Đề tài : Xây dựng phương pháp định giá sáng chế áp dụng cho việt nam - Pdf 13



Đơn vị: Viện Khoa học sở hữu trí tuệ 7997
HÀ NỘI, 12/2009

2MỤC LỤC Trang

Mở đầu
3
Chương I.
Tổng quan về định giá sáng chế
3
MỞ ĐẦU

Định giá tài sản trí tuệ nói chung và sáng chế nói riêng là một lĩnh vực khá mới
mẻ và phức tạp đối với nhiều doanh nghiệp và đang ngày càng thu hút sự quan tâm của
cộng đồng quốc tế do vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế vĩ mô và vi
mô. Nếu như trước đây, vấn đề định giá tài sản trí tuệ (trong đó có sáng chế) chỉ được
đặt ra trong tình huống giải quyế
t tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhằm xác
định mức độ thiệt hại của chủ sở hữu do hành vi xâm phạm gây ra, thì từ khoảng hơn
một thập kỷ gần đây
1
, lĩnh vực định giá tài sản trí tuệ (đặc biệt là sáng chế) thực sự phát
triển nhanh chóng cả về phạm vi áp dụng lẫn mô hình tiếp cận định giá. Hoạt động định
giá tài sản trí tuệ ngày nay không chỉ được thực hiện đối với nhãn hiệu (brand
valuation) mà dường như đã được mở rộng tới tất cả các loại tài sản vô hình (intangible

u lý luận; nghiên cứu
kết quả khảo sát, tìm hiểu thực tiễn; phân tích và tổng hợp. Kết quả của Đề tài trước hết
được đề xuất áp dụng trong hoạt động dịch vụ định giá tài sản trí tuệ của Viện Khoa học
sở hữu trí tuệ. 1
Meir Perez Pugatch, “What is the Value of Your Patent? Theory, Myth and Reality”, 2007
2
Arthur Anderson, “The Valuation of Intangible Assets”, Special Report No.P254, The Economist Intelligence
Unit, London, 1992
3
Dr. Meir Perez Pugatch, “What is the value of your patent? Theory, myth and reality”, 2008
4
Ma Lianyuan, “Valuation of Intellectual Assets: Valuation Techniques, Parameters, Methodologies and
Limitations”, 11/2000

4
Chương I
TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ SÁNG CHẾ

I. Khái niệm về sáng chế; Lợi ích kinh tế của sáng chế; Mục đích, ý nghĩa
của việc định giá sáng chế
1. Khái niệm về sáng chế

Sáng chế (Invention) được hiểu là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc
quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
nhiên
5
. Sáng chế là sản phẩm của hoạt động trí tuệ, thuộc nhóm các sản phẩm sáng

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Điều 4.12).
6
Theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân chia các tài sản trí tuệ thành các nhóm sau đây: (i) Các tài sản trí tuệ là
sản phẩm sáng tạo khoa học kỹ thuật: là các đối tượng có bản chất khoa học/kỹ thuật, gồm: các thông tin - bí
quyết kỹ thuật (know-how), các sáng chế, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, các bản vẽ, bản thiết kế, công thức, dữ
liệu tính toán, dữ liệu thử nghiệm, phần mềm máy tính, cơ sở dữ li
ệu, công trình nghiên cứu, sách giáo khoa, đồ
án quy hoạch, sơ đồ bố trí/sắp xếp; giống cây trồng…; (ii) Các tài sản trí tuệ là sản phẩm sáng tạo văn học, nghệ
thuật, gồm: các tác phẩm văn học/âm nhạc/hội hoạ/mỹ thuật ứng dụng/sân khấu/điện ảnh; các tài sản trí tuệ là các
sản phẩm liên quan: các cuộc biểu diễn, trình diễn, các sản phẩm ghi âm/ghi hình…; (iii) Các tài sản trí tuệ là sản
phẩ
m sáng tạo kinh doanh, thương mại; bí mật thương mại, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ, tên
miền,… (Nguồn: TS. Phạm Đình Chướng, “Giới thiệu chung về tài sản trí tuệ và quản trị tài sản trí tuệ”, 2008)

5
Với những đặc tính nêu trên, đặc biệt là đặc tính “kiểm soát được” và “sinh
lợi”, sáng chế không chỉ là một loại tài sản mà còn có đầy đủ các thuộc tính của
hàng hóa
7
. Vì vậy, khái niệm “giá trị của sáng chế” cũng không nằm ngoài nội hàm
khái niệm “giá trị của hàng hóa” như sẽ được phân tích tại mục II.1 dưới đây.
Nhờ có đặc tính “sáng tạo, đổi mới”, sáng chế còn có khả năng trở thành một
đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam
8
, để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp - dưới hình thức cấp
Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích (Patent)- sáng chế
phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện tổng quát sau đây:
(i) Có tính mới;
(ii) Có trình độ sáng tạo; và

sáng chế. Do đó trong các tài liệu tham khảo liên quan, và trong Báo cáo này, thuật
ngữ “sáng chế” được hiểu theo nghĩa rộng nói trên.

