Công trình nghiên cứu khoa học : Quá trình hình thành phát triển nghệ thuật cải lương - Pdf 13

1
LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG Chủ nhiệm đề tài: GS Hoàng Chương
Những người tham gia

-
GS – TS Nguyễn Thuyết Phong
- NSUT Hoàng Đạt
- NNC Nguyễn Thế Khoa
- NSUT – TS Bạch Tuyết
- NSUT – TS Đoàn Thị Tình


động. Còn ở miền Bắc thì hầu hết các tỉnh Đồng bằng và TP lớn cũng đều
có đoàn cải lương chuyên nghiệp. Tuy vậy, trong tiến trình phát triển, cải
lương đã có những lúc thăng, trầm, đã có những cơn khủng hoảng về cả
nghệ thuật lẫn khán giả. Qua gần một thế kỷ, con thuyền cải lương đã biết
bao lần vượt qua sóng cả
gió to, để đến hôm nay được khẳng định là một
trong ba thể loại sân khấu ca kịch truyền thống mạnh nhất trong nền văn
hoá dân tộc Việt Nam. Nhưng cũng vào những năm cuối của TK 20, đầu
TK 21, Cải lương lại lâm vào cảnh khủng hoảng khán giả. Nguyên nhân
do tác động của cơ chế thị trường cũng như xu thế hội nhập văn hoá và sự
bùng nổ của các phươ
ng tiện thông tin và giải trí hiện đại làm cho các loại
hình nghệ thuật dân tộc, trong đó có cải lương bị thưa vắng khán giả. Dĩ
nhiên, về mặt chủ quan, cải lương trong những năm gần đây rất thiếu kịch
3
bản hay, diễn viên trẻ cũng thiếu sự đầu tư cho vai diễn như các bậc tiền
bối “học cho chết, diễn cho sống” Âm nhạc cũng không còn đậm nét bản
sắc cải lương như ngày xưa, bởi sự kết hợp giữa tây và ta một cách tuỳ
tiện. Mỹ thuật sân khấu cải lương cũng không phát triển ổn định, nhiều
đoàn thì phổ biế
n hiện tượng “đầu Ngô mình Sở”, làm cho bản sắc dân
tộc của Cải lương bị mờ dần và sự tôn kính và yêu thích nghệ thuật cải
lương cũng bị giảm sút trong lòng công chúng.
Về mặt nghiên cứu, tuy có nhiều sách báo nói về cải lương, nhưng
chưa có một công trình nghiên cứu nào phân tích thật đầy đủ bản sắc nghệ
thuật Cải lương, hoặc đánh giá thật chính xác thực trạng phát triển củ
a Cải

của nghệ thuật sân khấu Cải lương.
1.1.1. Về mặt kinh tế:
Vào đầu thế kỷ 20, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp,
giai cấp nông dân vốn nghèo khổ, bị giai cấp địa chủ bóc lột thậm tệ, tầng
lớp tư bản dân tộc mới xuất hiện còn yếu ớt chư
a đủ hình thành một giai
cấp.
Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, ruộng đất của bọn địa chủ ngày
càng nhiều. Ngoài những ruộng đất bị chiếm đoạt, người nông dân còn
phải nộp tô cho địa chủ, phú nông, nộp thuế cho bọn thống trị càng ngày
càng nặng thêm. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ và
thực dân ngày càng thêm sâu sắc.
1.1.2. Về mặt chính trị

