Đề tài : Quản lý công mới và việc ứng dụng vào nền hành chính Việt Nam - Pdf 13

Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2010
Tên đề tài: Quản lý công mới và việc ứng dụng
vào nền hành chính Việt Nam
Mã số: B.10-34

Cơ quan chủ trì: Học viện Hành chính
Chủ nhiệm: ThS. Đoàn Văn Dũng
Th ký: ThS. Phùng Thị Phong Lan
8269 H Nội - 2010
Lực lợng nghiên cứu


Việt Nam
72
2.3. Các định hớng ứng dụng quản lý công mới 75
2.4. Các giải pháp ứng dụng quản lý công mới vào nền hành chính Việt Nam 75
2.4.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức
về vai trò của quản lý công mới trong cải cách hành chính
78
2.4.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về công vụ ở nớc ta 78
2.4.3. Hoàn thiện chu trình công vụ 90
2.4.4. áp dụng các nguyên tắc xây dựng và cải cách thể chế của quản lý công
mới

91
2.4.5. Xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả, kết quả đầu ra của hoạt động
quản lý nhà nớc
93
2.4.6. Chuyển quản lý nhân sự hành chính sang quản lý nguồn nhân lực hành
chính
104
2.4.7. Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công 115
2.4.8. Mở rộng việc áp dụng các hình thức hoạt động của khu vực t vào hành
chính công
119
2.4.9. Xây dựng lộ trình phân cấp quản lý phù hợp cho các cấp chính quyền 123
2.4.10. Xây dựng hệ thống thể chế tạo điều kiện cho khu vực ngoài tham gia
vào hoạt động quản lý nhà nớc
124
Kết luận 129
Tài liệu tham khảo 130


đó. Với cách nhìn này thì nhân dân là khách hàng của nền hành chính, họ là ngời
đánh giá khách quan và công tâm nhất về sự phục vụ của nhà nớc, của bộ máy
hành chính.

2
Có thể nói, những đổi mới to lớn trong nền công vụ nớc ta trong những năm
qua đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nớc trên các phơng
diện, góp phần vào sự phát triển chung của đất nớc. Tuy nhiên, nền hành chính
của nớc ta nhìn chung vẫn còn nhiều dấu ấn của hành chính công truyền thống,
mô hình quản lý công mới cha đợc thể hiện rõ trong các hoạt động công vụ. Mặt
khác, những yếu tố của mô hình quản lý công mới đợc áp dụng ở Việt Nam cũng
cần đợc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả thực sự và đa ra các định hớng điều
chỉnh. Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi nền hành chính cần có sự chuyển
mình mạnh mẽ, vận động theo mô hình quản lý công mới. Sự chậm trễ trong cải
cách hành chính càng đặt ra yêu cầu bức thiết hơn cho việc tìm các hớng cải cách
hành chính. Công cuộc cải cách đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng thời gian
phát triển mạnh. Làm thế nào để thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, nền hành
chính Việt Nam cần định hớng vận động theo mô hình nào rõ ràng là một vấn đề
lớn cần đợc nghiên cứu. Mặt khác, mô hình quản lý công mới đã khẳng định đợc
vai trò của mình song trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, mô hình này cần
đợc vận dụng nh thế nào cũng là câu hỏi cha có câu trả lời thoả đáng.
áp dụng quản lý công mới đã trở thành xu thế chủ đạo trong định hớng đổi
mới hoạt động chính phủ của các quốc gia trên thế giới. Những thay đổi to lớn về
kinh tế - xã hội ở nớc ta trong năm qua, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế càng
đặt ra vấn đề đổi mới hoạt động quản lý nhà nớc, đổi mới hoạt động của chính phủ
và hệ thống hành chính để tiếp tục duy trì và thúc đẩy sự phát triển. Những thành
tựu của việc áp dụng quản lý công mới ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy việc
áp dụng mô hình này có thể đợc xem là một định hớng cho việc đổi mới nền
hành chính nớc ta.
Tr