7
Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị. Theo Karl Marx, “hàng hóa” là đồ vật có
hình dạng xác định, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người nhờ có các thuộc tính: hữu ích; có giá trị kinh
tế; và độ khan hiếm. Ngày nay, phù hợp với sự thay đổi và phát triển nhận thức trong đời sống kinh tế, khái niệm
“hàng hóa” được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là “tất cả những gì có khả năng trao đổi, mua bán trên thị
trường".
8
Luật Sở hữu trí tuệ (Điều 58.1).
9
Anna Boman & Jonas Larsson, “Patent Valuation in Theory and Practice”, 2003.

6
2. Lợi ích kinh tế của sáng chế
Khả năng mang lại lợi ích kinh tế của sáng chế không chỉ là thuộc tính vốn có
của loại tài sản này mà còn là thực tế không thể phủ nhận trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh trên bình diện vi mô và vĩ mô. Có nhiều ví dụ trong thực tế minh chứng
sáng chế có khả năng mang lại lợi ích kinh tế to lớn không chỉ cho doanh nghiệp mà
còn cho cả nền kinh tế quốc gia. Chẳng hạn
10
, sáng chế máy dệt tự động của Sakichi
Toyota (Nhật Bản) đã được chuyển giao cho Platt Brothers&Co. với giá tương
đương 25 triệu USD; sáng chế thuốc kháng sinh azythromycin (tên biệt dược:
Zithromax) của Công ty Pliva (Croatia) được chuyển giao cho hãng Pfizer (Hoa Kỳ)
và trở thành thuốc kháng sinh bán chạy nhất thế giới hiện nay với doanh số trên 1 tỷ
USD/năm; sáng chế kỹ thuật tái kết hợp ADN của Cohen-Boyer (Hoa Kỳ) là đối
tượng chuyển giao của hơn 300 thỏa thuận li-xă
ng với tổng lợi nhuận hàng trăm

là khảo sát PatVal-EU) là một trong số ít công trình nghiên cứu như vậy. Đối tượng
khảo sát PatVal-EU là các tác giả sáng chế (inventors) của các bằng độc quyền sáng
chế châu Âu thuộc sáu nước sau đây: Đức, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan và

10
Kamil Idris, WIPO, “Intellectual Property, a Powerful Tool for Economic Development”, 2004
11
Dr. Lindsay Moore, Mrs. Lesley Craig, Esq., “Towards a Strategy of Valuing Patents as Intellectual Capital”,
2003.
12
Marco Ceccagnoli, et al., Final Report on “The Value of Patents for Todays Economy and Society”, 09/5/2005

7
Italia. Kết quả khảo sát được tổng hợp từ năm 2003-2004, theo đó giá trị trung bình
của sáng chế thuộc các nước trên là 6,358 triệu Euro, trong đó có 7,2% sáng chế có
giá trị trên 10 triệu Euro, 16,8% sáng chế có giá trị trên 3 triệu Euro và 15,4% sáng
chế có giá trị từ 1-3 triệu Euro. Các sáng chế có giá trị trên 10 triệu Euro chủ yếu
thuộc năm lĩnh vực công nghệ vĩ mô sau đây: hóa học và dược phẩm (11,71%), công
nghệ chế biến (6,75%), điện (6,22%), cơ khí (6,10%) và thiế
t bị (5,60%). Tây Ban
Nha, Anh và Hà Lan là ba nước có nhiều sáng chế có giá trị nhất: 12,79% sáng chế
có giá trị trên 10 triệu Euro thuộc về Tây Ban Nha, 11,12% thuộc về Anh và 8,86%
thuộc về Hà Lan, tiếp theo là Italia (7,68%), Pháp (5,58%) và Đức (5,19%). Cũng
theo kết quả khảo sát nói trên, đối với những sáng chế có giá trị trên 10 triệu Euro,
chủ sở hữu sáng chế chủ yếu là các phòng thí nghiệm thuộc chính phủ (government
laboratories) - chiếm 10,00%, các viện nghiên cứu tư nhân phi lợi nhuận (private
non-profit research institutes) - chiếm 9,25%, các công ty lớn (large companies) -
chiếm 7,51%, còn lại là các doanh nghi
ệp vừa và nhỏ, trường đại học, cá nhân…
Thực tiễn cho thấy rằng với khả năng với tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế,

. Nguyên nhân
của thực trạng này chủ yếu là do thiếu kiến thức về định giá sáng chế, hoặc còn tồn

