Tiểu luận thực trạng của nền kinh tế tri thức ở việt nam và giải pháp khắc phục - Pdf 13

A, PHẰN MỞ ĐẦU.
1, Tính cấp thiết của đề tài.
Đối với nước ta, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức là cơ hội lớn đế đây nhanh công
nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triến lực lượng sản xuất đi lên xã hội chủ nghĩa. Neu như
không biết tận dụng cơ hội này đế đối mới cách nghĩ cách làm, nâng cao năng lực nội sinh,
bắt kịp tri thức của thời đại, thì không thế đi tắt đón đầu và sẽ tiếp tục tụt hậu xa.
Vỡ vậy, việc tìm hiểu khái niệm, bản chất và xu hướng phát triển của kinh tế tri thức
đồng thời tìm hiểu thực trạng,cơ hội, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
trước xu thế phát triển của kinh tế tri thức, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp để phát
triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
2, Nhiệm vụ của đề tài:
- Luận giải những vấn đề lý luận về kinh tế tri thức.
+ Khái niệm của kinh tế tri thức
+ Đặc điểm của nền kinh tế tri thức.
- Đánh giá thực trạng về nền kinh tế tri thức của Việt Nam.
+ Những việc đó làm được.
+ Những việc có thế làm nhưng chưa làm được.
+ Triển vọng từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
+ Thứ nhất, phải đổi mới cơ chế và chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới,
phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa.
+ Thứ hai, chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài.
+ Thứ ba, tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia.
+ Thứ tư, đấy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
B, NỘI DUNG
I, Những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức .
LL Khái niệm và đặc điểm của kinh tế tri thức.
L /. /. Khái niệm.
ở Việt Nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, chủ đề “kinh tế tri thức” đã được đề
cập, bàn bạc rộng khắp, đặc biệt là trong giới các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính

Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp
tục có nhiều biến đôi. Khoa học và công nghệ sẽ cỏ bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có
vai trò ngày càng nôi bật trong quá trình phát triển ỉực lượng sản xuất”. Chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2001-2010 của nước ta được thông qua tại Đại hội IX của
Đảng đã xác định: “Co/7 đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thê
rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát triền những lợi
thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng đê đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là
công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở
mức cao hơn và phô biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước
phát triến kinh tế tri thức”, vấn đề cốt lõi và thiết thực ở đây là làm rõ mối quan hệ hai
chiều giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân với phát triển kinh tế tri
thức. Có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức mới có khả năng thay đổi phương
thức và đấy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện được các mục tiêu phát
triến kinh tế- xã hội đến năm 2020. Hay nói cách khác, phát triến kinh tế tri thức tạo điều
kiện cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” ở nước ta. Ngược lại, việc
thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra kết cấu
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho phát triển kinh tế tri thức, tăng thêm điều kiện phát
triển kinh tế tri thức.
Cũng như vậy, phát triến kinh tế tri thức có quan hệ khăng khít với phát triến nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế tri thức mang lại chất lượng, năng suất, hiệu
quả và sức cạnh tranh cao cho kinh tế thị trường, và kinh tế thị trường cởi mở cả trong nước
2
và với thế giới qua việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là khung khổ thuận lợi cho sự
phát triến kinh tế tri thức.
Xét trong điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước với phát triến kinh tế tri thức và phát triến nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN có mối quan hệ tương tác, thúc đấy lẫn nhau chặt chẽ.
1.1.2. Đặc điếm của kinh tế tri thức.
1.1.2.1 Lao động cơ bắp từng bước được thay thế bằng lao động trí tuệ, nhưng
lao dộng cơ bắp không mất di.

trước, đối tượng lao động chủ yếu là những bộ phận của tự nhiên, trong nền kinh tế tri
3
thức, đối tượng lao động ngày càng là sản phẩm của lao động, của khoa học, công nghệ mà
hàm lượng vật liệu tự nhiên trong đó ngày càng giảm. Do vậy, đó sẽ là một nền kinh tế tiết
kiệm tài nguyên, không phụ thuộc một cách tiên quyết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên,
mà phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên con người với năng lực trí tuệ cao.
