Đề tài nghiên cứu khoa học : Giải phóng đổi mới phát triển vì chủ nghĩa xã hội - Pdf 13


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
o BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
KHOA HỌC CẤP BỘ
THUỘC CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC TRỌNG ĐIỂM
GIAI ĐOẠN 2008 - 2010 GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN
VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
CƠ QUAN CHỦ TRÌ : HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : GS.TS. NGUYỄN VĂN HUYÊN
PHÓ CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. VƯƠNG CƯỜNG
THƯ KÝ KHOA HỌC : ThS. PHẠM THẾ LỰC

8547
HÀ NỘI 2010


Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
Thư ký khoa học đề tài

DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

1 GS.TS. Trần Ngọc Hiên Liên hiệp các hội Khoa học – Kỹ thuật Việt Nam
2 GS. Trần Nhâm Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
3 GS.TS. Nguyễn Ngọc Long Viện Triết học,
Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
4 GS.TS. Phạm Tất Dong Hội Khoa học Tâm lý
5 GS. Đỗ Huy Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
6 GS.TS. Phạm Ngọc Quang Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
7 PGS.TS. Phạm Văn Đức Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam
8 PGS.TS. Ngô Quang Minh Viện Kinh tế, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
9 PGS.TS. Phạm Duy Đức

Viện Văn hóa và phát triển,
Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
10 PGS.TSKH. Lương Đình Hải Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam
11 GS.TSKH. Phan Xuân Sơn

Viện Chính trị học,
Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh
12 TS. Ngô Huy Đức

Viện Chính trị học,
Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
13 TS. Lê Thanh ThậP Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam
14 ThS. Mai Hoài Anh


1.2.3.Tham khảo và vận dụng các tiêu chí phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội, con người ở các nước cho sự phát triển ở Việt Nam

41
1.3. MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ
NHỮNG KINH NGHIỆM CHO GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN Ở
VIỆT NAM
47
1.3.1.Mô hình phát triển của một số nước Bắc Âu
47
1.3.2.Cải tổ ở Liên Xô và kinh nghiệm đối với quá trình giải phóng, đổi
mới, phát triển vì CNXH ở Việt Nam
66
1.3.3.Kinh nghiệm cải cách, đổi mới, phát triển ở Mỹ và Anh

75
1.3.4.Kinh nghiệm cải cách, đổi mới ở Trung Quốc

88
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH GIẢI PHÓNG, ĐỔI
MỚI, PHÁT TRIỂN VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
109
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI,
PHÁT TRIỂN VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
109
2.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN
VÌ CNXH THỜI GIAN QUA
115
2.2.1.Thực trạng giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực tư tưởng
116

3.2. CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÌ
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
201
3.2.1.Giải pháp giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực tư tưởng
201
3.2.2.Giải pháp giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực kinh tế
220
3.2.3.Giải pháp giải phóng, đổi mới, phát triển trong lĩnh vực chính trị
237
3.2.4. Giải phóng, đổi mới, phát triển nguồn lực xã hội - con người
257
KẾT LUẬN
271

1
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX đã diễn ra với biết bao biến động, thăng trầm, với những
bước ngoặt to lớn của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực: từ sự ra đời, phát
triển đến sự khủng hoảng và đổ vỡ. CNXH – một tượng đài xã hội tốt đẹp nhất
khắc sâu vào thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI nh
ư niềm kiêu hãnh của loài người
tiến bộ. Tuy nhiên, sự sụp đổ và thoái trào của CNXH hiện thực là một tổn thất
to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong quá trình khủng
hoảng, đổ vỡ và thoái trào đó, nhiều nước XHCN đã nỗ lực tiến hành cải tổ,
đổi mới, nhưng do nhiều nguyên nhân đã đi đến thất bại và kéo theo đó là sự
sụp đổ của nhiề
u nước khác. Một số nước XHCN khác kiên định lập trường