13
Samuel, T. htttp://www.pwcglobal.com/Extweb, 18/11/2002

8
tại sự hoài nghi cao độ về khả năng xác định được giá trị của sáng chế cũng như độ
tin cậy của kết quả định giá. Một khó khăn khác dẫn đến thực trạng này là đặc tính
“độc nhất” của sáng chế khiến cho việc tính toán và thẩm định các khía cạnh kỹ
thuật, thương mại và kinh tế của sáng chế được định giá có độ ổn định/chắc chắ
n
không cao. Vì vậy, ban đầu giá trị của sáng chế thường chỉ được xác định trong
những tình huống tranh chấp, xâm phạm đòi hỏi phải tính toán mức độ thiệt hại và
bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, thực tiễn ngày nay cho thấy rằng giá trị của sáng chế
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong giá trị thị trường của doanh nghiệp; những doanh
nghiệp sở hữu càng nhiều sáng chế có giá trị càng chứ
ng tỏ doanh nghiệp đó có khả
năng hoạch định chiến lược quản trị tài sản trí tuệ/sáng chế một cách đúng đắn cũng
như khả năng củng cố, phát triển vị thế chiếm lĩnh thị trường. Vì vậy, nhu cầu định
giá sáng chế trở nên thay đổi theo hướng không chỉ giới hạn ở lĩnh vực tố tụng mà
đã mở rộng sang nhiề
u lĩnh vực khác như tài chính, kế toán, ngân hàng, quản trị kinh
doanh… và ngày nay định giá sáng chế được coi là một trong những nội dung không
thể thiếu trong chiến lược quản trị tài sản trí tuệ trên cả bình diện vi mô và vĩ mô.
Nói chung, mục đích chủ yếu của việc định giá bất kỳ loại tài sản trí tuệ nào,
trong đó có sáng chế, là nhằm xác định chính xác, đầy đủ và khách quan giá trị của
tài sản đó, từ
đó giúp chủ sở hữu/người quản trị tài sản đó đưa ra quyết định quản trị
tối ưu

4. Góp vốn đầu tư, liên doanh hay liên minh Xác định chính xác giá trị phần sở hữu tương ứng

14
Hungary Patent Office, Pro Inno Europe, Student Handbook, “Valuation of Intellectual Property”, 2008
15
WIPO, “Valuation of Intellectual Property: What, Why and How”, WIPO Magazine 9-10/2003

9

STT
Mục đích định giá sáng chế Diễn giải
chiến lược (joint venture, strategic
alliance)
trên cơ sở vốn góp bằng sáng chế của doanh
nghiệp trong dự án đầu tư hoặc liên doanh, liên
kết kinh doanh.
5. Cổ phần hoá, phát hành cổ phiếu
(shareholders)
Xác định giá trị của doanh nghiệp và tài sản của
doanh nghiệp khi tham gia cổ phẩn hoá hoặc phát
hành cổ phiếu ra công chúng.
6. Ký quỹ (thế chấp), chứng khoán hóa
(collateralization, securitization)
Các ngân hàng tại một số quốc gia có xu hướng
chấp nhận các sáng chế làm vật ký quỹ để cho
vay với điều kiện xác định được giá trị của sáng
chế đó.
7. Hỗ trợ giải quyết tranh chấp (litigation) Xác định mức độ (giá trị) thiệt hại do hành vi
xâm phạm quyền đối với sáng chế, xác định giá
trị hàng xâm phạm; hỗ trợ giải quyết tranh chấp

ệc thúc đẩy hoạt động
chuyển giao công nghệ, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ thương mại công nghệ ngày
càng chiếm tỷ trọng tăng dần trong thương mại quốc tế, do các bên tham gia đàm
phán sẵn sàng ký kết thỏa thuận chuyển giao công nghệ trên cơ sở đã xác định rõ

16
Ma Lianyuan, “Valuation of Intellectual Property Assets: Valuation Techniques, Parameters, Methodologies
and Limitations”, 11/2000

10
ràng giá trị của công nghệ được chuyển giao; việc thúc đẩy hoạt động đầu tư vào các
ngành công nghiệp, trong đó sáng chế có giá trị được xác định và được coi là một
phần/toàn bộ tài sản đầu tư liên quan đến việc thành lập các doanh nghiệp hoặc liên
doanh hoạt động trong những ngành công nghiệp mới.

II. Tổng quan về các cách tiếp cận định giá sáng chế
1. Một số khái niệm về giá trị và định giá sáng chế

Theo tác giả Boer, F.P.
17
, “định giá được hiểu là việc gán một lượng tiền tệ
nhất định vào đối tượng được định giá”. Theo tác giả Rick Neifeld
18
, “định giá là
một thuật ngữ kế toán dùng để chỉ tổng số tiền phải trả để nhận được những lợi ích
trong tương lai của một tài sản vào thời điểm nhất định”. Trong lĩnh vực sáng chế,
theo tác giả Robert Pitkethly
19
, “định giá bằng độc quyền sáng chế hoặc đơn đăng ký
sáng chế hoàn toàn liên quan tới việc đưa ra quyết định về tương lai giống như việc

17
Boer F.P., “The real options solution - Finding value in a high-risk world”, John Wiley & Sons Inc., 2002
18
Rick Neifeld, “Patent Valuation from a Practical View Point, and Some Interesting Patent Value Statistics from
the PatentValuePredictor Model”, 2009
19
Robert Pitkethly, “The Valuation of Patents: A Review of Patent Valuation Methods with Consideration of
Option Based Methods and the Potential for Further Research”, 1997
20
Patent Hawk, “Patent Valuation Theory”, 2009
21
Ma Lianyuan, “Valuation of Intellectual Assets: Valuation Techniques, Parameters, Methodologies and
Limitations”, 30/10/2009

