Trờng ĐH Nha Trang
Báo cáo tổng hợp đề tài:
Nghiên cứu nhu cầu dinh dỡng, công thức và
công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi
tôm hùm bông (P.orratus) và tôm hùm xanh
(P.homarus) Chủ nhiệm đề tài: Lại Văn Hùng
8603
Nha trang 2010
73], [77]. Ở Việt
Nam, nghề nuôi tôm hùm bắt đầu từ năm 1992, đến nay nghề nuôi tôm hùm
lồng đang phát triển mạnh, số lượng lồng đã tăng lên đáng kể, năm 1999 là
7.289 lồng, năm 2000 tăng lên 17.216 lồng, năm 2005 số lồng nuôi là 43.516
lồng (trong đó có 3.061 lồng ương tôm giống), với sản lượng 1.795 tấn và
năm 2007 đã tăng lên 52.696 lồng với giá trị tôm thương phẩ
m là 65 triệu
USD [1], [52]. Trong nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam, cá tạp, cua, sò nhỏ
được xem là nguồn thức ăn chủ yếu. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn thức ăn
này có những bất lợi như: gây ô nhiễm môi trường, cạnh tranh nguồn cá tạp
với các mục đích sử dụng khác: thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia
súc, gia cầm người nuôi không chủ động nguồn thức ăn nh
ất là mùa mưa
bão [74]. Bên cạnh đó là hiện tượng bùng phát dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh
nguy hiểm như tôm sữa, đen mang, vi khuẩn mà nguyên nhân ban đầu có thể
là do chất lượng thức ăn kém. Những bệnh này đã gây ra thiệt hại lớn cho
người nuôi tôm hùm trong các năm 2006, 2007 và 2008.
Để khắc phục tình trạng trên, hướng nghiên cứu sản xuất thức ăn tổng
hợp dạng viên để nuôi tôm hùm bằ
ng lồng là rất cần thiết. Tuy nhiên, những
thông tin về nhu cầu dinh dưỡng và những nghiên cứu về thức ăn tổng hợp
dạng viên cho tôm hùm hiện nay còn hạn chế. Một số công trình nghiên cứu
nhằm phát triển thức ăn tổng hợp dạng viên cho tôm hùm để thay thế cho
nguồn thức ăn cá tạp đang sử dụng đã được thực hiện bởi một số tác giả như:
2
Smith, Williams, Mai Như Thủy trên tôm hùm bông P. ornatus. Những
nghiên cứu này tập trung vào nhu cầu dinh dưỡng cho tôm hùm như: nhu cầu
protein, lipid, sterol, cholesterol, lecithin, astaxanthin,… và xác lập công thức
thức ăn cũng như tính ổn định của thức ăn trong môi trường nước [8], [69],
cho người nuôi, bảo vệ môi trường, phát triển nghề nuôi tôm hùm bền vững
tại Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
1.
Nội dung 1: Nghiên cứu xác định tỷ lệ protein/lipid tối ưu trong thức ăn
cho tôm hùm bông và tôm hùm xanh.
2. Nội dung 2: Nghiên cứu xác định nhu cầu acid béo không no:
Decosahexaenoic acid (DHA), Eicosapentaenoic (EPA) và tỷ lệ dầu
mực/dầu đậu nành trong thức ăn.
3. Nội dung 3: Nghiên cứu xác định hàm lượng cholesterol và astaxanthin tối
ưu trong thức ăn.
4. Nội dung 4: Nghiên cứu nhu cầu một số chất bổ sung trong thức ăn cho
tôm hùm bông và tôm hùm xanh.
5. Nội dung 5: Nghiên cứu công thức thức ăn cho tôm hùm bông và tôm
hùm xanh giai đoạn giống và giai đoạn thương phẩm.
6. Nội dung 6: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kết dính, kích thước thức ăn
cho tôm hùm bông và tôm hùm xanh.