i quan hệ giữa tăng trưởng tốc độ cao với
sự phát triển bền vững, liên tục của nền kinh tế; giữa phát triển kinh tế với tiến
bộ xã hội, giữ vững tính chất XHCN của nền kinh tế thị trường; giữa nắm bắt
thời cơ và ứng phó với thách thức trong hội nhập kinh tế thế giới; giữa phương
thức lãnh đạo của
Đảng Cộng sản cầm quyền trong hệ thống chính trị với việc
phát huy năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN, v.v
Bên cạnh đó, đời sống muôn màu của thế giới hiện đại đang hình thành
những nhân tố mới tác động mạnh mẽ đến tất cả các nước, trong đó có cả các
nước XHCN như Việt Nam (dư âm sự sụp đổ của CNXH hiệ
n thực ở Liên Xô
và Đông Âu, sự phát triển vũ bão của khoa học – công nghệ hiện đại, toàn cầu
hóa và sự hội nhập quốc tế, sự phát triển kinh tế tri thức). Thời cơ, thuận lợi
cho việc phát triển là rất lớn, nhưng khó khăn, thách thức và những nguy cơ
tiềm ẩn cũng nhiều. Làm thế nào để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức; làm
gì để khắ
c phục những hạn chế, sai lầm và phát huy tối đa những thành quả đã
đạt được nhằm tỏ rõ bản chất ưu việt và sức sống của CNXH là vấn đề hết sức
khó khăn, đặc biệt khi CNTB vẫn đang còn sức hấp dẫn của nó.
Việc nghiên cứu một cách hệ thống và sâu sắc về CNXH, tổng kết
những vấn đề lý luận và thực tiễ
n, từ đó rút ra những bài học có ý nghĩa
phương pháp luận cho việc tiếp tục công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam

3
trong những thập niên tới một cách đúng đắn, hiệu quả là việc làm quan trọng
và cần thiết. Nó sẽ giúp chúng ta xác định được xu thế phát triển của đất nước
trong giai đoạn mới và khẳng định mãnh mẽ hơn nữa con đường đi lên CNXH
ở Việt Nam từ vấn đề về mô hình và định hướng chung cho đến nội dung,
những nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể cho từng lĩ

như: CNXH chuyển đổi mô hình từ “truyền thống” sang “hiện đại” của
Chengeng; Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Kornai János, Nxb Văn hóa Thông
tin, 2002; Các nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế
thị trường của Marie Lavigne, Nxb CTQG, 2002; Chủ nghĩa cộng sản: một dự
án mới
của Robert Hue. Cũng có không ít các công trình nghiên cứu về những
thành công trong cải cách, đổi mới và phát triển trên con đường xây dựng
CNXH mang đặc sắc Trung Quốc, nhằm góp phần tìm hiểu và nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra ở Trung Quốc, từ đó góp
phần gợi mở những suy nghĩ về công cuộc đổi mới ở Việt Nam (Lịch sử, hiện
trạng, tương lai CNXH
của Trương Khắc Lôi, Tự Lập Bình (Sách đã được dịch
sang Tiếng Việt), Nxb CTQG, H, 1997; Hai chủ nghĩa - một trăm năm của
Tiêu Phong, Nxb CTQG,H, 2004; Trung Quốc 25 năm cải cách-mở cửa của
Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Nxb KHXH, 2004; Chủ nghĩa xã hội là gì, Xây dựng
chủ nghĩa xã hội như thế nào? (Bản chất của CNXH và con đường phát triển) của
Chu Thượng Văn, Chu Cẩm Úy, Trầ
n Tích Hỷ, Nxb CTQG, 1999; Những thay đổi
của CNTB đương đại và ảnh hưởng tới Trung Quốc của Chân Bính Hỷ, Trần Đức
Chiêu, Ngụy Dân (được đăng trên Thông tấn xã VN, số 6/2003); Cải cách thể chế
chính trị ở Trung Quốc (1978 – 2003) của Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), Nxb KHXH,
2003; Trung Quốc cải cách, mở cửa – Những bài học kinh nghiệm của Nguyễn Văn
Hồng, Nxb Thế giới, 2003;…)
Ở Việt Nam tr
ước đây, các nghiên cứu về CNXH nói chung và quá trình
xây dựng CNXH ở Việt Nam nói riêng chủ yếu được nghiên cứu ở tầm lý luận,
nguyên lý, phương pháp luận tập trung chủ yếu dưới góc độ triết học, chủ
nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị học. Sau đó, vấn đề này còn được mở
rộng nghiên cứu cả ở góc độ chính trị học, luật học, hành chính học, văn hóa
học,…thậm chí còn mang tính liên ngành.