11
trong đó thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động xã hội trung bình
để tạo ra hàng hóa tương ứng. Theo khái niệm này, lượng giá trị của hàng hóa chịu
ảnh hưởng của ba yếu tố cơ bản: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ
phức tạp của lao động.
Bất kỳ hàng hóa nào cũng đều có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng
(Use
Value) của hàng hóa được hiểu là tính hữu ích, hoặc tính năng/công dụng của hàng
hóa đó nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định của việc sản xuất/kinh doanh hoặc tiêu
dùng cá nhân. Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên (vốn
có) của hàng hóa và những thuộc tính do con người tạo ra cho hàng hóa đó.
Nếu hàng hóa được trao đổi trên thị trường thì hàng hóa đó có thêm giá trị trao
đổi. Giá trị trao đổi
(Exchange Value) lấy giá trị sử dụng làm cơ sở, là tỷ lệ theo đó
một lượng giá trị sử dụng của loại hàng hóa này được trao đổi với một lượng giá trị
sử dụng của loại hàng hóa khác; tỷ lệ này được quyết định bởi lao động (gồm thời

tương lai của quyền sở hữu sáng chế được gộp lại để thanh toán một lần. Còn theo
Patent Hawk
23
, “giá trị thị trường của bằng độc quyền sáng chế hoàn toàn là sự tính

22
Gordon V. Smith & Russel L. Parr, “Valuation of Intellectual Property and Intellectual Assets”, 3
rd
ed., John
Wiley & Sons, Inc., 2000
23
Patent Hawk, “Patent Valuation Theory”, 2009

12
toán thu nhập tiềm năng của sản phẩm hoặc dịch vụ có sử dụng sáng chế được cấp
bằng độc quyền sáng chế”… Một cách tổng quát, giá trị của sáng chế được xác định
bởi lợi ích kinh tế trong tương lai do sáng chế mang lại được quy về thời điểm hiện
tại.
2. Những nguyên tắc kinh tế chi phối việc định giá sáng chế
Như đã đề cập ở trên, giá trị của sáng chế được biểu hiện bằng giá cả của sáng
chế trên thị trường, do đó chịu tác động bởi các yếu tố nội tại như giá trị sử dụng
(tính hữu ích) của sáng chế, tuổi đời kinh tế của sáng chế và các yếu tố ngoại lai
như nhu cầu, khả năng thanh toán của người mua sáng chế, tình hình thị trườ
ng công
nghệ thuộc lĩnh vực của sáng chế (mật độ sáng chế tương tự) Vì vậy, quá trình
định giá sáng chế đòi hỏi sự phân tích các yếu tố tác động nói trên đến sự hình thành
giá trị của sáng chế, nói cách khác là cần phải xem xét mối quan hệ kinh tế giữa các
yếu tố đó với giá trị của sáng chế. Mối quan hệ đó chịu sự chi phối bởi những
nguyên tắc kinh tế c
ơ bản sau đây.

định chính xác lượng giá trị của sáng chế.

13
(iv) Nguyên tắc thay thế
Trong trường hợp có sự tồn tại của hai hay nhiều sáng chế có thể thay thế lẫn
nhau trong quá trình sử dụng, thì giá trị của những sáng chế đó được xác định bởi sự
tác động lẫn nhau giữa sáng chế này với sáng chế kia; nói cách khác, giá trị của sáng
chế được định giá chịu tác động bởi giá trị của những sáng chế thay thế khác. Giá trị
tối đa của sáng ch
ế có xu hướng được thiết lập bởi chi phí mua sáng chế thay thế. Đây
là yếu tố cần được xem xét nếu quá trình định giá sáng chế có áp dụng nguyên tắc thay
thế.
(v) Nguyên tắc thu nhập tăng hoặc giảm
Theo nguyên tắc này, thu nhập do sáng chế mang lại có xu hướng tăng liên tục
tương ứng với khoản đầu tư tăng lên cho việc sử dụng sáng chế; tuy nhiên, sự gia tăng
của thu nhập chỉ có gi
ới hạn (ngưỡng) nhất định, vượt qua ngưỡng đó thì mặc dù đầu
tư tiếp tục tăng nhưng thu nhập tăng thêm sẽ giảm dần. Vì vậy, trong quá trình định giá
sáng chế cần phải xem xét mối tương quan giữa đầu tư (chi phí) và thu nhập nhằm bảo
đảm tuân thủ nguyên tắc này.
(vi) Nguyên tắc đóng góp
Theo nguyên tắc này, mức độ đóng góp của sáng chế vào tổng thu nhập từ sản
phẩm là yếu tố tác động đến giá trị của sáng chế; nói cách khác tổng thu nhập từ một
sản phẩm phụ thuộc vào sự có mặt hoặc vắng mặt của sáng chế đó. Vì vậy, giá trị của
sáng chế có thể được xác định bằng lượng thu nhập chênh lệch từ sản phẩm có sử dụng
sáng chế và không sử dụng sáng chế trong điều kiện sáng chế đượ
c sử dụng ở mức độ
tốt nhất và có hiệu quả nhất.
(vii) Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, lợi nhuận cao vượt trội sẽ thúc đẩy cạnh tranh, ngược lại