7. Nội dung 7: Nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ sản xuất thức ăn
công nghiệp nuôi tôm hùm bông và tôm hùm xanh giai đoạn giống và
thương phẩm.
8. Nội dung 8: Thử
nghiệm nuôi tôm hùm bông và tôm hùm xanh bằng thức
ăn viên. 4
Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nuôi tôm hùm trên thế giới và trong nước
Phillips & Kittaka cho rằng, loài P. homarus được cắt mắt cho tốc độ
tăng trưởng về khối lượng gấp 3 - 7 lần tôm không cắt mắt và tỷ lệ sống cao
hơn (70%), nhưng những con tôm này tiêu thụ lượng thức ăn nhiều hơn 50 -
96% và hệ số chuyển đổi thức ăn cũng có thể giảm một nửa. Tuy nhiên,
những con tôm bị cắt cả hai mắt bị thay đổi về hình thái ngoài (chỗ v
ết cắt
phát triển lồi ra), tập tính (trở nên hung dữ hơn). Tôm được nuôi chung trong
một đàn tăng trưởng nhanh hơn so với nuôi riêng lẻ từng con mà tỷ lệ sống và
năng suất có thể tương đương hoặc cao hơn [60]. Trong khi loài tôm hùm
bông P. ornatus bị cắt cả hai mắt thì rất nhạy cảm với chất lượng nước và dễ
bị chết, những con bị cắt cả hai m
ắt hiệu quả chuyển đổi thức ăn cao hơn so
với những con cắt một mắt hoặc không cắt mắt, tuy nhiên những con bị cắt
một mắt lại cho tỷ lệ sống, tăng trưởng và năng suất cao hơn so với những
con không cắt mắt.
1.1.2 Tình hình nuôi tôm hùm tại Việt Nam
Ở nước ta, nghề nuôi tôm hùm bắt đầu từ năm 1992, đến nay nghề nuôi
tôm hùm lồng đang phát triể
n mạnh, số lượng lồng đã tăng lên đáng kể, năm
1999 là 7.289 lồng, năm 2000 tăng lên 17.216 lồng, năm 2005 số lồng nuôi là
43.516 lồng, với sản lượng 1.795 tấn. Năm 2007 đã tăng lên 52.696 lồng với
diện tích nuôi 11.529 ha và giá trị tôm hùm nuôi đạt 65 triệu USD [1], [52].
Nguồn giống tôm hùm cung cấp cho nghề nuôi ở nước ta được thu gom
hoàn toàn từ tự nhiên, nguồn thức ăn chủ yế
u của tôm hùm là các loài thủy
hải sản có giá trị thấp như cá tạp, cua, sò nhỏ và kỹ thuật nuôi chủ yếu dựa
vào kinh nghiệm của người dân. Mặc dù đã có một số tác giả trong nước
nghiên cứu về tôm hùm như: Hồ Thu Cúc, Nguyễn Thị Bích Thuý, Mai Như
Thuỷ và Lại Văn Hùng, các kết quả nghiên cứu này đã góp phần phát triển kỹ
thuật nuôi cho người dân và các nhà quản lý, nhưng những thông tin này vẫn
Kết quả nghiên cứu của Smith et al về ảnh hưởng củ
a lượng protein và
lipid trong thức ăn cho tôm hùm bông (Panulirus ornatus) cho thấy với hàm
lượng lipid 6% và 10% ứng với các mức protein: 30, 35, 40, 45, 50, 55% thì
7
tốc độ tăng trưởng của tôm có tương quan thuận với hàm lượng protein có
trong thức ăn. Ở mức lipid 6%, hàm lượng protein thích hợp cho tôm hùm
bông giai đoạn giống là 474 g protein/kg thức ăn. Ở mức lipid 10%, hàm
lượng protein tối ưu cho tăng trưởng của tôm hùm bông là 533 g/kg thức ăn
[70]. Lại Văn Hùng cho rằng, có thể nuôi tôm hùm bông từ giai đoạn giống
đến cỡ thương phẩm bằng thức ăn viên có hàm lượng protein từ
46,78 –
50,78%, tuy nhiên thức ăn viên cho tốc độ tăng trưởng vẫn chậm hơn so với
thức ăn là cá tạp [4].
