Văn học là một loại hình nghệ thuật - Pdf 13

VĂN HỌC LÀ MỘT LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
Tính độc đáo của mỗi loại hình nghệ thuật là do tính chất của các phương tiện vật chất
dùng để xây dựng hình tượng trong loại hình.Văn học nghệ thuật là một nghệ thuật ngôn
từ; yếu tố vật chất mang hình tượng của nó là lời nói của con người mà cơ sở là ngôn ngữ
của một dân tộc nhất định.Ngôn ngữ là một hiện tượng phức tạp, chức năng quan trọng
nhất là giao tiếp giữa người với người. Nhờ ngôn ngữ mà người ta biểu hiện tình cảm và
truyền cảm với người xung quanh, thông tin đến vơi nhau.Tất cả các bình diện này của
ngôn ngữ đều được vận dụng vào sáng tạo nghệ thuật.Chúng mở ra cho văn học những
nhận thức_thẩm mỹ cực kì rộng lớn và hoàn toàn độc đáo.
1. Các khả năng nghệ thuật của lời nói:
Các nhà nghiên cứu lí luận co nhiệm vụ là nghiên cứu khả năng của ngôn ngữ đối với sáng
tác của nhà văn. Nhà ngữ văn học A.A.Potebnia người Nga cuối thế kỉ XIX trong cuốn Tư
tưởng và ngôn ngữ và ghi chép về lí luận ngôn từ khẳng định: “ Nguyên tố nghệ thuật nằm
ngay trong bản thân ngôn ngữ, nằm trong sự vận động và phát triển không ngừng của nó ”.
Potebnia đã đối lập nghệ thuật ngôn từ ( thơ ca ) với lời nói ( văn xuôi ).Ông xem phẩm
chất chủ yếu của thơ ca là tính đa nghĩa của từ là đặc biệt là tính bóng gió. Ông nhấn mạnh
từ và nhóm từ được dùng với nghĩa bóng không chỉ là sự trtang sức đơn giản của lời nói
nghệ thuật mà thực chất là của thơ.
Học thuyết của Potebnia đã rọi sáng vào thuộc tính quan trọng của nghệ thuật ngôn từ.
Tính đa nghĩa của từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật là một trong những cội nguồn chủ yếu
của tính hình tượng. Đồng thời tính hình tượng của ngôn từ nhà văn cũng phải được tạo ra
bằng nghĩa bóng .Ngôn từ trong tác phẩm nghệ thuật đã tái hiện các sự kiện hành động,
cảm thụ cá biệt .Chẳng hạn trong tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao, lúc đầu Nam Cao đặt
tên cho thiên truyện ngắn của mình là Tiên sư thằng Tào Tháo, sau lai đổi thành Đôi mắt.
Tác phẩm được kết thúc bằng tiếng chửi yêu, đầy thán phục của nhân vật Hoàng khi nghe
vợ đọc Tam Quốc ở cái đoạn Tào Tháo đánh Quan Công: “ Tài thật! Tài thật! Tài đến thế
là cùng! Tiên sư thằng Tào Tháo! ”. Lúc đầu có lẽ tác giả đặt thiên truyện là Tiên sư thằng
Tào Tháo là do ông nhận ra cái độc đáo của câu kết xuất thần này. Nhưng sau đó khi đã
ngẫm nghĩ lại, như chính Nam Cao đã viết trong nhật kí, ông “đặt cho nó cái tên giản dị và
đúng đắn hơn, Đôi mắt.”
Như vậy cái tên Đôi mắt ra đời sau sự nghiền ngẫm và chau chuốt khi sử dụng ngôn ngữ