. Trong hầu hết tài liệu tham khảo về định
giá trong kinh doanh
25
, có bốn cách tiếp cận (nhóm phương pháp) định giá sáng chế
được thừa nhận rộng rãi, đó là: cách tiếp cận định giá dựa trên chi phí, cách tiếp cận
định giá dựa trên thị trường, cách tiếp cận định giá dựa trên thu nhập, và cách tiếp
cận định giá dựa trên quyền chọn. Các cách tiếp cận nói trên bao gồm các phương
pháp định lượng (quantitative method) nhằm tính toán giá trị bằng tiền của sáng chế
ở thời điểm hi
ện tại. Nội dung cơ bản của các cách tiếp cận nói trên như sau.
3.1. Cách tiếp cận chi phí (Cost based approach)

Cách tiếp cận chi phí xác định giá trị của một sáng chế bằng cách tính toán
tổng chi phí phát sinh mà một doanh nghiệp bỏ ra để tạo ra và phát triển sáng chế
tương đương của doanh nghiệp đó hoặc của doanh nghiệp khác. Tổng chi phí để tạo
ra và phát triển sáng chế được coi là một trong những yếu tố quyết định giá trị của
sáng chế đó.
Cách tiếp cận chi phí gồm có ba phương pháp sau đây:
(i) Ph
ương pháp chi phí quá khứ (Historic cost)
Phương pháp này xác định tổng chi phí phát sinh trong quá khứ để tạo ra và
phát triển sáng chế so sánh đồng nhất với sáng chế cần định giá vào thời điểm sáng
chế cần định giá được tạo ra và phát triển.
Trên thực tế phương pháp này không được áp dụng phổ biến do đặc tính “độc
nhất” của sáng chế cần định giá nên hiếm khi tồn tại một sáng chế khác giống hệt để
tiến hành so sánh. Tuy nhiên, việc tính toán các chi phí quá khứ cho sáng chế thường
được thực hiện để phục vụ cho việc xác định chi phí tái tạo theo phương pháp (ii)
dưới đây.
(ii) Phương pháp chi phí tái tạo (Replication cost)
Phương pháp này xác định tổng chi phí đầu tư để tạo ra và phát triển sáng chế

COR là chi phí thay thế (Cost of Replacement)
PD là mức hao mòn tự nhiên
FO là mức hao mòn chức năng
EO là mức hao mòn kinh tế
Trong Công thức (C1) và (C2) nói trên, các số hạng PD, FO, EO xuất hiện khi
xác định được mức độ hao mòn tương ứng. Chẳng hạn, nếu không có hoặc không
tính toán được mức hao mòn tự nhiên (PD) và mức hao mòn kinh tế (EO), thì mức
độ hao mòn của sáng chế chỉ được xác định theo hao mòn chức năng (FO).
Các chi phí (tái tạo hoặc thay thế) nói trên thường được xác định bao gồm các
chi phí cơ bản sau đây
27
:
- Chi phí trực tiếp: Chi phí cho đơn đăng ký sáng chế (application), bao gồm
chi phí nộp đơn, thẩm định, cấp bằng độc quyền, dịch thuật tài liệu, chi phí thuê luật
sư/đại diện; Chi phí duy trì hiệu lực bằng độc quyền sáng chế (maintenance); Chi
phí bảo vệ (defending) và thực thi (enforcement) quyền đối với sáng chế…
- Chi phí gián tiếp: Chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D expenses), bao gồm
chi phí cho nhân lực, nguồn cung cấp đầu vào, thi
ết bị kiểm tra và thí nghiệm, quá
trình thử nghiệm, thông tin/dữ liệu, năng lượng; Chi phí công bố (publication),
thông báo (signaling); Chi phí sản xuất (production), tiếp thị (marketing), bao gồm
chi phí mua sắm máy móc/công cụ sản xuất, chi phí sản xuất ban đầu, chi phí phát
triển sản xuất, chi phí đào tạo nhân lực; chi phí mua (procurement) sáng chế (theo li-
xăng chéo)…

26
Gordon Smith, “Assessment and Valuation of Inventions and Research Results for Their Use and
Commercialization”, 4/2002
27
Stephan Hundertmark, “Cost Approach”, 2/2008


- Nhân lực 96.000 48.000
- Nguồn cung cấp đầu vào
(consumable supply)
45.000 51.100
- Trang thiết bị thí nghiệm, thử
nghiệm
12.000 62.500
- Tiến hành thử nghiệm 0 74.000
- Thông tin/dữ liệu 18.000 6.500
- Năng lượng (energy) 3.000 1.900
Tổng cộng (1) 174.000 244.000
2. Chi phí thực hiện (sử dụng sáng
chế)

- Mua sắm công cụ sản xuất
(production tool development)
4.100 12.700 36.883
- Khởi động sản xuất (initializing
production)
0 12.571 40.571
- Phát triển sản xuất (production
ramp up)
0 0 110.000
- Đào tạo (training) 44.000 23.000 34.500
Tổng cộng (2) 48.100 48.271 221.954

