7897
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Nguyễn Hữu Đạt
THƯ KÝ ĐỀ TÀI
Phan Quân
Lưu Thị Hà
Trương Quốc Hưng
CỘNG TÁC VIÊN
TS. Nguyễn Văn Lạng
TS. Trần Ngọc Liêm
Phạm Thanh Lộc
Lê Hồng Lĩnh
Vũ Văn Chiến
Vũ Quốc Công
Nguyễn Quốc Hoàng 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 1
VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 23
1. Tổng quan hoạt động thanh tra công tác quản lý và sử dụng đất đai
hiện nay 23
2. Những mặt làm được, những hạn chế, tồn tại thông qua hoạt động
thanh tra về công tác quản lý và sử dụng đất trong thời gian qua 272
2.1. Việc giải quyết của cơ quan Nhà nước, các cơ quan thanh tra nhà
nước đối với các tranh chấp phát sinh trong quản lý, sử dụng đất đai thời
gian qua 28
2.2. Những nguyên nhân làm phát sinh tình hình khiếu kiện, sai phạm,
liên quan đến đất đai thời gian qua 36
3. Một số nội dung thanh tra trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. 43
3.1. Thanh tra việc xây dựng quy hoạch đất đai 43
3.2. Thanh tra kế hoạch sử dụng đất 47
3.3. Thanh tra việc thu hồi đất 52
3.4. Thanh tra việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
54
3.5. Thanh tra việc đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất 55
4. Một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động thanh tra việc quản lý và sử
dụng đất đai hiện nay 58
5.2. Công tác tổ chức, điều hành của Trưởng Đoàn thanh tra và trách
nhiệm của thành viên Đoàn thanh tra đối với hoạt động thanh tra việc
quản lý, sử dụng đất đai 66
5.3. Về quy trình, các bước tiến hành thanh tra việc quản lý, sử dụng đất
đai 67
5.4. Về mối quan hệ giữa Trưởng đoàn thanh tra với Người ra quyết định
thanh tra 75
5.5. Về mối quan hệ của Đoàn thanh tra với các cơ quan, tổ chức hữu
quan khác 76
5.6. Một số kinh nghiệm rút ra qua quá trình tiến hành thanh trực tiếp
việc quản lý và sử dụng đất đai 77
Chương III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG THANH TRA QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI 87
1. Phương hướng đối với hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất
đai nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động này trong giai đoạn hiện
nay. 87
1.1. Phân định rõ thẩm quyền về thanh tra giữa các cơ quan thanh tra
trong việc quản lý, sử dụng đất đai 88
1.2. Tăng cường tính chủ động trong hoạt động thanh tra việc quản lý, sử
dụng đất đai 88
Thanh tra kinh tế - xã hội là một hoạt động thường xuyên, quan trọng
của cơ quan thanh tra nhà nước, là một khâu không thể thiếu trong chu trình
quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội. Ở một khía cạnh nào đó,
thanh tra kinh tế - xã hội góp phần thực hiện thành công các chính sách, mục
tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công
tác quản lý nhà nước trên các l
ĩnh vực kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua, hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội nói chung,
trong đó có hoạt động thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý và sử dụng đất đai nói riêng, đã góp
phần tích cực trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm
2
pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
về đất đai để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp
khắc phục; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà
nước trong lĩnh vực đất đai; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của c
ơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc
tế hiện nay, chúng ta cần có sự tổng kết, đánh giá những mặt làm được, những
tồn tại, hạn chế của công tác thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai trong
thời gian qua một cách toàn diệ
n, khách quan. Từ đó đưa ra những giải pháp
đổi mới hoạt động thanh tra, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và
sử dụng đất đai giai đoạn hiện nay.
Việc triển khai nghiên cứu đề tài “Hoạt động thanh tra góp phần nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai - Thực trạng và giải pháp” là
rất cần thiết, có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong tiến trình đổ
cứu của các đề tài trên đã góp phần hình thành những cơ sở
khoa học cho việc
nghiên cứu xây dựng các văn bản pháp luật về thanh tra. Tuy nhiên, đến nay
vẫn chưa có Đề tài khoa học đặt vấn về nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm
các cuộc thanh tra quản lý và sử dụng đất đai, để từ đó có cách nhìn nhận tổng
quát, rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả công tác thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đ
ai.
Trước yêu cầu của tình hình mới, việc nghiên cứu, tổng kết kinh
nghiệm một cách toàn diện về hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất
đai, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện mảng công tác này, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai trong giai đoạn
hiện nay là yêu cầu khách quan và cần thiết.