Lao động quá khứ được kết tinh trong máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu Liên quan tới
những nhân tố này, trong nền kinh tế tri thức, có hai điểm đáng chú ý. Một là, hàm lượng
trí tuệ trong những nhân tố đó ngày một gia tăng,
Hai là, nhiều máy móc do lao động quá khứ đó được vật hoá thực hiện. Khi tính đến hai sự
kiện đó, chúng ta thấy dường như vai trũ của lao động sống có sự suy giảm tương đối.
Nhưng, nếu xét tới sự phát trien thắng tiến của sản xuất, lao động sống vẫn có giá trị quyết
định - "quyết định" không phải theo nghĩa chiếm tỷ trọng lớn so với lao động quá khứ khi
tạo ra sản phẩm ở chu kỳ mới, mà theo nghĩa không có lao động sống và mọi lao động vật
hoá không thế phát huy vai trũ của mỡnh trong quỏ trỡnh sản xuất. Mởy múc hiện đại như
thế nào chăng nữa cũng do con người làm ra và vận hành, cải tiến nú. Mặt khỏe, trỡnh độ
của máy móc, thiết bị, trờnh độ trí tuệ được kết tinh trong chúng lại đóng vai trũ quyết định
hiệu quả của lao động sổng, quy định xu hướng vận động của chính lao động sống. Chỉ
trong chừng mực đáp ứng nhu cầu đó, chu kỳ sản xuất tiếp theo mới có sự phát triển tương
ứng với xu thế khách quan của lực lượng sản xuất.
1.1.2.3 Lao động quản lý dần chiếm ưu thế so với lao động sản xuất trực tiếp
Sự phỏt trien của sản xuất xó hội luụn diễn ra theo quy luật phủ định của phủ định. Trước
kia, người sản xuất và người quản lý là một, song cựng với sự phỏt trien của lực lượng sản
xuất, sự tách rời giữa người sản xuất và người quán lý ngày một gia tăng, sự khác biệt phát
triển thành sự đối lập gay gắt. Giờ đây, chính sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, ở
trỡnh độ trí tuệ hoá cao quá trỡnh sản xuất, đó và đang diễn ra sự xích lại gần nhau giữa
người lao động sản xuất và nhà quản lý. Trong nền kinh tế tri thức, ở khụng ớt trường hợp,
người sản xuất và người quản lý hội tụ trong một cá thể mà ở đó, mặt quản lý ngày càng cú
ưu thế hơn mặt laođộng trong việc tạo ra sản phấm.
Những thay đổi ấy làm cho những yếu tố tạo ra giá tri mới được kết tinh trong sản phẩm

Theo Joseph Stigliz, nhà kinh tế học Mỹ được nhận giải Nobel năm 2001 đồng thời là cố
vấn kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới, thỡ tri thức và thụng tin là loại hàng hoỏ đặc
biệt, nó hoàn toàn khác các loại hàng hoá thông thường khác: nó thuộc về không phải của
một cá nhân nào đó, mà thuộc về quyền sở hữu của toàn xó hội, là một hàng hoỏ xó hội và
hơn thế nữa, nó thực sự là một hàng hoá mang tính toàn cầu.
Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành nhân tố sản xuất quan trọng hàng đầu trong
lực lượng sản xuất, quyết định lợi thế so sánh của một nước. Neu doanh nghiệp nào nắm
được quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng công nghệ mới, tạo ra sản phấm mới sẽ thu được tỷ
suất lợi nhuận cao hơn mức trung bỡnh. Thớ dụ: Nhờ luụn tạo ra cỏc bộ vi xử lý trước một
thế hệ, lợi nhuận của hóng Intel trong nhiều năm là 23% doanh thu. Cũng với cách thay đối
luôn như vậy lợi nhuận của hóng Microsoft đạt 24% doanh thu vào năm 1994. Lợi nhuận
cao như thế tuy không thế tồn tại mói, nhưng có thế duy trỡ trong nhiều năm, như hóng
Intel duy trỡ tỷ suất lợi nhuận cao trong một thập kỷ. Như vậy, quy luật bỡnh quõn hoở tỷ
suất lợi nhuận bị cản trở, khụng thế phỏt huy tỏc dụng mạnh mẽ. Bởi vỡ, tiền đề đế quy luật
này hoạt động là môi trường cạnh tranh tự do hoàn háo, nhưng trong nền kinh tế tri thức,
việc bảo hộ quyến sở hữu trí tuệ đó làm tăng tính độc quyền, khiến cho người nắm quyền
chiếm hữu đối với tri thức thu được lợi nhuận siêu ngạch.