Đoàn, Nxb KHXH, 1992; Nh
ững vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên
CNXH ở Việt Nam do Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Nxb CTQG, H, 1998; Mấy
vấn đề lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam của

6
Nhị Lê, Nxb CTQG, 2001, Đổi mới để phát triển, Nxb CTQG, 2002; Tư duy lý
luận với sự nghiệp đổi mới của Trần Nhâm, Nxb CTQG, 2004; , …
Một số công trình đã tiến hành tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới theo
định hướng XHCN ở Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, đánh giá những thành công cũng như những hạn chế trong thời kỳ đổi mới từ
1986 đến nay. Nhiều công trình thẳng thắn chỉ ra rằng, bên cạnh những thành tựu,
tiến bộ đã đạt được sau gần 25 năm đổi mới, nước ta vẫn còn nhiều yếu kém,
khuyết điểm làm cho quá trình phát triển bị chậm lại. Đó là nền kinh tế phát triển
chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Nhiều nguồn lực và
tiềm năng trong n
ước để phát triển kinh tế chưa được huy động và sử dụng tốt.
Thất thoát, lãng phí trong quản lý kinh tế còn rất nghiêm trọng. Cuộc vận động
xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính trong hệ thống chính quyền
chưa đạt yêu cầu đề ra, tình trạng quan liêu, tham nhũng chưa có dấu hiệu suy
giảm, gây ra nhiều điểm nóng chính trị-xã hội. Nhiều nơi quyền tự do, dân chủ
của nhân dân còn bị vi ph
ạm, việc thực hiện luật pháp, kỷ cương không nghiêm.
Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm hoặc chưa được giải quyết tốt,…Từ việc phân
tích những khuyết điểm, hạn chế, các công trình này đã rút ra ra những bài học
kinh nghiệm cũng như nêu lên những gợi ý cho việc hoàn thiện hơn nữa đường
lối, chủ trương, chính sách và cách thức triển khai trong tổ chức thực tiễ
n, nhằm
góp phần đẩy mạnh sự phát triển của đất nước. Các công trình đề cập đến vấn đề
này có thể kể đến: Những vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở

Nhật Bản của Đỗ Lộc Diệp, Nxb KHXH, 2002;…
Trong khuôn khổ hợp tác giữa hai nước, Đảng Cộng sả
n Việt Nam và
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo lý luận, trong đó
có sự trao đổi những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở hai nước,
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm tham khảo cho cho mỗi nước trong quá
trình xây dựng CNXH, như Hội thảo “CNXH và kinh tế thị trường – Kinh
nghiệm của Trung Quốc, kinh nghiệm của Việt Nam”; "Xây dự
ng Đảng cầm
quyền - kinh nghiệm của Việt Nam - kinh nghiệm của Trung Quốc"; "Phát triển

8
khoa học, hài hòa giữa kinh tế - xã hội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội - Lý
luận và thực tiễn",…
Ngoài các công trình lớn như đã nêu, các nội dung trên còn được đề cập ở
những khía cạnh khác nhau trên các tạp chí khoa học như: Nguyễn Đức Bình,
Tiếp tục một cách kiên định và sáng tạo con đường XHCN, T/c Lý luận chính
trị, số 1/2007; Trần Hữu Tiến, Giữ vững định hướng XHCN trong công cuộc đổi
mớ
i, T/c Cộng sản, số 8 (4/2006); Tiếp tục phát triển con đường XHCN ở Việt
Nam, T/c Cộng sản, số 6 (3/2006); Nguyễn Đức Bình, Về nhận thức, bổ sung,
phát triển các luận điểm trong CNXH khoa học, T/c Lý luận chính trị, số
3/2007; Hoàng Chí Bảo, Một số luận đề về định hướng XHCN và đổi mới hệ
thống chính trị ở Việt Nam, T/c Lý luận chính trị, số 5/2006; Nguyễ
n Văn Sáu,
Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, T/c Lý luận chính
trị, số 5/2006; Phạm Ngọc Quang, Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay:
Nhìn từ giác độ của mâu thuẫn trong quá trình phát triển, T/c Triết học; Năm
bài học lớn từ thực tiễn đổi mới, Tô Huy Rứa, báo Nhân dân ngày 22/6/2006; Lê
Hữu Nghĩa, Đại hội X của Đảng với nhận thức về con