28
Stephan Hundertmark, “Cost Approach”, 2/2008


tiềm năng (trong tương lai) của sáng chế đó: nhiều sáng chế được tạo ra/phát triển
với chi phí tốn kém nhưng lại không phải là những sáng chế có giá trị kinh tế tương
xứng chi phí đã bỏ ra, ngượ
c lại có những sáng chế vẫn duy trì khả năng mang lại
giá trị to lớn đối với doanh nghiệp sau nhiều năm sử dụng mặc dù chi phí cho sáng
chế đó giảm dần theo thời gian. So với các cách tiếp cận định giá khác, cách tiếp cận
chi phí hoàn toàn không xem xét tới lợi ích kinh tế tương lai mà sáng chế có khả
năng mang lại. Một nhược điểm khác của cách tiếp cận chi phí là thường chỉ xem
xét các dòng tiền ra (chi phí) trong quá khứ
mà không xem xét tới khả năng thích
ứng của sáng chế với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ trong hiện tại và
tương lai. Hơn nữa, không phải lúc nào cũng có thể có được thông tin chính xác về
chi phí tạo ra/phát triển sáng chế so sánh tương đương cũng như chưa có sự thống
nhất rõ ràng về loại chi phí nào được coi là thuộc chi phí tạo ra/phát triển sáng chế.

18
Trong thực tế, cách tiếp cận chi phí thường được sử dụng trong lĩnh vực kế
toán hoặc các nghiệp vụ tài chính khác tuân theo các quy tắc kế toán. Vì vậy, cách
tiếp cận này chỉ hữu ích trong trường hợp được áp dụng nhằm mục đích kế toán
hoặc nhằm bổ trợ cho cách tiếp cận thu nhập (đối chiếu kết quả), và cũng chỉ thích
hợp trong hệ thống kế toán dựa trên chi phí quá khứ ho
ặc khi phương pháp tính thuế
quy định phải áp dụng phương pháp này.

3.2. Cách tiếp cận thị trường (Market based approach)

Cách tiếp cận thị trường xác định giá trị của một sáng chế bằng cách so sánh
với mức giá được các bên độc lập (không phụ thuộc) với nhau thỏa thuận trong giao
dịch về một sáng chế tương đương vào thời điểm gần nhất. Mức giá của sáng chế
theo thỏa thuận nói trên trong thị trường tích cực (active market) được coi là giá trị

i
. r
i
) / n (C3)
i=1

29
Grünewald, Dr.rer.nat, Alexander Wurzer, “Reasons for Patent Valuation”, 4/2007

19
trong đó: V là giá trị của sáng chế
S
i
là thu nhập từ sáng chế thứ i (i = 1÷n)
r
i
là tỷ suất phí li-xăng của sáng chế thứ i (i = 1÷n)
n là số lượng sáng chế so sánh tương đương
Trong trường hợp không có thông tin về tỷ suất phí li-xăng sáng chế so sánh
tương đương, người ta thường áp dụng Quy tắc 25% (25 percent rule, hoặc rule of
thumb)
30
. Theo quy tắc này, bên giao li-xăng được nhận 25% tổng lợi nhuận (gross
profit) mà bên nhận li-xăng thu được từ việc sử dụng/khai thác sáng chế, còn bên
nhận li-xăng được nhận 75% tổng lợi nhuận để bù đắp rủi ro và những nỗ lực tài
chính trong việc phát triển, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm
31
.
Ví dụ
:

31
Dr. John Turner, “Valuation of Intellectual Property Assets: Valuation Techniques, Parameters, Methodologies
and Limitations”, 11/2000
32
Tỷ suất phí li-xăng trung bình trong một lĩnh vực công nghệ cụ thể chủ yếu được xác định trên cơ sở kết quả
điều tra/khảo sát thị trường công nghệ liên quan, và/hoặc thông tin/dữ liệu do cơ quan quản lý lĩnh vực tương ứng
cung cấp, và/ hoặc do các tổ chức/hãng/công ty hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ,
định giá tài sản trí tuệ cung cấp. Theo tác giả Thomas Giordano (“Royalty Rates in Intellectual Property
Valuation”, 10/2003), có một s
ố nguồn cơ sở dữ liệu sau đây chuyên cung cấp thông tin về tỷ suất phí li-xăng
phục vụ hoạt động định giá sáng chế: (i) fvginternational.com của The Financial Valuation Group; (ii)
royaltysource.com của Royalty Source, hoặc ausinc.com của Licensing Economics Review; (iii) pl-x.com của
PLX Systems; và (iv) consor.com của Consor Intellectual Asset Management.

20
Ưu điểm của cách tiếp cận thị trường là xác định trực tiếp giá trị của sáng chế
theo giá trị thị trường (do thị trường quyết định). Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng
bộc lộ một số hạn chế. Nhược điểm quan trọng của cách tiếp cận này là đòi hỏi phải
có thị trường tích cực, có sự trao đổi khách quan giữa các bên có mối quan hệ
độc
lập với nhau và có khả năng tiếp cận đầy đủ thông tin về mức giá được giao dịch.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy khó có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện nói trên (đặc
biệt là hầu hết các sáng chế hiện nay không được mua hoặc bán trên cơ sở thỏa
thuận hợp lý (arm’s length negotiation), do đó không có phí li-xăng được xác định
một cách khách quan
33
). Một hạn chế khác là dường như không thể so sánh trực tiếp
hai sáng chế với nhau do đặc tính “độc nhất” của sáng chế (hiếm khi tồn tại hai sáng
chế trùng nhau hoặc tương đương với nhau để so sánh). Hơn nữa, việc so sánh như
vậy chứa đựng rủi ro (độ chính xác thấp) vì có khả năng tiềm năng thương mại của