So với sở hữu các giá trị vật chất, sở hữu tri thức có những đặc điếm hết sức riêng biệt:
Sở hữu tri thức bao gồm quyền sở hữu cụng nghiệp (quyền về phỏt minh - sỏng chế, về
nhón hiệu thương mại, bản quyền và các kiếu dáng công nghiệp ), ngày nay cũn tớnh thờm
phương pháp gây giống các loài cây, quyền về các hỡnh vẽ, mẫu vẽ, quyền về cỏc bản đồ vẽ
địa hỡnh, về cỏc chất bỏn dẫn Ngoài ra, cũn quyền về bớ mật thương mại.
5
Với tư cách là đối tượng sở hữu, tri thức là một sản phấm có đặc tính lũy tiến và rất khó
kiếm soát. Tri thức là một sản phấm không bị cạn kiệt khi sử dụng, có thể vô số người cùng
sử dụng một tri thức mà không ai mất phần. Một tri thức có thế thuộc quyền sở hữu của
nhiều người, một người có thể dùng nhiều lần mà không phái trả thêm tiền. Hơn nữa, càng
nhiều người sử dụng càng tăng hiệu quả (như mạng Internet). Người sau có thế kế thừa tri
thức của người đi trước đế sần xuất ra tri thức mới. Bởi vậy, tri thức cũng là một tài sản khó
kiếm soát nhất. Chi phí cho phát triến tri thức rất lớn, nhưng sản phẩm càng về sau càng rẻ.

giới hạn của chế độ sở hữu tư nhân, "xó hội húa về sở hữu”, với nghĩa là số người tham gia
vào sở hữu ngày càng táng, quy mô sở hữu ngày càng mở rộng đang là một xu thế phố biến,
nó làm cho việc sở hữu ấy mang tính xá hội (mặc dù vẫn thuộc những cá nhân cụ thể) và tri
6
thức được vận hành vỡ sự phỏt trien chung của toàn xó hội, tuy lợi ớch trục tiếp thuộc về
một số người.
Đối với trí tuệ, vấn đề bản quyền chỉ có giá trị trên phương diện pháp lý nhằm bảo đảm
lợi ích của chủ thể sáng tạo ra tri thức mới, của phát minh, sáng tạo chứ không làm cho trí
tuệ đó mang tính cá nhân. Nó chỉ thuộc cá nhân khi mới sáng tạo ra, sau đó nhanh chóng trở
thành của xó hội.
1.1.2.5. Đặc điếm mới của quan hệ tổ chức, quản lý trong nền kinh tế tri thức
Tác động của kinh tế tri thức đối với tố chức và quản lý rất rộng, trong đó, nổi bật nhất là
một số điểm chính sau đây:
Chủ thể và đối tượng quản lý: đại bộ phận là cụng nhõn cú học vấn.
Việc ỏp dụng cỏc thành tựu của cỏch mạng khoa học - cụng nghệ (nhất là cụng nghệ
thụng tin) vào quản lý đũi hởi chủ thế quản lý phải nõng cao trỡnh độ hiếu biết về nhiều
mặt. Cũn về đối tượng chịu sự quản lý, đúng như dự báo của C.Mác "toàn bộ quá trỡnh sản
xuất thỡ biếu hiện ra khụng phải như là một quá trỡnh phụ thuộc vào tài nghệ trực tiếp của
người công nhân, mà với tư cách là sự ứng dụng khoa học trong “lĩnh vực công nghệ" và
"biến quá trỡnh sản xuất từ chỗ là quo trờnh lao động giản đơn thành quá trỡnh khoa
học ", "do đó đến một giai đoạn nào đó, guồng máy có thể thay thế công nhân" và "theo đà
phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian
lao động và vào số lượng lao động đó chi phớ hơn là vào sức mạnh của những tác nhân
được khơi động trong thời gian lao động và bản thân những tác nhân ấy, đến lượt chúng
(hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần
thiết đế sản xuất ra chúng, mà đúng hơn, chúng phụ thuộc vào trỡnh độ chung của khoa học
và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản
xuất". Vỡ thế, "lao động biếu hiện ra không phải chủ yếu là lao động được nhập vào quá
trỡnh sản xuất, mà chủ yếu là một loại lao động trong đó con người, trái lại, là người kiếm
soát và điều tiết bản thân quá trỡnh sản xuất" và "thay vỡ làm tởc nhõn chủ yếu của quở

Từ đó giảm các khâu trung gian, chuyển giao nhiều trách nhiệm hơn cho cấp dưới và
ngược lại, cũng đũi hởi người lao động phải có năng lực cao hơn.