nghiên cứu của chúng ta chưa thấy hết tầm quan trọng, chưa đặt trọng tâm đúng
mức, nhiều lúc còn được trình bày lầm lẫn dẫn đến những cách hiểu không
thống nhất trong nhận thức, dẫn đế
n lúng túng trong hành động.
Hơn lúc nào hết, khi mà sự nghiệp xây dựng CNXH Việt Nam với tinh
thần đổi mới đang giành được những thành tựu to lớn, triển vọng phát triển đất
nước đang được mở ra, việc tiếp tục nghiên cứu đúng đắn và sâu sắc những vấn
đề về động lực, nguồn lực, tiềm năng sức sống đất nước, dân tộc, từ đó tìm cách
giải phóng các nguồn lực, đổi mới cách phát huy nguồn lực, tạo ra thế và lực tối
đa cho sự phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng và hết sức có ý nghĩa hiện
nay ở nước ta.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng phương hướng và giải pháp để giải phóng mọi nguồn lực của
đất nước, đổi mới đồng bộ kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội, phát triển
đất nước
theo định hướng XHCN.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và cách tiếp cận đề tài

10
- Với tính chất, đặc điểm và mục đích nêu trên, đề tài được thực hiện
trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và xây dựng CNXH.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương
pháp luận tiếp cận xuyên suốt quá trình triển khai đề tài.
- Đề tài tiếp cận từ ph
ương pháp hệ thống và liên ngành với nhân lõi là
lý thuyết phát triển hiện đại
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử- logic, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa và dự
báo cho phép đi sâu phân tích các hiện tượng, các quá trình, cấu trúc của các

nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp tiếp tục giải phóng, đổi mới, phát triển
vì chủ nghĩa xã hội.

12
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI,
PHÁT TRIỂN

1.1. BẢN CHẤT, NỘI DUNG CỦA CÁC VẤN ĐỀ GIẢI PHÓNG, ĐỔI MỚI,
PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG
Giải phóng, đổi mới, phát triển là những vấn đề có tính quy luật trong quá
trình tồn tại và vận động tự nhiên của tất cả các sự vật, hiện tượng trong giới tự
nhiên, xã hội và tư duy con người. Mặc dù đây là ba vấn đề khác nhau nhưng
giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí còn
có rất nhiều điểm tương đồng. Chính vì vậy, nhiều khi việc giả
i thích về thuật
ngữ này cần phải dựa vào nội hàm của thuật ngữ kia. Trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài này, vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển chỉ được đề cập đến
như là bản chất vốn có của mọi sự vận động và phát triển trong lĩnh vực xã hội.
1.1.1. Bản chất, nội dung của các vấn đề giải phóng, đổi mới, phát triển
1.1.1.1. Phạm trù giải phóng
Từ nguyên giải phóng (liberation) bản thân nó mang gốc nghĩa “Tự do” –
nghĩa là cái chỉ sự vật, hiện tượng trong trạng thái tự do, không bị một sự ràng
buộc, đè nén, kìm chế nào. Với tư cách là hành động, giải phóng là việc làm
cho trạng thái mất tự do, sự tù túng, ràng buộc, đè nén, bị kiềm chế được giải
thoát. Đây là hiện tượng, hành động diễn ra một cách phổ biế
n trong tự nhiên,
xã hội và tư duy con người.
Theo mục tiêu của đề tài này, khái niệm giải phóng chỉ được lý giải làm

tổ chức, v.v để m
ọi tiềm năng, mọi nguồn lực kinh tế được bung ra, lực lượng
sản xuất được phát triển. Nói đến giải phóng xã hội, điều quan trọng với nghĩa
tiến bộ, có thể nói đến giải phóng năng lượng con người, tức là làm cho những
năng lượng tiềm tàng trong con người được phát huy một cách mạnh mẽ; v.v