Đầu năm 1905, phong trào Đông Du sang Nhật đầu tiên của Phan
Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, kế đó là một số chí sĩ khác trong đó có Cường Để.
Năm 1907 Phan Bội Châu soạn ra bài văn “Ai cáo Nam Kỳ phụ lão” để
làm tài liệu vận động đồng bào Nam Kỳ. Phong trào Đông Du ra đời và
phát triển mạnh mẽ ở Nam Kỳ. Phong trào này được các thân hào, nhân sĩ
ở Tiền Giang hưởng ứng mạnh mẽ, con số du họ
c sinh cả nước ước chừng
200, riêng Nam Kỳ đã chiếm hơn 100.
Cùng với phong trào Đông du, ở miền Nam lúc bấy giờ còn nổi lên
nhiều phong trào khác như : « Hội kín Nam kỳ », « Nghĩa Hoa hội » ở
Tiền Giang, « Duy tân hội » ở Mỹ Tho…
Sau khi tiếp xúc với Phan Bội Châu, ở Hương Cảng, Trần Chánh
Chiếu đã đứng lên cổ động công khai ở Nam Kỳ một phong trào gọi là
« Cuộc Minh tân ». Ông đề ra những công việc phả
i làm theo gương Duy


số người yêu nước từng tham gia các phong trào Đông Du và Duy Tân đã
chuyển hướng qua Hoạt động cải cách về văn hóa xã hội.
1.1.3.Về văn hóa xã hội:
Từ năm 1865, trước khi chiếm trọn Nam Kỳ, thực dân Pháp đã cho
xuất bản Gia Định báo bằng chữ quốc ngữ. Tuy ban đầu là một thứ công
báo của chính quyền xâm lược, nhưng tờ Gia Định báo cũng góp phần
6
vào việc phổ biến chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ. Năm 1868, xuất hiện Phan
Yên báo do Diệp Văn Cương làm chủ bút, nhưng sau bị đóng cửa vì
những bài có tính chất chính trị, công khai chỉ trích chính sách của thực
dân Pháp. Năm 1901, có tờ Nông Cổ Mín Đàm do Lương Khắc Minh rồi
Nguyễn Chánh Sắt làm chủ bút. Năm 1907 có tờ Lục Tỉnh Tân Văn do
Trần Chánh Chiếu làm chủ
bút. Năm 1916, tại Cần Thơ có tờ An Hà
nguyệt báo.
Về tiểu thuyết, năm 1887 xuất hiện cuốn truyện Thầy Lazaro phiền
của Nguyễn Trọng Quản. Khoảng 1910, đã có Hoàng Tố Anh hàm oan
của Trần Chánh Chiếu, Phan Yên ngoại sử Tiết phụ gian truân của
Trương Duy Toản. Năm 1912, Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết Ai làm
được. Khoảng 1919 – 1920, Nguyễn Chánh Sắ
t lừng danh với tiểu thuyết
Nghĩa hiệp kỳ duyên tức Chăng-Cà-Mum.
Về xã hội, trong phong trào Duy Tân đã có chủ trương “di phong
dịch tục”, thay đổi phong tục cũ, giảm bớt nghi thức khi có đám tang,
chống hút thuốc phiện, cờ bạc, khuyến khích thể dục thể thao, bỏ mê tín dị
đoan và đề xướng nếp sống mới như tiếp khách thết đãi theo người Âu,
cắt tóc ng

Mỹ Tho do ông Nguyễn Tống Triều lập ra, với Nguyễn Tống Triều sử
dụng đàn kìm, ông Bảy Vô kéo đàn cò, ông Chín Quán thủ cây đàn độc
huyền, ông Mười Lý thổi ống tiêu, cô Hai Nhiễu đàn tranh và cô Ba Đắc
hát. Mỗi tối thứ bảy ban nhạc này trình diễn tại Minh Tân khách sạn ở gần
nhà ga xe lửa Mỹ Tho. Người đế
n nghe loại nhạc tài tử này càng ngày
càng đông. Ông chủ rạp hát bóng Casino ở Mỹ Tho thấy khách sạn Minh
Tân sao đông khách quá, mới nghĩ đến việc đem ban nhạc này trình diễn
trước giờ chiếu phim. Bắt đầu từ đó mới có phụ diễn cổ nhạc trên sân
khấu hát chập. Ca nhạc cải lương bước lên sân khấu đầu tiên là sân khấu
Hát chập.
Cô Ba Đắc là một nữ danh ca hát « sa-lông » nổi tiếng qua lối hát
d
ậm thêm vài câu hài hước trong các bài « Đại lang dậm », « Bùi Kiệm
dậm », « Bùi Kiệm -Nguyệt Nga ». Lúc đầu chỉ ngồi trên bộ ván để hát.
Về sau mới đứng dậy vừa hát vừa ra bộ. Từ đó mới sinh ra hình thức Ca
ra bộ .
Từ Ca ra bộ rất đơn sơ tiến tới ca kịch, tức là vừa hát vừa diễn tả
lời ca với những động tác được tiếp thu từ Hát bội. Thời kỳ
đầu đa số diễn
viên đều từ sân khấu hát bội sang diễn cải lương, kể cả tuồng kịch cũng
như chuyển thể từ Hát bội. 1
Xem chương II – Âm nhạc cải lương
8