Trong thời đại hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin đang tạo điều kiện cho việc
thực hiện các chu trỡnh sản xuất phi tập trung hơn, sự phối hợp giữa các công đoạn sản xuất
kinh doanh trở nên mềm dẻo hơn so với thời kỳ trước đây trong nền sản xuất đại trà.
1.1.2.7. Đặc điếm mới của quan hệ phân phối trong nền kinh tế tri thức
Khoảng cách giữa nước nghèo nhất và nước giàu nhất về thu nhập, tuổi thọ, giáo dục và
chất lượng cuộc sống đó ngày một rộng hơn trong quá trỡnh phỏt triển của nền kinh tế tri
thức. 20% dõn sổ thế giới hiện đang sống ở những nước có thu nhập cao nhất (hưởng 86%
GDP, 82% thị trường xuất khẩu hàng hoá và địch vụ, 68% đầu tư tù’ nước ngoài trực tiếp,
93,3% mạng lưới viễn thông toàn cầu).Trong khi đó, 20% dân số là những người nghèo khó
của thế giới chỉ được hưởng chưa đầy 1% thành quả trên.
Riêng về thu nhập, khoảng cách giữa 1/5 số người giàu nhất và 1/5 số người nghèo nhất
tăng tù' 30 lần (thập niên 60) lờn 74 lần (thập niờn 60).
Những nước phát triến mạnh kinh tế tri thức thường có tăng trưởng GDP cao, tỷ lệ thất
nghiệp giảm và đời sống của người lao động được nâng cao. Chang hạn, Oxtrâylia đó cú lỳc
là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới (năm 1998 GDP tăng
4,9%). Một trong những nguyên nhân của thành công trên là Ôxtrâylia đó đi đầu trong ứng
đụng công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin. Vào tháng giêng 1999, trên 48. 000 doanh
nghiệp ở Ôxtrâylia đó cú cỏc địa chỉ miền riờng với mỏy chủ là cởc nhà cung cấp dịch vụ
Internet (ISP), ngoài ra cũn 50.000 địa chỉ Web thuộc các trang chủ khác trong các thư mục
8
cửa hàng hoặc khu buôn bán trên mạng. Hiện có hơn 640 ISP đang hoạt động ở Ôxtrâylia.
Doanh thu của các ngành công nghiệp thông tin của Ôxtrâylia trong những năm 1995 -
1996 là 47 tỷ USD Ôxtrâylia. Ôxtrâylia hiện chỉ tạo ra 1,2% GDP toàn cầu, nhưng lại tạo ra
tới 2,3% giá trị của ngành công nghiệp thông tin toàn cầu. Xuất khẩu công nghệ thông tin
đạt 4 tỷ USD Ôxtrâylia một năm.
Tỷ trọng các ngành công nghệ cao trong GDP của Phần Lan đó tăng gấp 5 lần trong 10
năm qua, và GNP trên đầu người tăng vọt. Đó là do Phần Lan đó đi nhanh vào công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học. Phần Lan đạt tiêu chuẩn cao về giáo dục - đào tạo. Học sinh

độ tăng trưởng của giáo dục và khoa học trong ngành sản xuất thứ ba là hết sức nhanh, vị trí
ngày càng quan trọng. Cho nên có thế tách giáo đục, khoa học tù’ ngành sản xuất thứ ba ra
thành ngành sản xuất thứ tư.