Smith et al thử nghiệm các mức protein từ 33 – 61% làm thức ăn cho
tôm hùm bông P. ornatus thấy rằng, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn
so với cho tôm ăn bằng vẹm xanh và càng tăng mức protein trong thức ăn thì
tốc độ tăng trưởng của tôm càng tăng, tuy nhiên t
ỷ lệ sống cao và ổn định (79
– 84%) lại nằm ở các nghiệm thức có mức protein lần lượt là 40, 47 và 60%.
[70]. Tác giả cũng kết luận, nhu cầu protein cho tôm hùm bông giai đoạn
giống là trên 60 % khi sử dụng thức ăn viên [69].
1.2.2 Nhu cầu lipid và acid béo
1.2.2.1 Nhu cầu lipid tổng số
Ngoài chức năng là nguồn cung cấp năng lượng, lipid còn giữ vai trò là
chất vận chuyển các vitamin tan trong chất béo, là nguồn cung cấp
phospholipid, cholesterol và sterol tham gia vào quá trình sinh tổng h
ợp màng
tế bào. Các thí nghiệm về nhu cầu lipid trên tôm hùm bông P. ornatus cũng đã
18
H
30
O
2
), acid γ-linolenic
(GLA-C18:3 (n-6)), acid arachidonic (ARA-C20:4 (n-6), C
20
H
32
O
2
), acid
eicosapentaenoic (EPA-C20:5 (n-3), C
20
H
30
O
2
), acid docosahexaenoic (DHA-
C22:6 (n-3)). Trong các acid không no trên, EPA, DHA và ARA là các
HUFA có vai trò quan trọng đối với ấu trùng cá biển và giáp xác, đặc biệt là
giai đoạn ấu trùng.
Acid arachidonic (ARA) có phân tử lượng: 304,5. Acid arachidonic là
một n-6 HUFA có mặt trong các phospholipid, đặc biệt là phosphatidyl-
ethanolamine, phosphatidyl-choline và phosphatidyl-inositide của màng tế
bào và hiện diện với hàm lượng cao trong não. ARA là tiền chất trong việc
tạo thành các eicosanoid như các prostaglandin, thromboxane, prostacyclin và
leukotriene (thông qua các enzyme cyclo-oxygenase, lipoxygenase và
peroxidase) [42].
xuất hiện của LOA trong khẩu phần thức ăn, cho thấy các độ
ng vật này không
có khả năng trong việc kéo dài và khử bão hòa 18-C PUFA [21].
Mặc dù có những nỗ lực đáng kể trong nghiên cứu xác định nhu cầu
dinh dưỡng để phát triển thức ăn cho tôm hùm gai (Jasus sp. và Panulirus
sp.), các thông tin về nhu cầu acid béo thiết yếu trên đối tượng này vẫn còn rất
hạn chế. Mặc dù việc sản xuất mang tính thương mại của đối tượng này vẫn
còn phụ thuộc chặt chẽ vào ngu
ồn thức ăn cá tạp, các nghiên cứu để phát triển
10
thức ăn viên cho tôm hùm cũng được thực hiện. Khi việc sử dụng thức ăn
tổng hợp tăng cao, sẽ đòi hỏi xác định nhu cầu về các loại acid béo thiết yếu
của đối tượng này. Tuy nhiên, trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm,
Williams cho rằng những ứng dụng về nghiên cứu dinh dưỡng dựa trên nhu
cầu dinh dưỡng của tôm he có thể được mang lại nhiều hiệu quả
[78].