ca ra bộ tức là ca theo lối kể chuyện, lấy lời ca làm lời để kể cho khán
thính giả nghe, kể hết thân phận người này sang nguời khác. N
ội dung của
Ca ra bộ thường lấy tích trong các truyện thơ Việt Nam hoặc một số
9
truyện Tàu được phổ biến trong dân gian Ca ra bộ ra đời lúc này là hình
thức trình diễn của sân khấu đơn sơ, là gạch nối của quá trình chuyền dần
từ hình thái âm nhạc đơn thuần sang sân khấu diễn xuất. Từ những lớp
ngắn tiến lên vở dài có phân vai, thay phiên nhau nhiều người ca, người
thì ca vai này, người ca vai khác, có thêm yếu tố diễn xuất. Ca ra bộ bắt
đầu trở thành tiết mục sân khấu, nhưng ch
ưa thành vở diễn hoàn chỉnh. Từ
chỗ chỉ ngồi trên bộ ván mà hát, sau đó bước xuống đất vừa hát, vừa làm
điệu bộ rồi trở thành tiết mục. Ca ra bộ đã trải qua quá trình diễn xướng từ
đơn giản đến phức tạp. Khi có tiết mục thì đòi hỏi phải có sân khấu diễn
xuất.
Thế là Ca ra bộ có mặt ở các địa điểm sân khấu l
ần lượt diễn ở sàn
diễn này sang sàn diễn khác và đến năm 1917, sau 10 năm phát triển từ
diễn xướng dân gian, đàn ca tài tử đến Ca ra bộ rồi tiến dần thành vở diễn
cải lương. Vở cải lương Lục Vân Tiên của Trương Duy Toản ra đời vào
thời điểm này nhưng vẫn chưa có bài ca chủ đạo.
Cũng thời điểm này (1917) Bản vọng cổ
Dạ cổ hoài lang của Cao
Văn Lầu ra đời đánh dấu một bước ngoặt mới của nghệ thuật Cải lương.
Bản vọng cổ lúc đầu được sáng tác với âm điệu rất đơn sơ mộc mạc
nhưng thể hiện được tâm tư tình cảm của một lớp người thời đại đó, đồng

