Đề án môn học
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
--------------------************-------------------
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế
đề án môn học
Đề tài:
hội nhập afta,cơ hội và thách thức với công ty bóng đèn-
phích nớc rạng đông
Giáo viên hớng dẫn:th.s Bùi Huy Nhợng
Sinh viên :Nguyễn Thạc Lợi
Lớp :KDQT
Khoá :42
Hệ : chính quy
Hà Nội 2003
Lời mở đầu
Nguyễn Thạc Lợi-KDQT42
Đề án môn học
ở cửa và hội nhập với các nớc trong khu vực và trên toàn thế giới
đang là xu thế tất yếu mà mọi nền kinh tế đều bị cuốn hút vào.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã cam kết tham gia khu vực mậu
dịch tự do ASEAN AFTA(Asean Free Trade Area) ngay khi trở thành thành
viên chính thức của ASEAN từ ngày 28/7/1995 .Nội dung chính của AFTA là việc
thực hiện cắt giảm thuế quan đối với sản phẩm xuống còn 0-5% theo chơng trình u
đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT(Common Effective Preferential
Tariffisheme ) , thực hiện loại bỏ các hàng rào thơng mại phi thuế quan đối với
hàng hoá xuất khẩu ,bỏ các rào cản đối với đầu t nớc ngoài ,hợp tác trong lĩnh vực
hải quan ,đảm bảo lu thông các loại hàng hoá trong khu vực một cách thông
M
thoáng . Vì là thành viên mới, Việt Nam đợc phép hoàn thành CEPT chậm hơn các
động thời kì đổi mới(2000)vẫn sản xuất ổn định ,liên tục phát triển với tốc độ
cao ,chủ động bớc vào lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.1 Năm năm đầu t đổi mới
Đó là chơng trình đi tắt , đón đầu hiện đại hoá công nghệ sản xuất đa dạng
hoá sản phẩm của Công ty đợc thực hiện liên tục từ năm 1998 đến 2002 , với tổng
vốn đầu t 120 tỷ đồng ,trong đó nội lực cán bộ công nhân viên(CBCNV) Công ty
đóng góp 68 tỷ đồng .Động lực và mục tiêu đổi mới đã thúc giục cộng đồng Công
ty bắt tay ngay vào ba chơng trình cụ thể , quyết định vận mệnh sống còn của
mình trên thơng trờng . Một là chơng trình đầu t dây chuyền sản xuất đèn huỳnh
quang Compact . Đây là dây chuyền hoàn chỉnh đầu tiên có mặt tại Việt Nam . Sau
một thời ngắn , lắp đặt và chạy thử , đúng dịp kỷ niệm ngày giải phóng Thủ đô
10/10/2002 Công trình Dây truyền đầu t sản suất đèn huỳnh quang Compact tiết
kiệm điện năng đợc cắt băng khánh thành , chính thức đi vào hoạt động . Tiếp đó
là chơng trình đa dạng hoá chủng loại sản phẩm chuẩn bị xuất khẩu , công ty đã
tự thiết kế chế tạo đợc một dây chuyền sản xuất ruột phích nối thân theo công
nghệ Nhật Bản , có năng lực sản xuất một triệu sản phẩm phích cao cấp /năm. Chỉ
trong thời gian 9 tháng cuối năm 2002 , Công ty đã cho ra đời hơn mời loại sản
phẩm phích cao cấp nh phích ấn , phích có cốc lọc trà đa dạng mẫu mã , phích
cháo , phích cốc . Công trình cuối cùng trong chơng trình năm năm hiện đại hoá
của Công ty là dây chuyền sản xuất chấn lu với máy dập thép Silic đạt trình độ
trung bình tiên tiến trong khu vực , với công suất 500 lần dập /phút , thay thế việc
trớc đây vật t này do đơn vị bên ngoài cung cấp với giá cao , lại thờng xuyên bị
động về chất lợng và thời gian giao hàng.