Floreto et al cho rằng n-3 HUFA và tỷ lệ n-3/ n-6 ở tôm hùm châu Mỹ
giống (Homarus americanus) thấp hơn khi mức thay thế dầu cá bởi dầu đậu
nành, liên quan đến sự kéo dài thời gian chu kỳ lột xác [36].
Trong giai đoạn phát triển phôi, acid béo không no thường được sử
dụng ở mức cao hơn so với acid béo no. Những acid béo không no phân tử
lượng thấp thường được ưu tiên sử dụng cho nhu cầu năng lượ
ng. Bởi acid
béo no không phải là acid béo thiết yếu và có thể được tổng hợp thông qua
quá trình khử bão hòa của các acid béo không no phân tử lượng thấp hoặc
HUFA [61], [62]. EPA và ARA là những thành phần quan trọng cấu trúc lên
màng tế bào và là tiền chất để tổng hợp lên các prostaglandin. DHA hiện diện
với hàm lượng cao trong trong não và võng mạc cho thấy vai trò quan trọng
của chúng đối với hệ thần kinh trung ương của giáp xác [17]. PUFA cũng
Nguồn ARA trong thức ăn là không cần thiết để tôm đạt sinh trưởng và tỷ lệ
sống tối đa của tôm sú giai đoạn ấu niên, thay vì cung cấp ARA, có thể cung
cấp acid béo họ n-6 cho việc duy trì tỷ l
ệ tối ưu các acid béo n-3/n-6 ở mức
cân bằng là 2.5/1 [40], [41].
1.2.2.3 Nhu cầu cholesterol
Cholesterol là tiền chất quan trọng tổng hợp hormone sinh dục, lột xác,
hormone corticoids của vỏ tuyến thượng thận, axit mật và vitamin D ở giáp
xác [66]. Kanazawa đã chứng minh trên tôm hùm gai, cholesterol ngoại sinh
có khả năng chuyển hóa các hormones giới tính như pregesterone, 17a-
hydroxyprogesterone, androstenedione và testosterone, hay hormone lột xác
như 20-hydroxyecdysone [49]. Đối với giáp xác, cholesterol đặc biệt cần thiết
cho quá trình lột xác và có vai trò quan trọng để cải thiện tăng trưởng cũng
12
như nâng cao tỷ lệ sống [65]. Tuy vậy những nghiên cứu về nhu cầu
cholesterol của giáp xác nói chung và tôm hùm nói riêng là không nhiều và
chưa được chú trọng.
Theo Castell et al tôm hùm châu Mỹ H. americanus có tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống tốt nhất khi thức ăn được bổ sung 0,5 % (khối lượng khô)
cholesterol trong khi tôm giảm sinh trưởng ở mức bổ sung 0,2% cholesterol
[21]. Đối với tôm hùm giai đoạn nhỏ (30-50 mg), hàm lượng cholesterol thích
hợp cho sự phát triển của tôm là 0,12 – 0,19 % [29]. Theo nghiên cứu của
Kean et al tôm hùm H. americanus (120 mg/con) chết toàn bộ khi cho ăn thức
ăn không có cholesterol. Ngoài ra, tác giả cũng cho biết khi hàm lượng
cholesterol trong thức ăn vượt quá 0,25 % không làm ảnh hưởng đến tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm hùm thí nghiệm [50]. Nhìn chung mặc dù
đã có một số nghiên cứu về nhu cầu cholesterol trên giáp xác được tiến hành,
tuy nhiên các kết quả đư
a ra là không thật rõ ràng. Chẳng hạn đối với tôm thẻ,
cũng được ghi nhận trong các nghiên cứu của Crear et al; Smith et al. Các tác
giả cũng cho rằng hàm lượng astaxanthin trong thức ăn không ảnh hưởng đến
năng suất của tôm hùm, tuy nhiên có ảnh hưởng rõ rệt đến màu sắc vỏ tôm và
hàm lượng astaxanthin của tôm, điều này có vai trò quan trọng trong khả năng
miễn dịch của động vật và trong cạnh tranh thị trường của tôm hùm nuôi. Các
nghiên cứu cũng chỉ ra thức
ăn có hàm lượng astaxanthin 50 mg/kg thức ăn là
thích hợp cho sự tăng trưởng và màu sắc của tôm hùm bông [16], [27], [69].