- Ban đầu hát cà rỡn chơi, pha tiếng Tây vào tiếng ta, giễu đời, kiêu
ngạo: Vân Tiên đui, Bùi Kiệm dê, kế đó ca bài Hành vân tâm sự của Từ
Hải: “Mật yêng hùng, giống Triệu Thường Sơn”, xen giọng ái quốc vào
điển cũ, sau đó càng biến hóa nữa, biế
n hóa mãi, để rồi Cải lương nảy
sinh một cách bất ngờ, và bắt đầu từ năm nào, nay cũng không một ai
dám chắc.
- Cơ hội hiếm có và một bất ngờ khác rất may cho tiền đồ và văn
hóa nước nhà là miền Nam lớp đó đã có sáng trí, nhơn dịp toàn quyền
Albert Sarraut nới tay cho phép lập hội lập gánh hát, vì năm 1918, bên
Pháp giặc đã dứt, ông Albert Sarraut muốn để cho dân bản xứ lảng quên
việc nước và không làm quốc sự, bèn cho dân tha hồ hát xướng, thừa dịp
đó dân trong Nam bèn trau dồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân
khấu….
Trong cuốn « Nghệ thuật Cải lương » Trương Bỉnh Tòng có nêu lên
vai trò của ông Trương Duy Toản đối với nguồn gốc ra đời của sân khấu
Cải lương. Trong đó ông căn cứ vào tư liệu của ký giả Bằng Giang kể về
hoạt động của Trươ
ng Duy Toản trong lĩnh vực sân khấu. Nhà nghiên cứu 2
Vương Hồng Sển - Hồi ký 50 năm mê hát. Cơ sở Phạm Quang Khai xuất bản, Sài Gòn, 1968 (Tr22)
11
Trương Bỉnh Tòng khẳng định: “Sau khi bị giải lao về Sài Gòn (1913) và
bị an trí tại Phong Điền (Cần Thơ), ông (tức Trương Duy Toản) cho ra đời
tác phẩm Ca ra bộ đầu tiên mang tên Bùi Kiệm – Kiều Nguyệt Nga vào
3
[Trương Bỉnh Tòng – Nghệ thuật Cải lương: những trang sử”. Viện Sân khấu, H, 1997, tr40 – 41].

12
Vào khoảng năm 1920 – 1921 Hát cải lương đã trở thành một bộ
môn sân khấu vững vàng.( Vũ Đào : Sơ khảo lịch sử Cải lương)
Cùng quan điểm này với ông Trương Bỉnh Tòng, Vũ Đào, hai tác
giả Trần Minh Tiên và Lê Minh Chánh cũng cho rằng : « Vở tuồng Kim
Vân Kiều (diễn liên tiếp 3 đêm tại rạp cinéma – théâtre của thầy Năm Tú,
sau này đổi tên là Vĩnh Lợi, ngày nay là rạp Tiề
n Giang ở đường Lý Công
Uẩn, Sài Gòn) của ông Trương Duy Toản là vở diễn đầu tiên của sân khấu
Cải lương Nam Bộ. Các nhân vật trong tuồng được soạn giả phân vai như
sau :
- Cô Hai Cúc (gánh xiếc thầy Thận ) đóng Vương Thúy Kiều,
- Cô Ba Đắc vai Thúy Vân
- Cô Năm Thoàn vai Hoạn Thư… »
4

Còn theo giáo sư Nguyễn Thuyết Phong thì « Cải lương được hình
thành ở Nam bộ, nó bắt chước Hát bội và chịu ảnh hưởng của Hát bội ». Ý
kiến này cũng trùng hợp với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và cố nhạc sĩ Lưu
Hữu Phước.
Sự biến chuyển của ca nhạc tài tử sang sân khấu Cải lương ngoài
yếu tố nội lực hát bội còn một yếu t

14
2. NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA
NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CẢI LƯƠNG