Sau năm năm hiện đại hoá thiết bị , công nghệ mới , cơ cấu sản phẩm của
Công ty đã có bớc thay đổi lớn. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống , vốn đợc sự
Nguyễn Thạc Lợi-KDQT42
Đề án môn học
tín nhiệm cao của ngời tiêu dùng cả nớc , Công ty đã cho ra đời hàng loạt sản
phẩm mới đáp ứng yêu cầu mới phù hợp . Trong bối cảnh chung giá điện tăng
(10/2002) , Công ty đã tung ra thị trờng đèn huỳnh quang T8 , tiết kiệm 10% điện
thuế suất nhập khẩu đối với các sản phẩm của Công ty, từ 40-50% xuống còn 20%
và từ 01/01/2005 chỉ còn 0-5%.Công ty coi đây là cuộc đọ sức mới quyết liệt đối
với sự tồn tại của mình. chính vì vậy , ngay từ đầu năm Công ty đã đánh giá những
điểm mạnh , điểm yếu của mình trong giai đoạn vừa qua để từ đó tìm ra phơng h-
ớng và giải pháp thực hiẹn cho giai đoạn tới 2003-2005.
Điểm mạnh truyền thống, lớn nhất là nhân tố \nội lực con ngời, Công ty đã
xây dựng đợc một cộng đồng những ngời công nhân lao động có sức phấn đấu
cao , ý chí tự trọng và tự lực, tự cờng , đồng thuận và đoàn kết trên dới một lòng.
Với số tiền đóng góp 68 tỷ đồng của gần 1.300 CBCNV cho Công ty vay để hoàn
thành kế hoạch đầu t tới năm 2002, và cùng với một cơ chế điều hành chính sách
phân phối thu nhập hợp lý , công khai, và công bằng đã khuyến khích lao động
sáng tạo của tất cả mọi thành viên.
Mặt mạnh thứ hai là bề dầy 40 năm , uy tín Công ty, thơng hiệu Rạng Đông
in sâu trong tiềm thức ngời tiêu dùng cả nớc. Nhiều năm liền sản phẩm của Công
ty đợc bình chọn Hàng Việt Nam chất lợng cao, Huy chơng Vàng và Cúp vàng
chất lợng sản phẩm qua các kì hội chợ. Đặc biệt, hơn mời năm nay, Công ty đã có
hơn 6.000 đại lý, cửa hàng tiêu thụ sản phẩm có mặt trên khắp cả 61 tỉnh, thành
của cả nớc với bạn hàng lâu đời, gắn bó thuỷ chung là một vốn quý mà không phải
Công ty nào cũng xây dựng đợc. Một số loại sản phẩm của Công ty đã đợc sản
xuất với nhiều mức chất lợng,với các mức giá cả tơngứng theo chỉ đạo của Bộ
Công Nghiệp , phù hợp với sức mua của các phân đoạn thị trờng . Ngoài các loại
hàng đáp ứng số đông đối tợng tiêu dùng, Công ty còn loại chất lợng cao để xuát
khẩu và đáp ứng nhu cầu có yêu cầu cao, loại chất lợng vừa phải, bảo đảm tiêu
chuẩn Việt Nam, giá cả phải chăng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bà con nghèo
miền núi, hải đảo vùng sau , vung xa.