1.2.3 Nhu cầu vitamin C
Trong thức ăn thủy sản, vitamin C được đánh giá là có vai trò rất quan
trọng. Thức ăn thiếu vitamin C là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng bệnh
lý như vẹo cột sống ở cá hay đen mang ở tôm. Bên cạnh đó, đa số các loài
giáp xác lại thiếu enzyme gulonolactone oxidase cầ
n thiết cho quá trình tổng
hợp vitamin C từ glucuronic acid [24], [32]. Chính vì thế vitamin C của động
vật thủy sản chủ yếu được cung cấp từ thức ăn.
Nhu cầu vitamin C trong thức ăn của tôm phụ thuộc vào loại vitamin C
sử dụng. Nhu cầu vitamin C tinh thể của tôm sú là 200 mg/kg thức ăn hoặc
14
157 mg/kg thức ăn khi sử dụng vitamin C loại L ascorby-2-sulphate hoặc 40
mg/kg loại L ascorbyl-2-monophosphate. Nhìn chung nhu cầu vitamin C hoạt
tính đối với giáp xác giai đoạn giống dao động trong khoảng 100 – 200 mg/kg
thức ăn. Nhu cầu vitamin C của tôm còn thay đổi tùy thuộc vào các loài khác
nhau: Tôm P. japonicus có nhu cầu vitamin C khoảng 99 mg/kg thức ăn, tôm
P. vannamei là 120 mg/kg thức ăn, trong khi đối với tôm càng xanh là trên
100 mg/kg thức ăn [46], [67].
Đối với tôm hùm, hiện chưa có nhiều nghiên cứu về vai trò cũng như
nhu c
ầu vitamin C của đối tượng này [79]. Các nghiên cứu của Kean et al cho
Tính toán công thức thức ăn thủy sản có các phương pháp sau: phương
pháp đường chéo, phương pháp lập hệ phương trình đại số và phương pháp
lập bảng. Dựa trên phương pháp lập bảng phát triển thành phần mềm tính toán
công thức thức ăn cho nuôi thủy sản [17].
1.4 Những nghiên cứu về qui trình công nghệ sản xuất thức ăn cho tôm
hùm
1.4.1 Những nghiên cứu về qui trình kỹ thuậ
t
1.4.1.1 Xay nguyên liệu
Xay nguyên liệu nhằm làm giảm kích thước hạt nguyên liệu, làm tăng
diện tích tiếp xúc bề mặt, làm tăng khả năng phối trộn, khả năng tiêu hóa, khả
năng tạo viên và khả năng bền vững của viên thức ăn trong môi trường nước.
Máy xay nguyên liệu tùy thuộc vào qui mô sản xuất, yêu cầu kỹ thuật của
viên thức ăn cho đối tượng, từng giai đoạn, yêu cầu m
ức độ mịn của hạt
nguyên liệu mà sử dụng các thiết bị xay khác nhau. Thông tin về thiết bị và
qui trình xay nguyên liệu thường được các nhà cung cấp thiết bị thông báo.
Trong nước, một số nghiên cứu của Nguyễn Tiến Lực và ctv đã thông
báo việc cải tiến đưa nguyên liệu vào xay nghiền ở dạng hỗn hợp mà không
phải là nguyên liệu đơn. Các thành phần nguyên liệu tác động tương hỗ lẫn
nhau nên chấ
t lượng nghiền tốt hơn [12].
1.4.1.2 Trộn đều
16
Đây là khâu quan trọng trong sản xuất thức ăn. Nếu trộn không đều,
thức ăn sẽ không cân đối về dinh dưỡng. Một số phương pháp phối trộn để đạt
được yêu cầu kỹ thuật trên.