Bowornwathana, Bidthya, NXB Edward Elgar, 2001, trong đó giới thiệu, so sánh hệ
thống công vụ của một số nớc châu á, và thực tiễn cải cách công vụ ở các nớc
châu á; "Civil Service Reform"
, của Constance Horner, Patricia W. Ingraham,
Ronald P. Sanders, NXB Brookings Inst Pr, 1996, đề cập đến các xu hớng cải cách
công vụ, trong đó chủ yếu là ứng dụng những thành tựu của quản lý khu vực t vào
quản lý khu vực công; "Decentralizing the Civil Service" của A. Massey,
J.McMillian, P. Carmichael, R.A.WRhodes, Nxb McGraw Hill, 2003, đề cập đến
quá trình cải cách công vụ ở Anh; "Civil Service Reform in the States" của J.
Edward Kellough, Lloyd G.Nigro, Nxb, trong đó các tác giả đề cập đến quá trình
cải cách công vụ ở Mỹ những năm 1990 Nhìn chung, các công trình nghiên này

4
tập trung phân tích vào cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình cải cách công vụ,
các xu hớng cải cách công vụ, trong đó nhấn mạnh việc áp dụng các quy tắc của
quản lý khu vực t vào quản lý khu vực công, chuyển từ nền hành chính truyền
thống sang nền hành chính phát triển
Báo cáo Giải phóng tiềm năng con ngời cho hành chính công, (Báo cáo
quốc tế về hành chính công năm 2005) của Liên hợp quốc về khu vực công) đã đa
ra ba mô hình công vụ tơng đối phổ biến trên thế giới hiện nay là hành chính
công (public administration), quản lý công (public management) và chính phủ
đáp ứng (responsive government). Mô hình quản lý công vẫn đợc xem là một
định hớng đổi mới quan trọng cho các nền hành chính. Với các quốc gia đang
phát triển có nền hành chính còn mang những dấu ấn của hành chính công truyền
thống nên áp dụng những chuẩn mực của quản lý công mới để tạo ra sự chuyển
biến mới trong các hoạt động công vụ.
Cuốn sách Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới
cạnh tranh của S. Chiavo-Campo và P.S.A. Sudaram là một công trình nghiên cứu
khá toàn diện các nội dung có liên quan đến quản lý công mới. Các tác giả đã chỉ
rõ bối cảnh hành chính công thế kỷ XXI với sự tác động của toàn cầu hóa, phi tập

yếu tố của thị trờng vào hoạt động quản lý của nhà nớc (quản lý công).
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Cải cách hành chính ở Việt Nam - Các u tiên giai
đoạn 2006-2010 đợc tổ chức trong hai ngày 24 và 25 tháng 11 năm 2007 tại Hà
Nội. Các tham luận đã phân tích tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
đến nền hành chính Việt Nam, và định hớng đổi mới là cần phải nâng cao tính
minh bạch, trách nhiệm giải trình, dân chủ hoá và đẩy mạnh quá trình phân cấp
quản lý. Đó cũng chính là những yếu tố quan trọng của quản lý công mới có thể áp
dụng vào Việt Nam.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu về quản lý công mới ở Việt Nam cho
đến thời điểm này vẫn còn khá tản mạn, mới phản ánh đợc một hoặc một số khía
cạnh của mô hình quản lý công mới, những yếu tố của quản lý công mới ở Việt
Nam. Việc đánh giá những thành tựu, những hạn chế và chỉ ra những định hớng
đổi mới nền công vụ Việt Nam theo mô hình quản lý công mới vì vậy cần đ
ợc
nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hơn, để góp phần thúc đẩy tiến trình cải
cách hành chính ở Việt Nam.