Nguyễn Thạc Lợi-KDQT42
Đề án môn học
Điểm mạnh thứ ba là kết quả năm năm đầu t đúng hớng, thích hợp , tiết
kiệm và hiệu quả đã đổi mới toàn bộ các dây chuyền sản xuất đạt trình độ tự động
hoá cao, tăng sản lợng gắn liền với tăng chất lợng sản phẩm, theo đó hạ giá thành
Năm 2003 với doanh nghiệp Việt Nam quả là một năm đầy hứa hẹn khi mà
hiệu lực của AFTA đã thực sự có hiệu lực. Chỉ tính riêng lĩnh vực sản xuất bóng
đèn, Công ty BĐPNRĐ phải cạnh tranh với nhiều hãng nổi tiếng thế giới mà thơng
hiệu đã quá quen thuộc với ngời Việt Nam nh : Philips, Osram, General Electric,
Toshiba Đứng tr ớc cuộc cạnh tranh đầy cam go này, hơn 12 năm thời kì đổi
mới , nhất là 5 năm gần đây, Công ty BĐPNRĐ đã nhanh chóng khảo sát thị tr-
ờng trong , ngoài nứơc, âm thầm tham gia vào cuộc cạnh tranh. Giám đốc Công
ty , ông Nguyễn Đoàn Thăng, luôn nhấn mạnh : Đối với Rạng Đông , quá khứ là
niềm vui còn tơng lai là thử thách. Muốn thành công phải biết đầu t đổi mới công
nghệ , phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hoá công tác quản lý. Chỉ tính từ
năm 1998, công ty đã dành phần lớn vón đầu t cho đổi mới công nghệ, thay thế
toàn bộ dây chuyền sản xuất sản phẩm truyền thống bóng đèn và phích nớc cũ
bằng một dây chuyền mới. Việc chuyển sang sản xuất tự động hoá của Rạng Đông
hiện nay có thể coi là một đòn bẩy quan trọng đối với lộ trình hội nhập AFTA của
Công ty . Bên cạnh đó , Công ty đã tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại,
vi tính hoá toàn bộ các khâu, các công đoạn của lao động , sản xuất nhằm đa sản
phẩm của Công ty cạnh tranh với hàng hoá Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc,
Nhật Bản là những đối thủ cạnh tranh từng làm Công ty chao đảo một thời ngay
trên thị trờng nội địa. Năng suất và chất lợng sản phẩm Công ty tăng cao trong khi
giá thành vẫn luôn tìm phơng thức hạ xuống . Công ty giờ đây đã sản xuất đợc
những chi tiết bán thành phẩm là thứ trớc đây còn phải nhập ngoại . Bên cạnh
những sản phẩm truyền thống, Công ty đã tạo đợc nhiều sản phẩm mới mà nổi bật
Nguyễn Thạc Lợi-KDQT42
Đề án môn học
là bóng đèn huỳnh quang T8 và huỳnh quang Compact. Đèn huỳnh quang T8 là
sản phẩm ứng dụng công nghệ và vật liệu mới, cùng phát ra lợng sáng nh nhau nh-
ng đèn huỳnh quang T8 tiêu thụ điẹn năng giảm 10% so với đèn huỳnh quang
thừơng . Sản phẩm đèn huỳnh quang Compact kích thớc nhỏ nhẹ , tiết kiệm đến
80% điện năng so với đèn dây tóc thông thờng và có tuổi thọ cao gấp 5 đến 10 lần.
Về sản phẩm phích nớc, néu nh trớc đây Công ty chỉ có loại 2 lít thì nay đã có
Quan điểm của Ban lãnh đạo Công ty BĐPNRĐ cho rằng, tham gia vào
AFTA, Công ty sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức hơn là cơ hội. Lý giải cho quan
điểm này bắt nguồn từ thực trạng yếu kém của DNVN nói chung cũng nh năng lực
cạnh tranh của DNVN trớc các đối tác ASEAN, đặc biệt là ASEAN5. Tuy nhiên
nếu xem xét nội dung AFTA đối chiếu vào hoạt động của Công ty BĐPNRĐ, có
thể thấy , nếu Công ty có những chiến lợc , giải pháp đúng sẽ tận dụng đợc những
cơ hội thuận lợi.
-Thứ nhất,AFTA tạo điều kiện thuận lợi mở cửa thị trờng hàng hoá xuất
khẩu cho Công ty khi hội nhập vào thơng mại khu vực.
Nội dung của AFTA đã đa ra những nguyên tắc về xoá bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan, thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thơng
mại, các tranh chấp thơng mại đợc giải quyết công bằng, thực hiện bình đẳng trong
đàm phán . Thông qua các nguyên tắc này , khi Rạng Đông tham gia AFTA , các
sản phẩm sẽ đợc hởng thuế suất u đãi thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc (MFN)
mà các nớc ASEAN dành cho các nớc thành viên WTO.
Thực tế thơng mại hai chiều giữa Việt Nam và ASEAN kể từ khi Việt Nam là
thành viên chính thức của ASEAN (1995) và khi Việt Nam tham gia AFTA (1996)
đến nay cho thấy , các sản phẩm đóng góp của doanh nghiệp Việt Nam trong th-
ơng mại nội bộ khu vực tăng lên, trong đó có doanh thu của Công ty BĐNRĐ.
Nguyễn Thạc Lợi-KDQT42