Sản xuất thức ăn qui mô vừa và nhỏ: Trộn những thành phần có khối
lượng lớn (bột cá, bột đậu nành, bột mực) riêng, những thành phần có khối
0
C, các hạt
tinh bột mất đi cấu trúc tinh thể. Nhiệt độ hấp càng cao càng kéo dài thì cấu
trúc tinh thể bị phá vỡ càng nhiều.
Hấp chín có thể thực hiện dưới hai hình thức. Hấp nguyên liệu trước
khi ép viên, hoặc hấp chín sau khi viên thức ăn được tạo thành. Điều này tùy
thuộc vào công nghệ.
1.4.1.5 Sấy khô
Viên thức ăn sẽ được sấy khô cho đến khi độ ẩm ≤ 10%. Có thể sử
dụ
ng nhiệt độ kết hợp quạt gió để sấy khô. Tùy theo công nghệ được sử dụng
mà kỹ thuật sấy khô có thể đơn giản như là một buồng sấy bằng nhiệt thuần
túy hoặc là buồng sấy bằng nhiệt kết hợp quạt gió. Tuy nhiên, không nên làm
khô viên thức ăn bằng cách sử dụng trực tiếp ánh nắng mặt trời. Vì các tia cực
tím của ánh nắng mặt trời có thể oxy hóa m
ột số thành phần của thức ăn thành
các chất độc hại đối với vật nuôi.
1.4.1.6 Kích cỡ, mùi vị và màu sắc của thức ăn
Đường kính của viên thức ăn phải phù hợp với cỡ miệng của tôm hùm.
Theo Smith et al thức ăn viên có đường kính 1mm, dài 10-15mm là thích hợp
nhất cho tôm hùm bông giai đoạn giống (2 g/con). Đối với tôm hùm bông có
khối lượng 50-60g, kích cỡ của viên thức ăn nên là 3mm đường kính, dài 10-
20mm. Tác giả c
ũng đề xuất nên sử dụng thức ăn có kích thước 3mm, dài 10-
35mm đối với tôm hùm có khối lượng trên 100g [33].
Chất dẫn dụ đóng vai trò quan trọng đối với hiệu quả sử dụng thức ăn
của động vật thủy sản, đặc biệt là tôm hùm [11]. Trong môi trường nước, chất
dẫn dụ phải hòa tan để tôm có thể cảm nhận qua khứu giác hoặc vị
giác.
Trong các nguyên liệu làm thức ăn cho tôm có sẵn các chất dẫn dụ tự nhiên
trong hầu hết các giai đoạn như ấu trùng, giống và nuôi thương phẩm. Giai
đoạn giống thường tập trung vào nghiên cứu sử dụng các loại thức ăn tổng
hợp với thành ph
ần dinh dưỡng khác nhau và so sánh hiệu quả nuôi giữa thức
ăn tổng hợp và thức ăn tươi (cá tạp, nhuyễn thể, giáp xác).
19
1.5.1 Thức ăn tươi
D’Abramo cho rằng, thức ăn ưa thích của tôm hùm thuộc các loài
Homarus americanus, Panulirus japonicus là cua, vẹm, cầu gai và cá tạp [30].
Kết quả điều tra về thức ăn để nuôi tôm hùm bông tại khu vực Nam Trung Bộ
của Đỗ Thị Hòa và ctv đã chỉ ra rằng, thức ăn ưa thích của tôm hùm là một số
loài cá tạp, động vật giáp xác và động vật thân mềm [2]. Trong những loài cá
t
ạp thì tôm hùm ưa thích các loài cá mối, cá sơn và cá liệt; những loài giáp xác
thì có ghẹ và động vật thân mềm thì sò, vẹm xanh là thức ăn được tôm hùm rất
ưa thích. So với cá tạp thì thức ăn là vẹm xanh (Perna canaliculus) cho kết quả
sinh trưởng tốt hơn, nhưng loài vẹm xanh Mytilus galloprovincialis lại cho kết
quả sinh trưởng tốt hơn so với loài Perna canaliculus [77]. Điều này có thể do
thành phần dinh dưỡng của hai loài vẹm này khác nhau. Tuy nhiên, so với thứ
c
ăn tổng hợp thì thức ăn tươi cho tốc độ sinh trưởng cao hơn, song hệ số chuyển
đổi thức ăn khi sử dụng thức ăn tươi lại rất cao từ 28-29 [4], [74].
