu Pierre Cardin hoặc Polo thì có thể bán được với giá 1.500.000 VND.
Như vậy, lợi ích kinh tế do nhãn hiệu mang lại tính theo kỹ thuật này được
tính bằng khoảng chênh lệch về giá bán giữa sản phẩm mang nhãn hiệu đích và sản
phẩm cùng chủng loại, chất lượng tương đương nhưng không gắn nhãn hiệu hoặc
gắn nhãn hiệu yếu, nhãn hiệu nhái.
b. K
ỹ thuật xác định thu nhập gián tiếp
17
Trong phần lớn trường hợp, không phải lúc nào cũng may mắn nhận biết
ngay và tiền tệ hóa được hiệu quả kinh tế mà nhãn hiệu mang lại một cách trực tiếp
do lợi nhuận vượt trội của một sản phẩm, dịch vụ cấu thành bởi nhiều yếu tố chứ
không chỉ một mình nhãn hiệu ví dụ như việc áp dụng một quy trình quản trị mới có
thể làm t
ăng hiệu năng quản lý, việc áp dụng công nghệ mới làm sản phẩm hấp dẫn
hơn Mặt khác, không phải trong trường hợp nào cũng tìm được nhãn hiệu đối
chứng, khi ấy, cần sử dụng kỹ thuật xác định thu nhập gián tiếp.
- Giảm trừ phí li-xăng nhãn hiệu (relief from royalty): Đây là kỹ thuật
được sử dụng phổ biến để xác định giá trị kinh tế do nhãn hiệu mang lạ
i, đặc biệt
trong trường hợp xảy ra tranh chấp về nhãn hiệu. Kỹ thuật này dựa trên giả định là
nếu không có nhãn hiệu (đang sử dụng) thì phải nhận li-xăng với một chi phí nhất
định. Như vậy, nếu có nhãn hiệu thì tiết kiệm được chi phí đó và đây chính là lợi ích
kinh tế nhãn hiệu mang lại.
Để xác định mức phí li-xăng, người ta thường nghiên cứu mức phí tương tự
=
Tỷ lệ lợi ích kinh tế
do TSTT đóng góp
18
Lợi nhuận biên của ngành, dịch vụ thường được xác định dựa trên ý kiến
chuyên môn của các chuyên gia kinh tế hoặc lấy số liệu thống kê của các tổ chức uy
tín.
- Kỹ thuật phân tích dòng tiền (analytical methods): Với kỹ thuật này, các
chuyên gia phân tích luồng thu nhập từ một loại sản phẩm, dịch vụ, phân tích các
yếu tố góp phần tạo nên tổng lợi nhuận vượt trội như máy móc, thiết bị
, nhân lực,
nhãn hiệu, sáng chế …, từ đó ước lượng sự đóng góp của nhãn hiệu. Sử dụng kỹ
thuật này cần đến kiến thức chuyên môn rất sâu về kinh tế, tài chính, kế toán, bên
cạnh kiến thức về sở hữu trí tuệ.
Lưu ý: Ngoại trừ kỹ thuật giảm trừ phí li-xăng, giá trị vượt trội được tính
bằng các kỹ thuật như Premium Price, phân tích dòng tiền thay th
ế … có thể do
nhiều yếu tố tạo thành thì cần phân tích xem những yếu tố nào tạo nên giá trị vượt
trội, từ đó xác định dòng tiền đối với nhãn hiệu đích.
Việc phân tách đòi hỏi nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động sản xuất,
kinh doanh, tình hình thị trường, đặc điểm hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu … và
thường có sự tham gia của chuyên gia về ngành, lĩnh vực đó.
Đối với một số trường hợp, để đơn giản hóa việc tính toán, căn cứ vào tình
hình cụ thể mà người ta mặc nhiên coi nhãn hiệu là yếu tố duy nhất tạo nên giá trị
vượt trội (Định giá của Ernst & Young với Xi măng Hà Tiên 1) và bỏ qua việc phân
tách này.
3.4.3. Các phương pháp định giá ứng dụng cách tiếp cận thu nhập:
Có 02 phương pháp ứng dụng cách tiếp cận này được coi là cơ bản, quan
trọng nhất và đượ
: Giá trị hiện tại của lợi nhuận của nhãn hiệu năm thứ i
19
i : thứ tự các năm kế tiếp kể từ thời điểm định giá (i:1 →n);
D
i
: Dòng tiền năm thứ i.
n : Là thời gian tồn tại hữu dụng của nhãn hiệu được lựa chọn.