Rick Neifeld, Ph.D., Patent Attorney, “Patent Valuation from a Practical View Point, and Some Interesting
Patent Value Statistics from the PatentValuePredictor Model”, 2009

21
Cách tiếp cận thu nhập được coi là thế hệ thứ hai của các mô hình định giá tài
sản trí tuệ
34
. Như đã đề cập ở trên, giá trị của sáng chế được xác định dựa vào khả
năng tạo ra thu nhập trong tương lai của sáng chế đó. Vì vậy, nhằm xác định giá trị
của một sáng chế, cách tiếp cận thu nhập xác định lợi ích kinh tế tiềm năng trong
tương lai của sáng chế đó. Cách tiếp cận này xem xét ba yếu tố
chủ yếu sau đây:
dòng tiền thuần (net cash flow), thời gian có dòng thu nhập (duration of income
streams), và tỷ suất chiết khấu (discounted rate). Thuộc mô hình tiếp cận này lại có
nhiều phương pháp khác nhau tùy thuộc vào lý do (mục đích) định giá và lĩnh vực
công nghệ tương ứng của sáng chế. Trong số đó, các phương pháp sau đây được áp
dụng phổ biến hơn cả trong thực tiễn:
(i) Phương pháp dòng tiền chiết khấ
u (Discounted Cash Flow - DCF)
Phương pháp này được coi là phương pháp định giá cơ bản và phổ biến nhất
vì cho kết quả đáng tin cậy hơn so với các phương pháp khác
35
. Phương pháp này
xác định giá trị của sáng chế bằng cách tính toán giá trị hiện tại của các dòng tiền
trong tương lai thu được từ sáng chế trong suốt tuổi đời kinh tế (đời sống hữu ích)
của sáng chế đó. Vì vậy, cách tính toán tập trung vào việc xác định các dòng tiền
trong tương lai (future cash flows) từ sáng chế, sau đó chiết khấu các dòng tiền đó
theo tỷ suất chiết khấu (discount rate) để có được giá trị hiệ
n tại (present value) của
sáng chế.

của mô hình tiếp cận dựa trên thu nhập, bao gồm giá trị tương lai và giá trị hiện tại
của tiền. Thực tiễn của hoạt động kinh tế đã chỉ ra mối quan hệ giữa giá trị tương lai
và giá trị hiện tại của tiền, theo đó một đồng tiền ngày hôm nay có giá trị cao hơn
một
đồng tiền trong tương lai và ngược lại
37
. Trong quản trị tài chính, có thể dự
báo/ước tính những dòng tiền (tức là một khoản tiền bỏ ra - dòng tiền ra, hoặc nhận
được - dòng tiền vào) khác nhau trong tương lai; tuy nhiên, vì không thể so sánh
được những lượng giá trị tương ứng với tương lai khác nhau, người ta thường sử
dụng giá trị hiện tại của tiền làm cơ sở định giá. Việc xác định giá trị hiện tại của
tiền có thể là xác
định giá trị hiện tại của dòng tiền đều (nghĩa là có những khoản
tiền - thu nhập hoặc chi phí - bằng nhau xuất hiện ở mỗi giai đoạn của đường thời
gian), hoặc giá trị hiện tại của dòng tiền biến thiên (nghĩa là có những khoản tiền
khác nhau xuất hiện ở mỗi giai đoạn của đường thời gian). Với giả định rằ
ng các
dòng tiền xuất hiện vào cuối mỗi giai đoạn, giá trị hiện tại của dòng tiền được xác
định theo công thức sau đây:
- Trường hợp dòng tiền đều:
n
PVA = CF . ∑ (1/1+i)
t
(C4)

t=1
trong đó: PVA là giá trị hiện tại của các dòng tiền đều (Present
Value of Annuity) trong n giai đoạn (năm);
CF là dòng tiền (Cash Flows)
t là năm thứ t (t= 1÷n)