2.1. Giai đoạn trước cách mạng: Cải lương tiếp tục được định
hình và nhanh chóng lan chuyển ra cả nước.
2.1.1. Giai đoạn Cải lương định hình
Khác với Chèo, Tuồng ngay bản thân tên gọi Cải lương đã có hàm
ý đổi mới. Quan điểm đổi mới được thể hiện bằng tuyên ngôn “cải cách
hát ca theo tiến bộ, lương truyền tuồng tích sánh văn minh”.
Còn danh từ Cải lương, theo Trần Quang H
ải có lẽ rút từ câu: “Cải
biến kỳ sự, Sử ích tự thiên lương” có nghĩa là đổi những gì cũ còn lại ra
thành những gì mới mà hay. Danh từ cải lương được xuất hiện đầu tiên
trên bảng hiệu ở gánh Tân Thinh của ông Trương Văn Thông, vào năm
1920. Sân khấu được trang hoàng đẹp đẽ, có màn nhung, có tranh cảnh và
hát bài La madelon bằng tiếng Việt trước khi kéo màn.” Còn giải nghĩa
theo Từ đ
iển Hán – Việt, thì Cải lương có nghĩa là thay đổi, cải tiến.
Theo chúng tôi giải nghĩa như thế là chưa rõ, chưa đủ, vì dựa trên
cái cũ gì để thay đổi, cải tiến ? mà như phần trên đã trình bày, cải lương ra
đời từ nhạc nhà chùa, từ đờn ca tài tử và tiếp thu nghệ thuật hát bội (tuồng)
để Ca ra bộ diễn những lớp ngắn rồi bước lên sân khấu gỗ diễn nhữ
ng vở
dài.
Vở diễn đầu tiên của cải lương phải kể đến là Lục Vân Tiên của
Trương Duy Toản. Vở này chia làm nhiều màn, hồi theo truyện cùng tên
của cụ Đồ Chiểu, diễn ở đâu cũng đông khách. Tiếp theo, năm 1918, vở
cải lương Kim Vân Kiều của ông lại xuất hiện ở Mỹ Tho.
Sau sự thành công của gánh hát Năm Tú với hai vở di

giả Lê Duy Hạnh: “Ngay từ lúc mới ra đời, Cải lương chịu ảnh hưởng có
tính chất quyết định của hai dòng sân khấu: sân khấu truyền thống của
Việt Nam và sân khấu kịch hiện đại c
ủa Pháp ».
Sự tiếp nhận nhiều phong cách sân khấu Đông, Tây làm cho kịch
bản cải lương có cấu trúc mở của tuồng, lại khép chặt theo kiểu Aristốt.
Trang trí và biểu diễn theo phong cách tả thực.

16
2.1.2. Giai đoạn từ 1917 - 1930: Cải lương phát triển mạnh ở
miền Nam và bắt đầu tiến ra miền Bắc.
Trong sách Lịch sử thủ đô Hà Nội do ông Trần Huy Liệu chủ biên
có viết: “Từ 1920 trở đi, nghệ thuật Cải lương đã phát triển mạnh mẽ ở
trong Nam, nhiều gánh hát Cải lương đã ra biểu diễn ở Hà Nội như
:
An Lạc ban, Phúc Lộc ban, Tân Lập ban, Hồng Nhật, Cao Tàng
Châu, Tân Thịnh, Phước Cương, Phùng Phi, Nhạn Trắng, Năm Châu,
Phước Tường v.v…”
5

Cùng với quan điểm này, ông Trần Việt Ngữ cho rằng: “Cải lương
nảy sinh ở miền Nam và giữa năm 1919 theo chân gánh xiếc Sáu Súng ra
Bắc, giới thiệu lần đầu Tứ đại “Đàn bà hay ghen”, hình thức Ca ra bộ với
bản Tứ đại (cảnh) đã “oán hóa”. Cả Nam xuân Tô Huệ, Phú lục Kim
Kiều, do hai người ca luân phiên làm điệu bộ minh họa. Một nă
m sau thấy
Phước Hội ban, rồi năm tiếp là Tân thành ban. Mấy gánh nhỏ diễn ở đình,