6
3. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hoá đợc quan niệm quản lý công
mới, đánh giá những tiềm năng, triển vọng áp dụng vào nền hành chính của Việt
Nam, đánh giá thực trạng những yếu tố quản lý công mới xuất hiện trong nền công
vụ của nớc ta, xác định những định hớng, giải pháp để thúc đẩy mô hình quản lý
công mới ở Việt Nam phát triển.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tợng nghiên cứu: Nội dung lý thuyết quản lý công mới và các mô hình
áp dụng quản lý công mới của một số quốc gia trên thế giới;
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Các nội dung quản lý công mới từ những 80 trở lại đây;
- Đánh giá cải cách hành chính ở Việt Nam từ giai đoạn thực hiện Chơng

giai đoạn, trớc và sau khi áp dụng;
- Phơng pháp phân tích tài liệu: Tìm hiểu các nghiên cứu đã có về mô hình
quản lý công mới ở Việt Nam, đánh giá các quan điểm của các tác giả, những điểm
hợp lý và cha hợp lý từ đó đa ra các kiến giải theo cách tiếp cận của nhóm
nghiên cứu;
- Phơng pháp điều tra xã hội học: Thu thập các dữ liệu về kết quả áp dụng
một số yếu tố mang tính chất quản lý công mới; thu thập quan điểm, đánh giá của
cán bộ, công chức về hiện trạng, triển vọng áp dụng mô hình quản lý công mới ở
Việt Nam.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu nếu đợc triển khai sẽ có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực
tiễn.
+ Về ý nghĩa lý luận:
- Đề tài sẽ góp phần vào lý luận hành chính công về quản lý công mới qua
thực tiễn của Việt Nam, chỉ ra đợc những nhân tố tác động đến thành công hay
hạn chế của việc áp dụng mô hình quản lý công mới.
+ Về ý nghĩa thực tiễn:
- Đề tài đa ra những giải pháp thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính ở Việt
Nam theo mô hình quản lý công mới.

8
Chơng 1
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Và THựC TIễN Về QUảN Lý CÔNG MớI
1.1. Nhận thức chung về quản lý công mới
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, cải cách theo Quản lý công mới (New Public
Management), chủ nghĩa quản lý mới (Hood, 1991; Dunleavy và Hood, 1994;
Pollitt, 1993; Ferlie, 1996) đã đợc áp dụng ở các nớc phát triển, các nớc chuyển
đổi và các nớc đang phát triển khi mà vai trò và đặc trng thể chế của nhà nớc và
khu vực công ngày càng chịu áp lực mạnh mẽ hơn từ thị trờng và tác động của
khu vực t. Nhìn lại lịch sử quá trình hình thành và phát triển của quản lý công mới

nhau. Quản lý công mới đợc định nghĩa khái quát nh một tầm nhìn, một học
thuyết, một tập hợp các kỹ thuật quản lý đợc chuyển hóa từ khu vực t nhân vào
khu vực công [17, tr. 3]. Nói cách khác, quản lý công mới đợc xem nh phần cốt
yếu của t tởng quản lý hay học thuyết quản lý dựa trên những ý tởng đợc hình
thành từ khu vực t nhân và đợc đem áp dụng vào khu vực công (Hood, 1991,
1995). Tuy nhiên, lý thuyết quản lý công mới có nội dung cụ thể và toàn diện hơn.
Nh Hood sau này khẳng định, hai định hớng lớn của quản lý công mới là sự kết
hợp của hai dòng t tởng định hớng thị trờng, quản lý theo mô hình hiệu quả
trong khu vực công và sự kế thừa của khoa học quản lý truyền thống. Quản lý
công mới chính là một lý thuyết về hành chính dựa trên ý tởng về chuyên nghiệp
hóa hoạt động quản lý hành chính với sự phân quyền hợp lý hớng đến kết quả đầu
ra thông qua sự phát triển các định hớng giá trị công vụ và các tiêu chuẩn đánh giá
kết quả hoạt động của tổ chức công [18, tr. 104].
Nghiên cứu về quan niệm, định nghĩa về quản lý công mới của các học giả
trên thế giới về lĩnh vực này cho thấy cách tiếp cận về quản lý công mới không
hoàn toàn đồng nhất. Định nghĩa về quản lý công mới của Hood cha khắc họa vấn
đề quyền của khách hàng (công dân) một cách rõ ràng. Hiến chơng về công dân
đã khẳng định tầm quan trọng của công dân - khách hàng trong quan hệ với nhà
nớc và sự chuyển biến từ công dân thành khách hàng của nền hành chính trở thành
điểm đặc trng quan trọng của quản lý công mới. Cách tiếp cận của Osborne và
Gaebler có sự khác biệt quan trọng trong việc nhấn mạnh từ cách tiếp cận khái quát
quản lý công, đặc biệt là từ hệ t tởng chính trị liên quan mật thiết đến các nội
dung của quản lý công mới. Tuy nhiên, bên cạnh những khác biệt này nhng
chúng ta có thể tìm ra những điểm gặp nhau quan trọng trong quan niệm của các