* Giải thích một số thuật ngữ, khái niệm đã được sử dụng trong công
thức
- Dòng tiền (cash flow) hoặc lợi ích kinh tế do nhãn hiệu mang lại
(economic contribution):
Khái niệm “dòng tiền” hoặc “lợi ích kinh tế do nhãn hiệu mang lại” áp dụng
trong công thức dưới đây là lợi nhuận ròng dự kiến có
được trong tương lai do việc
sử dụng nhãn hiệu trực tiếp mang lại.
“Dòng tiền” khác với “giá trị vượt trội” - được sử dụng để chỉ sự chênh lệch
về giá trị giữa loại hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu và một loại hàng hóa, dịch vụ
được sử dụng để so sánh khác. Giá trị vượt trội có thể do sự đóng góp của nhiều yếu
tố, trong đó có nhãn hiệu.
Trong công thức, dòng tiền (tham số Di) là Dòng tiền năm thứ i, được tính
dựa trên kỳ
vọng về lợi nhuận ròng hoặc tổng lượng hàng hóa tiêu thụ trong tương
lai bằng kỹ thuật (i) lợi nhuận vượt trội, (ii) so sánh lợi nhuận biên; hoặc (iii) giảm
trừ phí li-xăng, đã được trình bày ở phần trên.
- Chiết khấu
Trong tài chính, chiết khấu là quy trình xác định giá trị hiện tại của một
lượng tiền tệ có được trong một thời điểm trong tương lai. Giá trị chiết khấ
u của
số phụ phí rủi ro chứng khoán quốc tế tại niên giám định giá hoặc do các công ty
định giá xác định cho từng doanh nghiệp, từng loại hình kinh doanh nhưng không
vượt quá tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro (Rf).
- Hiện tại hóa dòng tiền tương lai.
Khi định giá nhãn hiệu bằng phương pháp thu nhập, ta giả
định sẽ thu được
một khoản tiền từ nhãn hiệu trong tương lai. Tuy nhiên, một đồng trong tương lai sẽ
có giá trị khác với một đồng đang có trong thời điểm hiện tại. Vì vậy, trong mọi
công thức đều cần tính đến việc đưa giá trị sẽ nhận được trong tương lai về thời
điểm hiện tại, đó chính là hiện tại hóa dòng tiền tương lai.
Một Dollar, nế
u đem đầu tư, sẽ tăng lên thành $(1+r) sau một năm, nên một
khoản tiền B trong năm tới sẽ có giá trị hiện tại (hiện giá) là B/(1+r). Tương tự, một
khoản đầu tư trị giá $1 hiện nay sẽ tăng lên thành $(1+r)
n
trong n năm, hay khoản
tiền B sẽ nhận được vào n năm trong tương lai có hiện giá là $B/(1+r)
n
. Suất chiết
khấu r càng lớn và thời gian có được số tiền càng lùi xa vào tương lai, thì hiện giá
của nó càng nhỏ.
Để hiện tại hóa dòng tiền tương lai, khi đã xác định được tỷ lệ chiết khấu thì
cần làm rõ các khái niệm sau:
+ Lãi đơn (simple interest): Lãi chính là số tiền thu được (đối với người
cho vay) hoặc chi ra (đối với người đi vay) do việc sử dụng vốn vay. Lãi đơn là số
tiền lãi chỉ tính trên s
ố tiền gốc mà không tính trên số tiền lãi do số tiền gốc sinh ra.
Công thức tính lãi đơn như sau:
Si = Po(i)(n)
Trong đó: Si là lãi đơn, Po là số tiền gốc, i là lãi suất kỳ hạn và n là số kỳ
chiết khấu 8% năm và tính lãi kép hàng năm, áp dụng công
thức trên, ta sẽ có số tiền 1000 USD này tại thời điểm hiện tại như sau:
PVo = 1000(1+0,08)
-3
= 1000(0,794) = 794$
Như vậy, giá trị của nhãn hiệu trị giá 1000 USD sẽ thu được trong 3 năm sau
khi định giá, giả thiết tỷ lệ chiết khấu là 8% năm, lãi suất kép hàng năm thì giá hiện
tại của nhãn hiệu đó là 794 USD.
Công thức DCF như trình bày ở Đề tài này áp dụng kỹ thuật xác định giá trị
hiện tại của dòng tiền tương lai theo lãi suất kép.