thòi, nên đành ph
ải để gánh tan rã.”
7

Cuối năm 1926, nhóm sinh viên Nam kỳ lại kết hợp với nghệ nhân
Tư Hối diễn vở Trang Tử cổ bồn của Nguyễn Đăng Phong. Đến tháng 7
năm 1927, một nhóm các bà, các cô lại tổ chức diễn lại vở Trang Tử cổ
bồn tại rạp Cải lương hí viện ở Hà Nội để lấy tiền giúp dân bị lụt ở Thái
Bình. Vở diễn
đề cao cương thường đạo lý nhằm phê phán người vợ của
Trang Tử là Điền Thị, chồng chết chưa xanh cỏ đã mê say Sở Vương Tôn
(học trò của Trang Tử), lấy chồng khác. Trang Tử cổ bồn diễn được hai
tối thì bị khá nhiều người cực lực phản đối, bởi họ cho rằng không nên
đưa phụ nữ lên sân khấu hát Cải lương, họ cho rằng nh
ư thế là tự do quá
trớn, vượt lễ giáo của dân tộc.
Cùng năm 1927, gánh Nghĩa Hiệp ban ra Bắc với những vở tuồng Tàu
như Lã Bố - Điêu Thuyền, Tra án Quách Hòe… Ban hát này diễn ở
Quảng Lạc, Chuông Vàng phố Hàng Bạc một thời gian dài, rất đông khán
giả. Có thể nói, các rạp Quảng Lạc, Sán Nhiên Đài ở Hà Nội thời kì này
đêm đêm diễn xen cả Tuồng, Chèo kèm theo cả Cải l
ương, hoặc đêm
trước diễn tuồng , chèo, đêm sau diễn Cải lương, dần dà diễn vở chèo có
dậm bài hát cải lương. Đây có lẽ là những năm cực thịnh của nghệ thuật
cải lương trên miền Bắc. Hai rạp Hiệp Thành và Quảng Lạc lúc này trở
thành hai trung tâm biểu diễn Cải lương của thủ đô. Trong quá trình hành 7
GS Hà Văn Cầu – Cải lương Bắc một thực thể nghệ thuật. Tư liệu Viện Sân khấu

ử và tuồng Tàu.
Các gánh lớn như Tân Thịnh, Tập Ích ban,Văn Hí ban, Tái Đồng ban,
Phước Cương, Huỳnh Kì, Trần Đắc… đã gây tiếng vang lớn trên các sân
khấu từ Nam ra Bắc. Nhều vở Cải lương được trình diễn do các soạn giả
có tài năng sáng tác, như: Trương Duy Toản, Nguyễn Thành Châu, Huỳnh
Thủ v.v….

19

2.1.3. Giai đoạn từ 1930 – 1945: Cải lương phát triển mạnh mẽ và
bắt đầu hình thành hai xu hướng ở hai miền Nam, Bắc.
Vào thời điểm này, sân khấu Tuồng, Chèo không còn đủ sức hấp
dẫn nữa, miền Bắc đã xuất hiện Chèo văn minh, còn gọi là Chèo Cải
lương. Kịch nói thì mới du nhập từ Pháp vào nên lại càng bỡ ngỡ. Cho
nên, Cải lương đã nhanh chóng chiếm vị
trí chủ đạo trên sân khấu toàn
quốc. Ở hai thành phố lớn Sài Gòn và Hà Nội, nhân dân đều có nhu cầu
xem hát Cải lương. Những vở Cải lương như Giọt máu chung tình, Giá trị
danh dự (phỏng theo kịch Le Cid của Pháp), Tiếng nói trái tim, Đầu xanh
có tội, Tứ đổ tường, Trà hoa nữ (phỏng theo La damme au caméleas của
Pháp)… làm nức lòng người Hà Nội.
Giai đoạn này Cải lương còn đi vào khai thác các truyện Trung
Quốc hợp với Cải l
ương mà Tuồng (Hát bội) đã diễn như: Tam Quốc,
Thủy hử, Đông Chu liệt quốc… cụ thể là: Tam khí Chu Du, Lã Bố hí Điêu
Thuyền, Tiết Giao đoạt ngọc… Bao Công tra án Quách Hòe, Xử án Bàng
Quí Phi, Mạnh Lệ Quân v.v…