14
Trong phạm vi và mục đích nghiên cứu của đề tài này, phạm trù giải
phóng được hiểu một cách toàn diện cả bề rộng và chiều sâu của nó, nó không
chỉ được hiểu đó là giải phóng xã hội và con người khỏi áp bức, bóc lột của
thực dân, phong kiến, của chế độ xã hội cũ; nó cũng không chỉ với nghĩa là
“làm cho thoát khỏi những ràng buộc bất hợp lý” và “phá hết mọ
i cản trở để
thực hiện mục đích” của chủ thể xã hội; mà điều quan trọng hơn, hiểu giải
phóng là việc tìm ra những cách thức để gợi mở, tìm ra những điều kiện để
phát huy một cách tích cực nhất, hiệu quả nhất những nguồn lực, những tiềm
năng vốn có trong xã hội và trong con người, nhằm thúc đẩy xã hội không
ngừng ti
ến lên.
Nói một cách cô đọng và trực tiếp nhất, giải phóng trong lĩnh vực xã hội
là việc phá bỏ những rào cản, những khó khăn, những cản trở, những điều kiện
bất lợi cho sự phát triển của một chủ thể hay một tổ chức, một cơ chế, một thiết
chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, để mở đường, tạo độ
ng lực cho sự phát
triển mọi tiềm năng vốn có bên trong, kể cả cộng lực bên ngoài của các chủ
thể, tổ chức, cơ chế, thiết chế đó.
1.1.1.2. Phạm trù đổi mới
Đổi mới (innovation) cũng có nhiều nghĩa và nhiều cấp độ khác nhau.
Theo nghĩa thông thường, đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi sự vật,
hiện tượng, quá trình theo hướng tốt hơn, ti

Đổi mới cũng là hướng và vươn đến cái mới. Cái mới mà ta c
ần quan niệm
đúng, cần vươn tới, là cái thích hợp với yêu cầu của cuộc sống, của thời đại, phù
hợp với thành quả của khoa học, kỹ thuật hiện đại. Cái mới mà ta mong muốn
thường khác với cái cũ, thậm chí đi ngược với cái cũ, và biểu hiện rõ nhất là tiến
bộ hơn cái cũ, giúp ta khắc phục được mọi sự cản trở của cái c
ũ trên con đường
phát triển.
Đổi mới cũng gần gũi với cải tiến – làm cho cái cũ hòa nhập được với thời
đại. Cái mới vẫn kết bạn thân thiết với cái cũ tích cực giàu chất khoa học và nhân
văn. Về mặt khoa học, cái mới là sự phủ định cái cũ, nhưng suy cho cùng, cái mới
cũng là con đẻ của cái cũ, nó lớn lên trong lòng cái cũ. Do đó, cái mới có tính ưu
việ
t đặc biệt nhưng không phải không còn sự dằn vặt, trăn trở; cái mới cũng có
một dòng đời phức tạp khi nó đang chung sống cùng với thế giới cái cũ.

16
Cái mới ra đời không hẳn sẽ mãi mãi mới. Theo quy luật, cái mới vừa xuất
hiện rồi sẽ lại trở thành cũ khi nó bị thực tiễn vượt qua hoặc bị những sáng tạo
trong tương lai phủ định. Đó là lẽ thường tình, là quy luật của sự phát triển và
cũng là kết quả tất yếu, tự nhiên của sự tự vận động trong bản thân cái mới
2
.
Đổi mới tuy không phải là cách mạng xã hội, nhưng là quá trình mang
tính cách mạng, có ý nghĩa cách mạng, nhằm tạo ra những bước nhảy vọt trong
sự phát triển. Trong thực tiễn vận động của đời sống xã hội, nhiều khi người ta
thường đưa cái mới vào để cái cũ có những thay đổi mà ta gọi là canh tân
(innovation). Canh tân là thuật ngữ hay được dùng trong các chương trình giáo
dục và nghệ thuật. Việc canh tân nếu mang ý nghĩa như
một việc cần làm lại và