9
Theo thống kờ của Tổ chức Hợp tỏc Phỏt triển Kinh tế ( OECD), tỷ lệ đóng góp của
ngành dịch vụ Hoa Kỳ vào GNP từ 50% tăng lên 80%, trong đó 63% dịch vụ là thuộc dịch
vụ kỹ thuật cao. Cũn theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, 64% của cải thế giới hiện nay là
do “vốn nhân lực" cấu thành. Trên 80% công việc trong các ngành của Hoa Kỳ về bản chất
là công việc "lao động trí óc". Trong nền kinh tế tri thức, hàm lượng tri thức trong các yếu
tổ sản xuất ngày càng tăng, các ngành kinh tế tri thức (những ngành dựa vào các thành tựu
mới nhất của khoa học và công nghệ) và cả nhưng ngành truyền thống (như nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ, được cải tạo bằng ứng đụng thành tựu khoa học và công nghệ) ngày
càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất công nghệ trở thành loại hỡnh
sản xuất quan trọng nhất, tiờn tiến nhất, tiờu biểu cho nền kinh tế tri thức. Ớ những nước
công nghiệp phát triển cao (ở Bắc Mỹ và Tây Âu), những ngành chủ yếu dựa vào công nghệ
thông tin đó chiếm khoảng 45% đến 50% GDP. Một số điều trỡnh bày trờn đây được rút ra
từ nhiều tư liệu khác nhau nhằm giúp bạn đọc có được một ý niệm nào đó về một lĩnh vực
mới mẻ đối với nước ta - kinh tế tri thức.
Như vậy cỏc nhà khoa học cũn cú những khỏi niệm khỏe nhau về kinh tế tri thức, nhưng
đó cú thế thống nhất với nhau về một số đặc điếm cơ bản, đó là:
- Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế
ngày càng dựa vào việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ, nhất là
công nghệ cao;
- Tỷ trọng GDP hoặc tỉ trọng ngành nghề đều có sự chuyển dịch dần từ sản xuất vật
chất sang hoạt động xử lý thông tin là chủ đạo.
- Sản xuất ra cụng nghệ trở thành sản xuất quan trọng nhất vad tiờu biếu nhất;
- Từ tổ chức sản xuất theo quy mụ lớn, nhất thể húa chuyển sang tổ chức sản xuất
phõn tỏn theo cấu trỳc mạng và linh hoạt theo yờu cầu của khởch hàng.
- Xu thế toàn cầu hóa, nhất thế các nền kinh tế quốc gia và khu vục tăng nhanh kèm
theo hai mặt: cạnh tranh khốc liệt và họp tác hiệu quả;

ổn định đã có những tác động lan toả tích cực đến các khía cạnh khác của đời sống
kinh tế- xã hội.
Bên cạnh tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế của nước ta trong những năm
qua đã có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia tăng cao,
trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức, ngày càng tăng. Tỷ trọng nông-
lâm- ngư nghiệp trong GDP đã giảm đều đặn và tỷ trọng công nghiệp- xây dựng và
dịch vụ đã tăng lên tương ứng (Bảng 1). Một số lĩnh vực như công nghiệp thông tin,
công nghiệp công nghệ cao, các lĩnh vực dịch vụ dựa vào xử lý thông tin, tài chính
ngân hàng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ đã dần dần hình
thành và có bước phát triển đáng kế. Những lĩnh vực này được chờ đợi trở thành đầu
tàu thúc đấy phát triển, đối mới toàn bộ nền kinh tế.
Báng 1. Tỷ trọng các ngành trong GDP (%)
Các ngành/năm 1986 1990 1995 2000 2003
Nông - lâm- ngư nghiệp 38,06 38,74 27,18 24,30 21,80
Công nghiệp - xây dựng 28,88 22,67 28,76 36,61 40,00
Dich vu 33,06 38,59 44,06 39,09 38,20
Nguồn: Tống cục Thống kê.
- Thứ hai, xây dụng thê chế kinh tế thị trường, tạo điểu kiện thuận lợi cho sự
phát triến của khu vực kinh tế tư nhân:
Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng hệ
thống pháp luật kinh tế thị trường, cải cách tố chức và hoạt động bộ máy nhà nước,
tăng cường năng lực, tính năng động và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ,
công chức, chú trọng hỗ trợ cho các doanh nghiệp mới và tạo cuộc sổng tổt hơn cho
người dân; cơ cấu lao động thay đối với sự từng bước
gia tăng của lực lượng lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm, làm văn
phòng, (còn gọi là lao động tri thức).