10
học giả. Điều này có đợc thể hiện qua bảng tóm tắt các quan niệm về quản lý
công mới của các tác giả hàng đầu trong lĩnh vực này.
Hood, 1991;
Dunleavy và

của các cơ
quan trung
ơng
Phân quyền
quản lý thúc đẩy
sự năng động
trong quản lý,
giảm bớt các
tầng nấc trung
gian
Thay đổi để giảm
bớt sự tập trung
bằng các hình
thức tơng tự hợp
đồng hoặc tơng
tự thị trờng
Giảm sự tập
trung quyền lực
trớc đây mà
thay vào đó là sự
phân công, phân
quyền cho các
cơ quan ở trung
ơng và địa
phơng
Xác định vai trò
quản lý chiến
lợc và các hoạt
động quản lý cụ
thể

phơng thức
thúc đẩy cạnh
tranh vào khu
vực công
Cạnh tranh trong
khu vực công,
cạnh tranh trong
nội bộ và cạnh
tranh với các
chủ thể cung
ứng dịch vụ
công khác
áp dụng các kinh
nghiệm quản lý
trong khu vực t
nhân
Xác định cụ thể
vai trò của ngời
cung ứng và
ngời tiếp nhận
dịch vụ công
Phân biệt rõ
nguồn lực công
và các quy định
về dịch vụ công
Hợp tác công
t trong thực
thi các nhiệm
vụ của khu
vực công

Định hớng
khách hàng
Các tiêu chuẩn rõ
ràng và đánh giá
hiệu quả
Mục tiêu hiệu
quả thực hiện
Các phơng
pháp minh bạch
hơn để đánh giá
hiệu quả
Các tổ chức và
công dân đánh
giá mức độ đạt
đợc mục tiêu,
kết quả hoạt
động của hệ
thống công vụ
Chính phủ định
hớng kết quả
đầu ra; ngân
sách đầu t theo
kết quả đầu ra
thay vì yếu tố
đầu vào
Nhấn mạnh vào
tính kỹ thuật và
hiệu quả sử dụng
nguồn lực công;
điều chỉnh lại các

hành chính
Chính phủ định
hớng thị
trờng: thay đổi
tác động đòn
bẩy thông qua
thị trờng
Giảm bớt các
quy định, thủ
tục nặng nề
Chính phủ dự
báo, phòng tránh
hơn là đối phó

Để có sự hình dung cụ thể hơn về định hớng cải cách khu vực công theo
quản lý công mới, chúng ta có thể sơ đồ hóa quá trình chuyển hóa từ hành chính
công truyền thống sang quản lý công mới.

12

Lý thuyết: Sự lựa chọn
công
(Public choice theory) 13
Khu vực công học tập khu vực t. Vận dụng nhiều hơn nữa các công cụ quản
lý của khu vực t vào Hành chính công.
- Cải cách nội bộ nền hành chính:
Cải cách về hệ thống thể chế.
Cải cách về tổ chức hành chính.
Cải cách về nhân sự.
Cải cách về tài chính.
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi: Quản lý công mới với ý nghĩa là lý
thuyết về mô hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động,
nhạy bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và dịch vụ tối đa trong
các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và những quan hệ quốc tế ngày
càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau.
1.1.2. Các đặc trng của quản lý công mới
1.1.2.1. Hiệu quả hoạt động quản lý
Trong mô hình mới, vai trò của khoa học quản lý và các nhà quản lý nhất là
các nhà quản lý theo lối quản trị doanh nghiệp đợc đề cao và chính nó là yếu tố
quyết định việc đạt đợc mục tiêu của quản lý. Nếu nh trong nền hành chính
truyền thống, các nhà hành chính chủ yếu là làm nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh và
làm theo các quy tắc có sẵn thì ngày nay với t cách là nhà quản lý, họ phải tính
toán, dự đoán, sáng tạo, năng động để đạt đợc mục tiêu. Vì mục tiêu phải đạt là
hiệu quả của hoạt động quản lý, các nhà hành chính bên cạnh việc quan tâm đến
chu trình, phơng pháp mà còn quan tâm đến mục đích có đạt đợc hay không, cụ
thể là hiệu quả đợc lợng hóa, đánh giá bằng các chỉ tiêu đánh giá dựa trên so