4. Danh mục các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
1. TS. Nguyễn Văn Lạng – Chuyên đề: Thực trạng và nguyên nhân
tham nhũng trong lĩnh vực đất đai. Năm 2007.
2. Nguyễn Kim Châu - Đề tài cơ sở: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
giải quyết các khiếu nại về nhà cửa do lịch sử để lại. Năm 1997.
5. Triển vọng áp dụng kết quả nghiên cứu
4
Đối với hoạt động thanh tra: Giúp cơ quan thanh tra nhà nước, các Đoàn
thanh tra và đội ngũ thanh tra viên có cách nhìn tổng quát, toàn diện hơn về
những ưu điểm, hạn chế của hoạt động thanh tra việc quản lý và sử dụng đất
đai giai đoạn hiện nay.
Đề tài cũng hướng tới việc đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những
khó khăn, vướng mắc trong hoạt động thanh tra việc quả
n lý và sử dụng đất
đai, đặc biệt là tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp, kéo dài liên quan
đến lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai của tổ chức cá nhân. Tổng kết, đưa ra
6
7
Chương I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH
TRA TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
1. Quản lý nhà nước về đất đai và đặc điểm quản lý, sử dụng đất
đai ở Việt Nam
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước
được hiểu dưới nghĩa hẹp bao gồm ba khâu chủ yếu, đó là việc ban hành các
chính sách pháp lu
ật, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đã được ban hành
và tổ chức kiểm tra việc thực hiện đối với các chính sách, pháp luật đó. Công
tác quản lý nhà nước về đất đai cũng có thể khái quát thành ba khâu chủ yếu
như trên. Trong quản lý về đất đai, có sự phân cấp một cách cụ thể, trong đó:
Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sử hữu toàn dân về đấ
t đai thống nhất
quản lý về đất đai, có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản
lý nhà nước về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ năng
lực, bảo đảm quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả. Quốc hội ban hành pháp
luật về đất đai, quyết định quy hoạch, k
ế hoạch sử dụng đất của cả nước; thực
hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong cả
nước. Chính phủ quyết định qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích
an ninh, quốc phòng; thống nhất quả
n lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả
nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong
việc quản lý nhà nước về đất đai. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát
việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương. Uỷ ban nhân dân các cấp
toàn dân về đất đai được xác lập dựa trên hai phương diện chủ yếu của quan
hệ đất đai. Một là: Đất đai là lãnh thổ quốc gia, là tài nguyên vô giá không thể
thay thế được của quốc gia. Đó cũng là kết quả của quá trình chinh phục, chế
ngự tự nhiên, chống giặc ngoại xâm của cả dân tộc Việt Nam từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Do đó, Nhà nước và mọ
i tổ chức, công dân phải có trách
nhiệm bảo vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên quốc gia quý báu này. Hai là: Đất đai
là tư liệu sản xuất đặc biệt, là kết quả của đầu tư lao động, vốn, công sức cải
tạo của người lao động cụ thể. Vì vậy, người sử dụng đất không thể là một
khái niệm chung chung mà phải hết sức cụ thể và được hưởng các lợi ích thi
ết
thực.
9
Các yếu tố đó đòi hỏi việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
phải bảo đảm cho Nhà nước can thiệp vào quan hệ đất đai với tư cách là người
đại diện chủ sở hữu và quản lý tối cao đối với đất đai và dưới sự quản lý thống
nhất của Nhà nước thì đất đai với tính cách là tư liệu sản xu
ất đặc biệt phải
thuộc về người chủ cụ thể và có chủ sử dụng cụ thể. Mối quan hệ này phải là
một sự thống nhất hài hòa giữa các quyền năng, vai trò tối cao của Nhà nước
với các quyền cụ thể của người sử dụng đất.
Chính vì vậy, khi xác định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai cần
ph
ải hướng tới các yêu cầu, nguyên tắc sau:
- Luật pháp hóa trong việc qui định vai trò của Nhà nước với tư cách là
đại diện chủ sở hữu và là người thống nhất quản lý toàn bộ đất đai.
- Xác định rõ vai trò của tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá
nhân với tính cách là người sử dụng cụ thể trong quản lý, sử dụng đất.
- Thiết lập mối quan hệ cụ thể
nh về hạn mức giao đất và
thời hạn sử dụng đất. Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất. Định giá đất. Bên cạnh đó, Nhà nước thực hiện
quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về
đất đai, bao gồm: Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Thu thuế sử
dụng đất,
thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất. Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ
đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Một khía cạnh nữa
thể hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước, đó là
việc Nhà nước trao quyền sử dụng đấ
t cho tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở
tôn giáo, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định;
và qui định quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất.