dài hạn của cải cách do sự hữu hạn của thông tin và lý tính, và từ đó, cần đảm
bảo khả năng điều chỉnh kịp thời khi cải cách từ từ. Trong những điều kiện nhất
định, tuy nhiên, kiểu cải cách từ từ lại dễ bị bóp chết bởi các nhóm hưởng lợi từ
cơ ch
ế cũ, hoặc do các sức ép chính trị khác, tức cải cách từ từ không nắm bắt
được thời cơ, và có thể không vượt qua được những cản trở căn bản nhất. Theo
nghĩa nào đó, Việt Nam đã áp dụng cải cách kiểu đột ngột trong một số lĩnh vực
và cải cách từ từ trong một số lĩnh vực khác, đặc biệt là trong các cải cách có
tính chính trị và xã hội.
Qua sự
phân tích trên, có thể thấy, canh tân, cách tân và cải cách đều là
những nội dung quan trọng của đổi mới khi hiểu đổi mới theo nghĩa rộng, nghĩa
là mang tính tổng thể và trên một quy mô lớn. Canh tân, cách tân, cải cách
thường đề cập đến đổi mới các lĩnh vực cụ thể và trong một phạm vi hẹp hơn.
Trước đây ở Liên Xô, người ta tháo dỡ toàn bộ thể chế cơ
cấu chính trị và
kinh tế của CNXH đang có những khuyết tật nhất định nhằm đạt tới một cái gì đó
mới hơn. Cách tháo ra làm lại từ đầu đó là sự cải tổ (Perestroika – xây dựng lại).
Ở Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), vấn đề đổi mới
đã được đặt ra một cách chính thức. Thuật ngữ này không hoàn toàn trùng khít
lên các thuật ngữ k
ể trên nên chúng ta thường không dịch ra tiếng nước ngoài
với một từ gần giống mà vẫn giữ nguyên tiếng Việt của nó là DOI MOI. Trong
đổi mới, sự bảo tồn cái cũ hợp lý, bổ sung cái mới có chọn lọc, trình tự, bước

18
đi có sự tính toán. Đổi mới là nguyên tắc sống còn để phát triển, nhưng đổi
mới phải thận trọng, khéo léo, có chiến lược chiến thuật tiến hành.
Tính toàn diện của đổi mới ở Việt Nam thể hiện ở chỗ, từ đổi mới kinh tế
là chủ yếu làm tiền đề cho những đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội; từ đổi mới

vật, một hiện tượng nào đó hoàn thiện hơn, đúng đắn hơn so với cơ sở hình
thành ban đầu của nó. Nhận thức của con người không ngừng được bổ sung,
phát triển để phản ánh đúng thế giới khách quan, phù hợp với hoạt động thực
tiễn và đáp ứng nhu cầu cải t
ạo xã hội của con người. Để lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin ngày càng tràn đầy sức sống, những người cộng sản phải không
ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng
CNXH. Sự nghiệp xây dựng CNXH cũng là một quá trình phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, làm cho xã hội ngày một tiến bộ, văn minh, giàu có, con người
phát triển toàn diện.
Từ phân tích trên ta thấy, phát triển vừ
a được hiểu là công cụ, phương
tiện, vừa được hiểu là mục đích của quá trình đổi mới hiểu theo nghĩa rộng.
Khi xác định phát triển là công cụ, phương tiện thì người ta thường nhấn mạnh
vào các lĩnh vực hay vấn đề cụ thể; còn khi phát triển được xác định là mục
đích thì nó đòi hỏi tính toàn diện chứ không phải tập trung vào những vấn đề
hay lĩnh v
ực cụ thể nào.
Phát triển trong đề tài này không chỉ có nghĩa là công cụ, phương tiện,
cũng không chỉ là mục đích, mà điều quan trong hơn là hành động. Các chủ thể
xây dựng, phát triển xã hội phải chủ động, sáng tạo, tạo điều kiện cho các nhân
tố của xã hội, con người, kinh tế, văn hóa được phát huy cao độ, tạo ra tổng lực
thúc đẩy xã hội tiến lên.
Từ chiến tranh th
ế giới thứ hai, vấn đề phát triển được nhiều người quan
tâm, hơn nữa, nó dần dần trở thành công cụ hoạch định và quản lý rất nhiều
lĩnh vực trong xã hội, trở thành mục tiêu của sự tiến triển xã hội.
Tổng kết những bước gập gềnh, quanh co mà loài người vừa trải qua
trong thế kỷ XX, có thể rút ra một số kết luận cực kỳ quan trọ
ng là không thể

được cải thiện, không có tiến bộ, đa số dân chúng không có quyền làm chủ;
4. Tăng trưởng mất gốc: kinh tế tăng trưởng nhưng suy thoái về văn hóa
đạo đức, các giá trị văn hóa truyền thống bị phá vỡ; 3
Nguyễn Trọng Chuẩn, Iu.K.Pletnicốp, Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội, NXb Khoa học xã hội, 2009, tr.215


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status