trách nhiệm, thẩm quyền nhiều hơn cho các đơn vị chính quyền địa phơng (phân
quyền lãnh thổ) hay cho các bộ và các đơn vị tổ chức bên dới (phân quyền chức
năng) trong việc chủ động quản lý các nguồn lực đợc phân bổ trong phạm vi thẩm
quyền, đồng thời đề cao mối quan hệ giữa chính phủ với các bộ phận hoạch định
chính sách, giữa cấp hoạch định chính sách với cấp thi hành. Sự độc lập ngày
càng cao giữa chính phủ và các cấp chính quyền địa phơng trở thành pháp nhân
công quyền đi liền với sự củng cố mạnh mẽ vai trò trung tâm của chính phủ và thủ
tớng tạo ra những chính sách và ph
ơng pháp quản lý năng động, thích ứng với
môi trờng luôn luôn biến động.
Phân quyền trong cải cách hành chính nhằm đạt đợc năm mục đích sau:

15
- Tăng cờng hoạch định chính sách ở cấp hành chính trung ơng bằng cách
giảm bớt các hoạt động có tính chất tác nghiệp;
- Phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phơng làm cho nền
hành chính sát và phù hợp hơn với đặc điểm kinh tế - xã hội địa phơng;
- Phát triển dịch vụ đa dạng hơn theo hớng ngời tiêu dùng là khách quan;
làm cho dịch vụ công có hiệu quả cao;
- Phát triển nền dân chủ, tăng cờng sự tham gia của công dân trong nền hành
chính công;
- Thúc đẩy sự công bằng, trách nhiệm giải trình giúp cho công dân dễ dàng
giám sát hoạt động của các nhà chức trách.
1.1.2.4. áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trờng
áp dụng các yếu tố của cơ chế thị trờng nh cạnh tranh, đấu thầu, tính hiệu
quả, lợng hóa, so sánh kết quả/chi phí, công dân là khách hàng của nền hành
chính, làm cho nền hành chính trở nên năng động, đa dạng, phong phú, thoát khỏi
vỏ ốc quan liêu truyền thống của một bộ máy th lại cũ.
1.1.2.5. Gắn bó với chính trị, với chính phủ, nhà nớc và nền hành chính nhà
nớc

nhân theo cơ chế thị trờng, song trong xã hội hiện đại và nền kinh tế thị trờng,
nền hành chính công có thể và đã vận dụng nhiều phơng pháp quản lý của các
doanh nghiệp t nhân (thuộc chức năng hành chính của quản lý mà Henry Fayol đã
nói), nhất là phơng pháp quản lý hiện đại. Đó cũng là đòi hỏi khách quan của hiệu
quả, chất lợng và sự linh hoạt trong đáp ứng các dịch vụ cho yêu cầu ngày càng
tăng của công dân cả về số lợng và chất lợng.
1.1.2.8. Xu hớng quốc tế hóa
Sự quốc tế hóa đời sống kinh tế - xã hội cũng ảnh hởng đến nền hành chính
công. Các nớc phải điều chỉnh nhiều quy định pháp luật theo pháp luật và thông lệ
quốc tế đối với các vấn đề mang tính toàn cầu, đặc biệt là những vấn đề xã hội. Nền
hành chính phát triển là nền hành chính h
ớng đến gánh vác những nghĩa vụ chung
của nhân loại. Nói cách khác, nền hành chính công trong quản lý công mới là nền
hành chính công mở, không chỉ quản lý tốt trong nớc mà còn hớng đến thực hiện
các trách nhiệm của quốc gia.
1.1.2.9. Hiện đại hóa nền hành chính
Quản lý công mới hớng đến việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào quản
lý, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, kịp thời đáp ứng các yêu cầu của công
dân và tổ chức. Các công nghệ áp dụng vào nền hành chính công không chỉ là các

17
phơng tiện khoa học kỹ thuật mà quan trọng hơn là các phơng pháp quản lý hiện
đại.
Để thấy rõ hơn những đặc trng của quản lý công mới so với hành chính công
truyền thống, chúng ta có thể so sánh hai mô hình lý thuyết này trên một số tiêu
chí.