1.2.2. Về quản lý nhà nước đối với đất đai, Luật Đất đai n
ăm 2003 cũng
đã qui định rõ Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai, trên các nội dung chủ
yếu sau: Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và
quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc,
đánh giá, phân hạng đất; l
ập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
và bản đồ qui hoạch sử dụng đất. Quản lý qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
11
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Quản lý tài chính về đất
đai. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử
12
đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tài chính về đất đai và giá đất. Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản. Tổ chức cơ quan quản lý đất đai. Thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Đó chính là những vấn đề quan tr
ọng và đã được Luật Đất đai năm
2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật Đất đai qui định chi tiết, chặt chẽ về căn cứ, nội dung, thẩm quyền
và trình tự, thủ tục thực hiện. Có thể nói, chế định quyền của Nhà nước đối
với đất đai và quản lý nhà nước về đất đai, cũng chính là nộ
i dung thể hiện
những điểm mới quan trọng nhất của Luật Đất đai năm 2003 so với các Luật
Đất đai trước đây.
1.3. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Người sử dụng đất, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, có các
quyền và nghĩa vụ chung sau: Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất. Hưởng các lợi ích do công
trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp. Được Nhà nước hướng
dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp. Được Nhà nước bảo
hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình.
Khiếu nại, t
ố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp
pháp của mình và những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Song song với việc có các quyền chung nói trên, người sử dụng đất phải
thực hiện các nghĩa vụ chung sau đây: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh
giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiề
u cao
với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất Trong khi đó, một số người sử
dụng đất khác như: tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng
đất, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư lại hoàn toàn không
được thực hiện
các quyền trên (không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho
quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử
dụng đất ).
Tóm lại, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với tính chất và đặc điểm
riêng biệt của nó là yếu tố mang tính nền tảng qui định, xác lập phương thức,
14
nội dung thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai cũng như việc giải quyết tranh
chấp, khiếu nại về đất đai
2. Thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai là một trong những nội
dung quan trọng của quản lý, sử dụng đất đai.
Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là một khâu
trong quá trình quản lý nhằm giúp cơ quan quản lý phát hi
ện những khuyết
thiếu trong quá trình ban hành, triển khai, thực hiện chỉ đạo, điều hành, pháp
luật của Nhà nước từ đó có những biện pháp chấn chỉnh quản lý, kịp thời xử lý
các sai phạm. Thanh tra việc quản lý và sử dụng đất đai là một lĩnh vực trong
hoạt động thanh tra kinh tế-xã hội. Thực tế, về thanh tra kinh tế xã hội có
nhiều quan điểm khác nhau và mặc dù ngành Thanh tra đã có l
ịch sử ra đời và
phát triển hơn 60 năm, nhưng đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật về
thanh tra nào đưa ra khái niệm này. Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động và nội
hàm của khái niệm có thể hiểu thanh tra kinh tế xã hội là loại hình thanh tra
việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trên lĩnh vực kinh tế - xã hội trong phạm vi quản lý của Nhà nước.
Trong hoạ
pháp luật khác, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, quyết định mục đích sử
dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụ
ng đất, kế
hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất;
quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất; định giá đất; thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông
qua các chính sách tài chính như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu thu
ế,
các khoản thu nhập từ quyền sử dụng đất, điều tiết phần giá trì tăng thêm từ
đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Đối với mỗi cơ quan
nhà nước, đều được qui định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
mình. Trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất th
ực hiện
việc ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của cả nước tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý và sử dụng đất đai,
đồng thời, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng
đất đai trong phạm vi cả nước. Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử
dụ
ng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử
16
dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về
đất đai trong phạm vi cả nước. Bộ Tài nguyên và môi trường chịu trách nhiệm
trước Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về đất đai. Hội đồng nhân dân
các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa
phương. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ
sở hữu về đất
đai và quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền về lãnh thổ.
Đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, được hiểu là người sử
pháp luật quy định cho người sử dụng đất đai hay không… Đồng thời, thanh
tra, kiểm tra cũng nhằm xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai,
nhằm đảm bảo đất đai
được sử dụng đúng mục đích và đạt hiệu quả cao nhất.