nghệ sĩ Phan Ninh, Sáu Đệ, Lan Phương v.v… với sự trình diễn của các
vở Kim Vân Kiều, Dưới mái Tây Hiên… nhưng gánh này hoạt động chẳng
được bao lâu phải giải tán, có lẽ vì không cạnh tranh nổi với các gánh
mạnh ở Hà Nội.
Như vậy, giai đoạn này cải lương ở miề
n Bắc phát triển rất nhanh,
nhiều gánh được thành lập như: Nhật Tân Ban, Quốc Hoa, Tố Như, Ái
Liên, Đức Huy, Nam Hồng…. Cải lương đã trở thành một bộ môn sân
khấu rất mạnh trên miền Bắc, được đông đảo người xem yêu thích.
Cũng trong giai đoạn 1930 – 1945 Ở Nam Bộ - cải nôi của Cải
lương, nhiều gánh hát cải lương tiếp tục ra đời. Theo thống kê của các nhà
nghiên cứu thì thờ
i kỳ này có tới trên 50 gánh hát cải lương trên cả nước,
như: Tân Thinh, Tập Ích ban, Văn Hý ban, Tái Đồng Ban, Phước Cương,
Huỳnh Kỳ, Trần Đắc… Các gánh hát này gây tiếng vang suốt từ Nam ra
Bắc và cả ở nước ngoài. Từ năm 1931, khán giả Pari đã được thưởng thức
tài nghệ của nữ nghệ sĩ Năm Phỉ qua vở Xử án Bàng Quý phi. Báo chí
Pháp đã từng khen: “Tôi thấy ở trường đấu xảo thuộ
c địa có một nữ nghệ
21
sĩ Việt Nam mà nghệ thuật không thua bất kì một nữ nghệ sĩ nào của ta”
8
.
Thời kỳ này, các gánh hát An Lạc ban, Phước Cương, Năm Phỉ, Phụng
Hảo, Thanh Tùng, Kim Thoa…. đã ra Bắc biểu diễn và được khán giả
nhiệt liệt hoan nghênh.
Nhưng cùng với lúc này là sự khủng hoảng về kinh tế của toàn vùng Đông

8
Hoàng Như Mai – Trần Hữu Trang: soạn giả ca kịch cải lương. Nxb TPHCM, 1982, tr10.
22
hâm mộ và báo chí khen ngợi, có báo còn bình luận: “Từ khi vở này ra
đời, thì vở Tứ đổ tường phải đi vào lịch sử”.
9
Vó ngựa truy phong thông
qua sự diễn xuất của các nghệ sĩ nổi tiếng như: Ba Vân (vai Dũng nghiền),
Phùng Há (vai bà Thảo), Năm Châu (vai Quốc say), Thanh Loan (vai cô
gái)… đã làm mưa làm gió trên sân khấu Cải lương khắp Trung, Nam,
Bắc hàng chục năm trời.
Thời kì này cải lương có những vở mang tính chất hiện thực phê
phán khá sâu sắc như: Đời cô Lựu (Tư Trang), Đóa hoa rừng (Năm Châu),
Trên dốc lý tưởng (Sỹ Ti
ến), Giòng máu thanh niên (Đào Mộng Long), Tô
Ánh Nguyệt, Vó ngựa truy phong v.v… Các gánh hát miền Nam như An
Lạc ban, Phước Cương, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Thanh Tùng, Kim
Thoa…lần lượt ra Bắc biểu diễn và được khán giả mến mộ.
2.2. Giai đoạn từ 1945 – 1954: Cải lương tiếp tục phát triển ở hai
miền Nam, Bắc.
Do tình hình gay gắt của cuộc kháng chiến chống Pháp, các diễn
viên Cải lương người thì ch
ạy vào thành tiếp tục sự nghiệp ca hát, người
thì bỏ nghề đi làm thuê kiếm sống bằng đủ thứ nghề, số còn lại đi theo
kháng chiến hoạt động không chuyên nghiệp. Các đoàn Cải lương trên
miền Bắc hoạt động ở các vùng du kích liên khu III mất dần biểu diễn,
một số Đoàn Cải lương Bắc chạy về Thái Bình, Ninh Bình, và quy tụ về