- Vòng đời kinh tế (economic life) hay thời gian tồn tại hữu dụng của
nhãn hiệu
Trong công thức DCF, có một tham số được giải thích là số năm hữu dụng
còn lại của nhãn hiệu kể từ thời điểm định giá.Tham số đó phản ánh Vòng đời kinh
tế của nhãn hiệu.
Về nguyên tắc, vòng đời của nhãn hiệu không thể xác định được (infinite) do
nhãn hiệu có thể sử dụng không hạn chế về thời gian, tuy nhiên, nó cũng tuân thủ
quy luật phát triển gồm 4 giai
đoạn là khai sinh (introduction), phát triển (growth),
chín muồi (maturity) và giảm sút (decline).
Việc ước tính thời gian tồn tại hữu dụng của nhãn hiệu (tham số n) dựa trên
việc phân tích những tiêu chí sau đây:
+ Vòng đời sản phẩm: Một nhãn hiệu gắn trên một sản phẩm sắp sửa bị đào
thải do cạnh tranh, do sự phát triển của kỹ thuật … thì vòng đời của nhãn hiệu đó
gần như tương
đồng với vòng đời của sản phẩm.
22
+ Hiệu quả kinh tế của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại và so với
chính sản phẩm đó thời gian trước: Căn cứ vào doanh số bán hàng, tỷ suất lợi
nhuận mà ta có thể xác định một nhãn hiệu thuộc giai đoạn nào trong bốn giai đoạn:
trong một dải giá trị có thể xác định được.
- Nguyên tắc hoạt động
Để hiểu rõ phương pháp này hoạt động như thế nào, ta nghiên cứu một
trường hợp định giá một nhãn hiệu giả định.
Giả sử một nhãn hiệu được định giá dựa trên cách tiếp cận thu nhập, phương
pháp dòng tiền chiết khấu (DCF). Việc định giá dựa trên giả định:
+ Chưa có mộ
t kịch bản chắc chắn về mức thu nhập do nhãn hiệu mang lại
trong tương lai;
23
+ Có số liệu liên quan đến việc sử dụng nhãn hiệu trong quá khứ nhưng số
liệu đó không đủ để nhận định một cách chắc chắn chiều hướng lợi nhuận trong
tương lai;
+ Giả định là nhãn hiệu đó còn có thời gian sử dụng hữu ích là 5 năm nữa;
+ Các phân tích dự báo mức độ tăng trưởng doanh thu bằng không, tuy
nhiên, chủ sở hữu nhãn hiệu tin rằng mức tăng trưở
ng doanh thu phải đạt từ 3 đến
20%;
+ Được biết doanh thu hiện tại của sản phẩm mang nhãn là 1.000.000 USD,
chi phí bán hàng (COGS - Cost of goods sold) là 700.000 USD, trong khi các chi
phí khác khoảng 5% doanh thu;
+ Các chi phí hoạt động khác ở mức từ 5 đến 10%;
+ Chi phí bán hàng (COGS) có thể biến động trong khoảng từ 5 đến 10%;
+ Ta mặc định tỷ lệ chiết khấu là 15%.
Để đơn giản hóa việc tính toán, ta chỉ cho ba (03) tham số là doanh thu, chi
phí bán hàng (COGS) và chi phí hoạt động biến đổi theo những kịch bản khác
nhau.
Theo ph
ương pháp Monté Carlo, bằng phương trình DCF truyền thống, ứng
với mỗi một kịch bản khác nhau của mỗi tham số sẽ cho ra một kết quả khác nhau,
2003 2004 2005 2006 2007
Tham số
($000s) ($000s) ($000s) ($000s) ($000s)
Tổng doanh thu
Chi phí bán hàng1,000.0
717.0
1,118.0
803.0
1,250.0
900.0
1,398.0
1,002.01,563.0
1,124.0
Tổng lợi nhuận
Chi phí khác283.0
73.0
293.0
293.0
(87.9)324.0
324.0
(97.2)
Lợi nhuận thuần
Tham số đưa giá trị về hiện tại
6
(PV factor)
147.0
0.9
163.1
0.8
180.6
0.7
205.1
0.6226.8
0.5
franchise, phí li-xăng, nhãn hiệu có mức độ sinh lời biến động áp dụng phương
pháp DCF trình bày ở trên.
Giá trị thị trường tính theo phương pháp này được xác định theo công thức
sau:
V
=
I / R 6
Là kết quả sau khi áp dụng công thức chiết khấu để đưa giá trị trong tương lai về thời điểm định giá, đã
được trình bày ở phần trên