Như vậy, có thể hiểu rằng: thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai là
loại hình thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về quản lý và sử
dụng đất đai của các cơ quan được pháp luật được trao quyền quản lý về đất
đai, đồng thời thanh tra việc sử dụng dụng đất đai c
ủa Người sử dụng đất
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
Trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý thì hoạt động thanh tra, kiểm tra là rất cần thiết, là một chức năng thiết
yếu, một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, ngay cả khi
đến một lúc nào đó, nếu chính sách, pháp luật có qui định khác thì thanh tra,
kiểm tra v
ề đất đai cũng là cần thiết, vì giả sử nếu Nhà nước trao quyền sở hữu
tư nhân về đất đai cho tư nhân thì Nhà nước vẫn là người đưa ra qui hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai, chính sách tài chính về đất đai… Đồng thời, người sở
hữu đất đai vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của mình
đối
với phần đất mà mình sở hữu.
Một vấn đề cần đặt ra là thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai không
chỉ hiểu đơn thuần là một lĩnh vực thanh tra kinh tế - xã hội mà thực tế, theo
qui định của pháp luật, thanh tra quản lý, sử dụng đất đai còn có nhiệm vụ giải
quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. Do đó, trong ph
ạm vi đề tài
này, hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai còn bao hàm cả nhiệm
vụ giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai.
3. Vai trò của hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai
trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
trò rất quan trọng. Thông qua hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai
giúp cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật về
đất đai; xây dựng
bộ máy quản lý nhà nước về đất đai trong sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu
quả; ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về quản
lý, sử dụng đất đai.
19
3.1. Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần
phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
đất đai; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật đất đai của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai có vai trò quan trọng trong việc
ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử
dụ
ng đất. Trong tiến trình phát triển của đất nước và đặc biệt trong những năm
đổi mới, quyền sử dụng đất đai giữa các hộ dân cư và các tổ chức xã hội luôn
biến động. Sự biến động này đã tác động đến quyền và lợi ích kinh tế, xã hội
của họ làm cho tình hình tranh chấp đất đai và các sai phạm phát sinh trong
công tác quản lý, sử dụng đất đai diễn biến rấ
t đa dạng, phức tạp. Bên cạnh đó,
các chính sách của nhà nước về đất đai chưa hoàn thiện đã làm cho việc giải
quyết tranh chấp trở nên phức tạp, không ít nơi phát sinh khiếu kiện, các sai
phạm, tiêu cực liên quan đến đất đai rất gay gắt, nhiều vụ việc tiêu cực nổi
cộm gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự địa phương
và công tác quản lý Nhà nước trong lĩ
nh vực quản lý và sử dụng đất đai. Việc
ngăn ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm khắc những hành vi vi phạm pháp luật
về quản lý, sử dụng đất đai vừa là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo an
ninh, trật tự ở địa phương, vừa là nhiệm vụ không thể thiếu để bảo vệ quyền,
văn bản pháp luật, cơ chế chính sách khi đi vào thực tế đã phát sinh những sơ
hở, dễ bị lợi dụng để trục lợi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý đất
đai của nhà nước cũng như việc thực hiện quyền của người dân trong sử dụng
đất. Thông qua hoạt động thanh tra quản lý, sử dụng đất đai, cơ quan có thẩm
quyền có
điều kiện để phát hiện những sơ hở, khiếm khuyết của hệ thống pháp
luật và cơ chế chính sách về đất đai để có những cảnh báo kịp thời thông qua
việc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách
nhằm hạn chế tình trạng tiêu cực trong quản lý đất đai, cũng như sự lãng phí
trong việc sử dụ
ng tài nguyên đất, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong
việc quản lý, sử dụng đất đai.
3.3. Hoạt động thanh tra việc quản lý, sử dụng đất đai góp phần
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, phát triển kinh tế, ổn định xã hội.
21
Quản lý, sử dụng đất đai là lĩnh vực xảy ra nhiều tham nhũng và số
lượng tài sản nhà nước bị mất là vô cùng lớn. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, khi đất đai trở thành hàng hoá có giá trị đặc biệt lớn thì trong quản lý
và sử dụng đất đai, tham nhũng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Tuỳ mức độ
khác nhau nhưng không chỉ đất đai ở đô th
ị mà cả ở vùng nông thôn đều bị lấn
chiếm, cấp phát, mua bán, chuyển nhượng tuỳ tiện và không quản lý được,
gây thát thoát nghiêm trọng tài sản quốc gia về giá trị đất cũng như thuế
chuyển quyền sử dụng đất. Qua công tác thanh tra việc quản, lý sử dụng đất
đai sẽ góp phần hiệu quả trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong
lĩnh vực này.
Nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể
xây dựng thành công và phát triển vững chắc nếu bộ máy nhà nước trong sạch,