1.5.2 Thức ăn tổng hợp
Những nghiên cứu về thức ăn tổng hợp cho tôm hùm chủ yếu tập trung
vào giai đoạn ấu trùng và giai đoạn giống nhỏ
, còn những nghiên cứu về thức
ăn để nuôi tôm hùm thương phẩm cho đến nay còn rất hạn chế. Những quốc
gia có nghề nuôi tôm hùm phát triển như Mỹ, Úc, New Zealand đã có những
thông báo kết quả nghiên cứu thành công thức ăn tổng hợp cho tôm hùm.
cho đối tượng này hoàn toàn bỏ ngỏ. Vì vậy, những nội dung nghiên cứu của
đề tài là rất cần thiết. 21
Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Tôm hùm bông (Panulirus ornatus) và tôm hùm xanh (Panulirus
homarus) giai đoạn giống và giai đoạn thương phẩm. Tôm được mua từ Phú
Yên, Khánh Hòa. Tôm được lựa chọn dựa trên các tiêu chí: màu sáng đẹp,
kích thước đồng đều, đủ các phần phụ, khỏe mạnh. Tôm sau khi mua được
thuần cho quen với điều kiên môi trường tại Bình Ba trong 2 tuần trướ
c khi
bắt đầu thí nghiệm.
Đại học Nha Trang và Công ty TNHH Long Sinh - KCN Diên Khánh.
2.1.3.3. Địa điểm phân tích mẫu
Thành phần sinh hóa của mẫu thức ăn, tôm hùm thí nghiệm được phân
tích tại Viện Công nghệ Sinh học & Môi trường – Trường Đại học Nha Trang
Mẫu nước và mẫu chất đáy được phân tích t
ại phòng thí nghiệm môi
trường – Khoa Nuôi trồng Thủy sản – Trường Đại học Nha Trang.
2.2. Bố trí thí nghiệm
Tất cả các thí nghiệm thực nghiệm đều được tiến hành trên hệ thống
lồng nổi đặt tại khu vực biển đảo Bình Ba – Cam Ranh. Thí nghiệm xác định
tỷ lệ tối ưu protein/lipid trong thức ăn cho tôm hùm bông và tôm hùm xanh
giai đoạn giống được bố trí vào các lồng có kích thước 1 x 1 x 3 (m) (Hình
Hình 2.5: Vịnh Cam Ranh
Hình 2.6: Vị trí nuôi thử nghiệm
Bè nuôi
Vị trí nuôi
thử nghiệm
23
2.7). Các thí nghiệm nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng còn lại được bố trí trong
các lồng có kích thước 2 x 2 x 4 (m) (Hình 2.8).
Các thí nghiệm nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của tôm hùm bông và
tôm hùm xanh giai đoạn giống và thương phẩm được bố trí theo kiểu ngẫu
nhiên hoàn toàn. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Mật độ thả 10 con/lồng.
Trước khi tiến hành thí nghiệm, tôm hùm với kích cỡ đồng đều được lựa chọn
từ đàn tôm hùm nuôi thuần d
ưỡng, sau đó lấy mẫu ngẫu nhiên từ 10-50 con từ
đàn tôm đã chọn để cân khối lượng ban đầu của tôm. Số lượng tôm cân mẫu
tùy thuộc vào số lượng thí nghiệm và giai đoạn nuôi. Tôm hùm thí nghiệm