Đặc biệt, trong những năm gần đây, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, khu vực
kinh tế tư nhân đã có bước phát trien mạnh. Trong giai đoạn 2000- 2003, trung bình hàng
1
1

động hoá hoàn toàn với 100% các hệ thống chuyến mạch sổ và truyền dẫn sổ trải rộng trên
toàn quốc và kết nổi với quốc tế. Một loạt các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet đã
được tạo lập và mở rộng đế đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ các hoạt động sản
xuất- kinh doanh, quản lý nhà nước, giáo dục, y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp
Nhiều doanh nghiệp đã nhận thấy cơ hội tốt của thương mại điện tử và đã bắt đầu áp
dụng phương thức kinh doanh mới này, như các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet,
các doanh nghiệp kinh doanh về dịch vụ và du lịch, các doanh nghiệp xuất nhập khấu, các
doanh nghiệp có nhu cầu thông tin nhanh, kịp thời về thị trường thế giới, và các doanh
nghiệp kinh doanh các dịch vụ sản phẩm công nghệ cao như tin học, điện tử viễn thông, tư
vấn, thị trường, giá cả Nhiều cơ quan nhà nước cũng từng bước nghiên cứu áp dụng công
nghệ thông tin vào hoạt động quản lý trong một số lĩnh vực, điển hình là đăng ký kinh
doanh.
1
2
II.2.2. Những việc có thể làm, nhưng chưa làm được.
Cũng đánh giá theo những đặc trung chủ yếu của kinh tế tri thức, trong những năm
qua, có những việc chúng ta có thế làm, hoặc có thế làm tốt hơn, nhưng chưa làm được thể
hiện chủ yếu như sau:
- Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp và chưa được cải thiện nhiều:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thế hiện ở chỗ hiệu quả nền kinh tế còn
thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyến dịch cơ cấu kinh tế còn
chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân cư có xu hướng gia tăng. Môi trường
đầu tư không ốn định và năng lực yếu kém của bộ máy hành chính đã làm tăng đáng kể chi
phí giao dịch và chi phí đầu vào sản xuất- kinh doanh. Việc phân biệt đối xử trong thực tế
giữa các thành phần kinh tế, chậm cải cách và tiếp tục bao cấp cho doanh nghiệp Nhà nước,
duy trì nhiều độc quyền và bảo hộ không có thời hạn và mục tiêu cụ thế dẫn tới sử dụng
không hiệu quả các nguồn lực, giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tăng trưởng không
bền vũng, tạo điều kiện và sơ hở cho tệ nạn tham nhũng và những tiêu cực khác. Việc tiếp
tục theo đuối phương thức tăng trưởng chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh tĩnh tăng vốn đầu tư
trong nhiều năm qua khó có thế bảo đảm được mức tăng trưởng cao trong dài hạn, nhất là

Thứ tư, các lĩnh vực biếu hiện đặc trưng của kinh tế tri thức chưa phát triển:
Các ngành mới, đại diện cho kinh tế tri thức (hay gòn gọi là các ngành công nghệ
cao) hoặc chưa hình thành hoặc mới ở trình độ phát triến rất sơ khai. Số doanh nghiệp đầu
tư mạo hiểm, đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm tạo ra công nghệ mới là
không đáng kế. Đây chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn Việt Nam
chỉ có một số doanh nghiệp nhà nước lớn có cơ sở hoạt động và nghiên cứu phát triển công
nghệ, nhưng lượng vốn đầu tư cho R&D của các doanh nghiệp này chỉ đạt khoảng 0,2%
doanh thu, quá thấp so với tỷ trọng 5-10% của doanh nghiệp tại các nước phát triển. Trong
khi đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước hầu như chưa tham gia hoạt động R&D.
Tri thức chưa thực sự trở thành nguồn vốn quý, ý thức xã hội và thể chế pháp lý về quyền
sở hữu trí tuệ còn quá kém, những người có khả năng tạo ra tri thức chưa hình thành được
thói quen đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sản phâm khoa học và công nghệ của
mình.
ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống kinh tế- xã hội còn rất hạn chế. Mạng
thông tin đa phương tiện tuy đã và đang được mở rộng khá nhanh, nhưng chưa bao phủ
được khắp toàn quốc, chưa kết nối được đến hầu hết các tố chức và các hộ gia đình. Bên
cạnh đó, sự tiếp cận với mạng thông tin còn gặp phải nhiều ràng buộc liên quan đến các
khía cạnh về cơ sở vật chất kỹ thuật, các thủ tục hành chính, pháp lý, giá cước Điều này
ảnh hưởng lớn đến sự tiếp cận của các thành viên trong xã hội với những thông tin cần thiết.
Các phương thức kinh doanh mới như thương mại điện tử, thị trường ảo, tổ chức ảo, doanh
nghiệp ảo, làm việc từ xa còn ở trình độ manh nha, thậm chí mới có trong mong muốn,
trong lời nói, trong bài viết, chưa có trong thực tế.
Nen giáo dục, đào tạo của nước ta đang chứa đựng nhiều vấn đề bức xúc, bộc lộ những yếu
kém dai dẳng trong nhiều năm chưa khắc phục được. Sự chậm đối mới về phương pháp dạy
và học, nội dung chương trình, các hiện tượng chạy theo thành tích, dạy thêm học thêm tràn
lan đã được đề cập, bàn bạc nhiều, nhưng chưa có những giải pháp hữu hiệu. Công tác xã
hội hoá giáo dục diễn ra chậm, sự phân biệt đối xử đối với các cơ sở giáo dục ngoài công
lập góp phần kìm hãm sự phát triển giáo dục. Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến
nguồn nhân lực của Việt Nam, một nguồn nhân lực dồi dào về sổ lượng lao động nhưng lại
thiếu trầm trọng nguồn lao động có chất lượng. Trên thị trường lao động của Việt Nam đang

hành soát xét lại toàn bộ các chủ trương, chính sách đối mới và phát triển đất nước từ nay
đến năm 2010, từ đó điều chỉnh và bổ sung những điều cần thiết, đặc biệt là 7 loại việc quan
trọng:
(1) Xác định chủ trương và biện pháp công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn
(2) Mở mang nền kinh tế thị trường văn minh.
(3) Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
(4) Phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin viễn thông và công nghệ
sinh học.
(5) Cải cách cơ bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.
(6) Phát triển văn hoá và xã hội, phát huy mặt tốt đẹp, đẩy lùi các tệ nạn và hiện tượng tiêu
cực.
(7) Đổi mới thế chế quản lý và cải cách hành chính.
Thực hiện có hiệu quả những chủ trương vừa nêu trên là quá trình tiếp tục đối mới
chính sách, tạo lập khung khổ pháp lý mới, hình thành đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chăm lo nâng cao dân trí, phát triến nguồn nhân lực,
đào tạo nhân tài; tăng cường năng lực khoa học và công nghệ và thiết lập hệ thống đối mới
quốc gia hữu hiệu; đây mạnh ứng dụng và phát triến công nghệ thông tin phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Song hành với quá trình trên đây, chúng ta cần sớm nghiên cún, xây dựng và bắt tay
thực hiện một chiến lược, hoặc ít ra là khung chiến lược tòng bước phát triển kinh tế tri thức
ở Việt Nam.
1
5
- Thứ hai, chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Trong
những năm tới phải tăng mạnh đầu tư để phát triển giáo dục và phải tiến hành một cuộc cải
cách giáo dục mới. Trong một thời gian ngắn phấn đấu để phổ cập giáo dục trung học cơ sở
trong toàn quốc, phổ cập trung học phố thông trong các thành thị, khu công nghiệp và vùng
đồng bằng đông dân, tăng nhanh đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân
lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý, cỏc doanh gia.
- Thứ ba, tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia đế có thế tiếp thu,

Danh mục những tài liệu tham khăo
1, Phạm Ngọc Quang, Kinh tế tri thức xét từ giác độ QHSX và LLSX, Tạp chí
Triết Học, ngày 8/10/2006.
2, Trung tâm thông tin tư liệu KH&CN Quốc Gia, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Kinh Tế Tri Thức, VDC Media, Năm 2001
3, Vũ Đỡnh Cự - Trần Xuõn sầm, Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức,
Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Tháng 11 năm 2006.
4, CIEM, Trung Tâm Thông Tin - Tư Liệu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status