ng Tiên , tuồng
Phật nhưng đi dần vào bế tắc.
Đến năm 1950, cùng với phong trào chỉ trích Cải lương ở miền Bắc
thì ở vùng giải phóng của Nam bộ có nơi ra lệnh cấm Cải lương, không
được sử dụng vọng cổ trong các vở Cải lương. Vì cho rằng yếu đuối sẽ
làm mềm tinh thần chiến đấu của quân dân
Đầu năm 1951, Nam Bộ phê bình: “Công tác văn hóa ở Nam bộ

nhiều sai lầm, căn bản là không rõ hệ thống tình cảm hiện có trong nhân
dân”. Tiếp đó là Hội nghị văn nghệ toàn Nam bộ quyết định: “Đi sâu vào
tình cảm dân tộc, tận dụng các hình thức văn nghệ xưa và nay”. Và đến
cuối năm, chi hội Văn nghệ Nam bộ tổ chức một hội nghị tranh luận về
vấn đề của nghệ thuật Cải lương, nhiề
u ý kiến tranh luận tại hội nghị trái
ngược nhau, nhưng cuối cùng cũng đi đến kết luận: “Cải lương vẫn có tác
dụng phục vụ kháng chiến, và quyết nghị trong buổi liên hoan bế mạc sẽ
diễn Cải lương, mời các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền cấp lãnh
đạo Nam bộ đến xem. Anh em phân công Ngọc Cung xây dựng một vở
24
Cải lương ngắn để biểu diễn. Ngay trong buổi sáng, anh viết xong vở Nợ
nước tình nhà.”
10

Vở chỉ có một màn, kể chuyện chàng trai họ Trần đang học hành lo
thi cử thì giặc đến. Bạn tới rủ tòng quân, chàng còn ngần ngại, vợ ra
khuyên chồng lên đường, chàng còn bịn rịn gia đình thì ông bố ra khuyên
con noi theo truyền thống anh hùng của cha ông mà lên đường đánh giặc.
25
Đặc biệt, vào thời gian này xuất hiện vở cải lương Hai bó rơm của
Ngọc Cung (tác giả được Giải văn nghệ Cửu Long năm 1951) ca ngợi tình
đoàn kết quân dân. Hai bó rơm đã được diễn đến năm 1958 và được khán
giả miền Nam nhiệt liệt đón nhận.
Cải lương lúc đó với lực lượng diễn viên lần đầu lên sân khấu, như

Can Trường, Nguyễn Ngọc Bạch, Tường Trân, Phi Nga… đã diễn hết
mình. Cải lương trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn đối với bộ đội
và nhân dân Nam bộ.
2.2.2. Cải lương ở miền Bắc
Ở miền Bắc xuất hiện những vở diễn thể hiện hình tượng người lính
như Lá cờ giải phóng của Ngọc Văn do gánh hát cải lương Nhật tân ban
bi
ểu diễn năm 1946. Cùng thời gian này Sĩ Tiến vừa chấp bút vừa dàn
dựng và tham gia biểu diễn tiết mục cải lương dưới hình thức hoạt cảnh
Xuân chiến khu, trong đó có bóng dáng anh chiến sĩ. Sang năm 1947,
Ngọc Văn lại viết thêm kịch bản 10 năm ngoài chiến trận, gánh Nhật Tân
ban trình diễn ở nhiều nơi thuộc vùng liên khu III như Đồng quan chợ Tía,
Phú Xuyên.
Rất tiếc là trong th
ời kì này, do nhận thức sai về sự tồn tại của
Tuồng, Chèo, Cải lương, nhiều cán bộ địa phương đã ngộ nhận, ấu trĩ,
thậm chí rất cực đoan đối với sân khấu Cải Lương.
Trong cuộc họp về nghệ thuật sân khấu tổ chức năm 1950 tại Việt
Bắc đã có nhiều ý kiến cho rằng “Cải lương là một ngh
ệ thuật “quái gở”,
lai căng, sản sinh ra một thời đại múa may, quay cuồng trên sân khấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status