23
Hai công thức (C4) và (C5) nói trên thường được áp dụng để định giá sáng chế
theo cách tiếp cận thu nhập dựa trên dòng tiền chiết khấu, trong đó công thức xác
định giá trị hiện tại của sáng chế trên cơ sở dòng tiền biến thiên (Công thức (C5)) là
công thức tổng quát. Theo công thức này, giá trị hiện tại của sáng chế phụ thuộc vào
ba biến số sau đây: dòng tiền; tỷ suất chiết khấu; và tuổi đời kinh tế c
ủa sáng chế.
Các biến số này được xác định như sau:
- Dòng tiền (CF): được hiểu là thu nhập (hoặc thu nhập ròng) trong tương lai
do sáng chế mang lại trong một số năm nhất định (tương ứng với tuổi đời kinh tế của
sáng chế). Do đó, việc xác định dòng tiền từ sáng chế chủ yếu dựa trên cơ sở dự báo
(ước tính). Tuy nhiên, trong quá trình định giá sáng chế, cần có sự phân biệt thu
nh
ập do khối tài sản (bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình, trong đó có sáng
chế) mang lại, từ đó tính toán thu nhập từ sáng chế bằng cách bóc tách khỏi thu nhập
từ cả khối tài sản đó; nói cách khác, giá trị của sáng chế là lượng giá trị còn lại sau
khi lấy giá trị của toàn bộ khối tài sản trừ đi giá trị của các tài sản khác;
- Tỷ suất chiết khấu (i): là một biến số dùng để quy đổ
i giá trị tương lai của
dòng tiền về thời điểm hiện tại. Theo tác giả John Turner
38
, tỷ suất chiết khấu gồm
có ba yếu tố thành phần, đó là tỷ suất rủi ro (risk rate), tỷ giá hối đoái (exchange
rate) và tỷ lệ lạm phát (inflation rate); hoặc theo tác giả Ma Lianyuan
39
, tỷ suất chiết
khấu cũng gồm có ba thành phần, đó là tỷ suất phi rủi ro (risk-free rate), tỷ suất rủi
ro tài chính (risk-taking rate) và tỷ lệ lạm phát (inflation rate); hoặc theo tác giả
Stephan Hundertmark
40


24
Căn cứ vào thông tin/dữ liệu trong tình huống/bài toán định giá, xác định giá trị
của sáng chế X biết rằng tuổi đời kinh tế của X là 5 năm (từ 2009-2013), tỷ suất lợi
nhuận phi rủi ro là 3,5%, phụ phí (tỷ suất) rủi ro là 12%, doanh thu và chi phí tương
ứng liên quan tới Sáng chế X từ năm 2009 đến năm 2013 được thể hiện tại bảng sau
đây:
Đơn vị: Euro
Năm 2009 2010 2011 2012 2013
Doanh thu 5.000 22.500 64.000 89.500 81.000
Chi phí 45.500 3.750 1.800 1.750 1.000
Giá trị hiện tại của sáng chế X được xác định như sau:
- Thu nhập ròng từ sáng chế từ năm 2009-2013 là:
Đơn vị: Euro
Năm 2009 2010 2011 2012 2013
Doanh thu 5.000 22.500 64.000 89.500 81.000
Chi phí 45.500 3.750 1.800 1.750 1.000
Thu nhập ròng (CF
t
)
(= Doanh thu - Chi phí)
-40.500 18.750 62.200 87.750 80.000
- Tỷ suất chiết khấu (i) và thừa số giá trị hiện tại được xác định như sau:
Tỷ suất chiết khấu = 3,5% + 12% = 15,5%
Thừa số giá trị hiện tại: năm 2009 = 1/(1+0,155)
0
= 1
năm 2010 = 1/(1+0,155)
1
= 0,8658

sinh phẩm (đặc biệt là quá trình thử nghiệm). Vì vậy, theo phương pháp này, các
dòng tiền ở mỗi giai đoạn của quá trình tạo ra/phát triển sáng chế được điều chỉnh
rủi ro theo tỷ lệ xác suất (probability rates) được ấn định dựa trên các chỉ số thống
kê mức độ rủi ro c
ủa ngành công nghiệp liên quan. Các dòng tiền sau khi được điều
chỉnh rủi ro được chiết khấu về thời điểm hiện tại như cách tiếp cận DCF.
(iii) Phương pháp tiết kiệm phí li-xăng (relief from royalty)
Theo phương pháp này, giá trị của sáng chế được xác định trên cơ sở phí li-
xăng mà doanh nghiệp phải trả cho bên thứ ba theo thỏa thuận (giả định) để được
chuyển giao quyền sử dụng đố
i với sáng chế tương đương, với giả định rằng giá trị
của sáng chế được li-xăng tương đương với phí li-xăng mà các doanh nghiệp khác
sẵn lòng chi trả để được sử dụng sáng chế đó. Nói cách khác, tiền phí li-xăng mà
doanh nghiệp không phải bỏ ra để có được quyền sử dụng sáng chế so sáng tương
đương được coi là khoản thu nhập từ sáng chế cần định giá của doanh nghiệp. Vì
v
ậy, nhằm xác định chính xác khoản thu nhập này, ngoài việc phải xác định mức phí
li-xăng, phương pháp này đòi hỏi phải dự báo doanh số bán một cách đáng tin cậy
để xác định dòng thu nhập trực tiếp từ sáng chế. Sau đó, phí li-xăng (thu nhập) được
chiết khấu theo tỷ suất chiết khấu thích hợp bằng cách tiếp cận DCF nêu trên.
Đôi khi phương pháp này được xếp vào nhóm cách tiếp cận thị trường
42

(phương pháp phí li-xăng so sánh). Cách xác định mức phí li-xăng theo phương
pháp này tương tự như mục 3.2.(iii) trên đây.
(iv) Phương pháp yếu tố công nghệ (technology factor)
Phương pháp này trước hết tính toán giá trị hiện tại ròng phi rủi ro (risk-free
net present value) đối với sáng chế (tương tự như cách tiếp cận DCF) và nhân giá trị
này với “yếu tố rủi ro” (risk-factor) hay “yếu tố công nghệ” (technology factor, hoặc
yếu tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status