Hành chính công truyền thống Quản lý công mới
Mục tiêu
- Bảo đảm đúng chu trình, đúng

bảo đảm thực hiện mục đích,
đạt kết quả tốt, hiệu quả cao;
- Những quy định, điều kiện để
công chức thực thi nhiệm vụ có
hình thức linh hoạt, mềm dẻo
hơn;
- Thời gian làm việc sẽ linh
hoạt, có thể suốt đời họ làm
việc, trong một thời gian nhất
định, có thể làm chính thức
hoặc hợp đồng;
- Công chức cam kết về mặt
chính trị cao hơn trong các hoạt
động của mình, trong các hoạt
động hành chính mang tính
chính trị nhiều hơn
Đối với Chính
phủ
- Công vụ đợc chính phủ thực
hiện, giải quyết theo quy định của
- Công vụ mang tính chất chính
trị nhiều hơn, ảnh hởng của

18
pháp luật;
- Chức năng của chính phủ nặng
về hành chính xã hội, trực tiếp
cung ứng các công việc công ích
xã hội;
- Chức năng của chính phủ thuần

nghiệp của công chức đã đợc đề cập đến trong mô hình hành chính truyền thống.
Tuy nhiên, trong quản lý công mới, tính chuyên nghiệp này đợc thể hiện một cách
toàn diện hơn. Tính chuyên nghiệp của các nhà quản lý thể hiện ở năng lực xây
dựng, hoạch định chính sách, năng lực ra quyết định, năng lực tổ chức công việc
khoa học. Một hành chính chuyên nghiệp chính là một nền hành chính có những

19
quyết sách, hành động đúng với yêu cầu thực tiễn. Nền hành chính chuyên nghiệp
là nền hành chính định hớng phục vụ, phục vụ cho lợi ích công và cho quá trình
phát triển. Mặt khác, nền hành chính chuyên nghiệp sẽ tập trung hoàn thành những
nhiệm vụ đúng với vai trò của mình, ngời lái thuyền chứ không phải ngời chèo
thuyền.
1.1.3.2. Quan niệm về các giá trị cần hớng tới của một nền hành chính hiện
đại
Định hớng giá trị chung của nền công vụ có thể xem là một yếu tố quan
trọng trong tổ chức quản lý. Mô hình hành chính truyền thống, hành chính quan
liêu của Marx Webber dựa trên những giá trị cụ thể về hiệu lực, sự tuân thủ về thủ
tục thì quản lý công mới hớng tới những giá trị mới. Các giá trị mà quản lý công
mới hớng tới đợc khái quát ở các giá trị cơ bản: Tính hiệu quả, sự chuyên nghiệp
trong quản lý, kết quả đầu ra, chất lợng, định hớng phục vụ công dân - khách
hàng, quan hệ thị trờng, các cam kết về chất lơng dịch vụ Có thể nói hệ thống
những giá trị chung mà một nền hành chính hiện đại cần hớng tới là cơ sở để t
duy lại, nhận thức lại về tổ chức và hoạt động của các nền hành chính công trên thế
giới. Nỗ lực cải cách hành chính ở các quốc gia trên thế giới hiện nay thực tế cũng
đang hớng tới hiện thực hóa các giá trị mà quản lý công mới đã xác định, để
hớng tới một nền hành chính phục vụ, đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của
công dân và quan trọng là thúc đẩy sự phát triển của quốc gia trong bối cảnh toàn
cầu hóa.
1.1.3.3. Mô hình tổ chức quản lý phẳng hơn
Mô hình hành chính quan liêu với quá nhiều thứ bậc đã trở thành gánh nặng

tiêu chuẩn thực thi trong các nghiên cứu quản lý công mới đợc xây dựng vào
những năm 80 của thế kỷ XX.
Đánh giá hiệu quả thực thi và tiêu chuẩn thực thi công vụ là sự thể hiện tập
trung quan điểm về đánh giá kết quả đầu ra của nền công hành chính. Nếu hành
chính công truyền thống tập trung vào yếu tố đầu vào và quá trình thủ tục thì quản
lý công mới hớng tới đánh giá kết quả đầu ra. Việc đánh giá hiệu quả thực tế
không đơn giản nh quan niệm lợng hóa chi phí/kết quả bởi tính đa dạng của hoạt
động hành chính và mức độ ảnh hởng của các quyết định hành chính, hành vi
hành chính không thể dễ dàng tính toán bởi có thể những điều này có thể ảnh
hởng lâu dài. Chính vì vậy, quản lý công mới cho rằng cần phải đánh giá theo các
tiêu chí tĩnh và các tiêu chí động nghĩa là nhìn vấn đề dới góc độ phát triển. Các

21
tiêu chuẩn thực thi của nền công vụ đợc các nhà nghiên cứu xem xét một cách
toàn diện từ nhiều góc độ trong đó đặc biệt chú ý đến khía cạnh hiệu quả, sự hài
lòng của khách hàng (công dân, tổ chức) và tính không ngừng đổi mới, nâng cao
chất lợng của nền công vụ.
Đánh giá hiệu quả thực thi và tiêu chuẩn thực thi công vụ có nhiều ý nghĩa và
thực sự là bớc đột phá trong tổ chức nền hành chính công. Những quan niệm định
tính về chất lợng hoạt động của nền hành chính là cha đủ và không thể là công
cụ để kiểm soát hoạt động của các cơ quan hành chính. Thực tế sự khủng hoảng
của mô hình hành chính công truyền thống chính là ở chỗ do không đánh giá hiệu
quả thực thi và tiêu chuẩn thực thi công vụ nên để kiểm soát ngời ta có xu hớng
lập ra nhiều cơ quan giám sát, kiểm soát dẫn đến sự cồng kềnh và kém hiệu quả.
Việc xây dựng các tiêu chuẩn thực thi công vụ và đánh giá hiệu quả công vụ tạo ra
hiệu ứng tích cực đối với hoạt động của nền hành chính. Các tiêu chuẩn bản thân
nó là một cái đích để các cơ quan hành chính nhà nớc hớng tới ít nhất là đáp ứng
chuẩn hoặc cao hơn. Mặt khác, điều này có ý nghĩa quan trọng đó chính là cơ sở để
cơ quan cấp trên và các chủ thể giám sát, đánh giá về hoạt động của cơ quan hành
chính và nền hành chính. Những tiêu chuẩn này góp phần nâng cao trách nhiệm

Đề cập sâu hơn tới tác dụng của việc cung ứng dịch vụ công, chúng ta có thể
lấy thí dụ trong lĩnh vực hành chính công. Hành chính công có liên quan đến mức
độ thoả mãn các nhu cầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã
hội của một quốc gia. Tác dụng của hành chính công chủ yếu là tác dụng dẫn
đờng, tác dụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ. Nói về tác dụng
quản chế, tức là nhà nớc phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền
uy, cỡng chế để xử lý, điều hòa các quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho
xã hội vận hành tốt; còn về tác dụng giúp đỡ, đó chính là sự giúp đỡ của nhà nớc
đối với các địa phơng nghèo, những ngời có hoàn cảnh khó khăn, nh giúp đỡ
ngời nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế, Việc cung ứng
dịch vụ hành chính công còn có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội
của đất nớc. Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nớc sử dụng quyền lực công để
tạo ra dịch vụ nh cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực, thị thực Tuy xét
về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này có thể chỉ là các loại văn bản giấy
tờ, nh
ng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các hoạt động kinh tế - xã
hội của đất nớc. Chẳng hạn, giấy đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện
việc nhà nớc công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điều này dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status