nghĩa là đem đến cho nó giá trị điển hình.Chứng tỏ khả năng hình tượng của lời nói cũng
quyết định đặc điểm của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật đặc thù.
Đặc điểm quan trọng nhất của lời nói nghệ thuật là tính tổ chức tối đa của nó. Từng sắc
thái, từng khác biệt nhỏ nhặt trong tác phẩm văn học nghệ thuật đều mang tính biểu cảm và
đều có nghĩa. Trong nghệ thuật ngôn từ sự lựa chọn cẩn thận các hình thức lời nói giàu ý
nghĩa, giàu biểu hiện nhất bao giờ cũng quan trọng. Tất cả cái ngẫu nhiên tùy tiện, tất cả
những gì là trung tính như thường gặp đầy rẫy trong lời nói thông thường ở trong các tác
phẩm văn học nghệ thuật sẽ dẫn đến cái tối thiểu và trong lí tưởng thì dẫn đến con số
không. Tuy nhiên những cái khác biệt về hình thức lời nói nghệ thuật so với các dạng lời
nói khác là không tất yếu. Nhiều trường hợp văn bản ngôn từ nghệ thuật bề ngoài chẳng
khác gì với lời nói thông thường như lời khẩu ngữ ( đối thoại trong tiểu thuyết hiện thực)
hay lời văn viết ( văn xuôi trong hình thức hồi tưởng, ghi chép, nhật kí ) .Nhưng ngay trong
các trường hợp đó, tức lời nói nghệ thuật về hình thức cũng chẳng khác gì so với lời nói
thông thường, thì nó vẫn có sự hoàn thiện thẩm mỹ.
2.Tính phi vật thể của hình tượng nghệ thuật ngôn từ:
Văn học nghệ thuật là loại hình nghệ thuật tạo hình để phân biệt với các loại hình biểu cảm
khác.Các họa sĩ , điêu khắc, diễn viên, đạo diễn đều xây dựng nên các hình tượng xác thực
hữu hình trực tiếp (hình tượng trực quan).Các hình tượng trong loại hình nghệ thuật này
đều trực tiếp tác động tới cảm giác nhìn của chúng ta.Ngược lại trong văn học nghệ thuật
các từ ngữ chỉ gắn bó bằng liên tưởng với các biểu tượng về các đối tượng được miêu tả.
Khi đọc hay nghe tác phẩm văn học chúng ta không nhìn thấy cái nhà văn mô tả, nhưng
nhờ vào sức mạnh của trí tưởng tượng mà ta tái tạo lại các đối tượng và sự thực văn bản đề
cập đến.Các loại hình tượng văn học không có tính trực quan sinh động mà chúng có tính
phi vật thể tác động vào trí tưởng tượng của người tiếp nhận.Do vây, nghệ thuật thua kém
về sức mạnh và sáng rõ của ấn tượng chủ quan nhưng bù lại bằng những khả năng đặc thù
độc đáo là tái tạo những gì có thể cảm nhận bằng thính giác, xúc giác, khứu giác ngoài cái
được cảm thụ bằng thị giác.
Điều chủ yếu là tác giả của tác phẩm văn học trực tiếp hướng tới sự cảm thụ “ngoài giác
quan” của người đọc: hướng tới sự tưởng tượng trí tuệ của người đọc.Chẳng hạn khảo sát
nhân vật thành công của tác phẩm Đôi mắt là văn sĩ Hoàng. Đọc luận đề Đôi mắt nên đọc

đã hết, cái nghề của Hoàng có một điều gì thật bất ổn: Hoàng là nhà văn kiêm tay buôn chợ
đen . Quả là một kết hợp cọc cạch, lạc điệu. Nhà văn hướng thiện, tay buôn hướng lợi. Ở
Hoàng nhà văn không lấn ướt được con buôn, mà ngược lại con buôn hóa, nên Hoàng luôn
so bì tính toán sợ thiệt. Nhiều người cho rằng bản thân cách sống thanh lịch của Hoàng
không có gì là phê phán cả. Hoàng cũng không phải là phản động, là kẻ thù của kháng
chiến. Vậy đánh giá cách sống của Hoàng như thế nào? Phải đặt Hoàng vào hoàn cảnh cả
dân tộc đang kháng chiến. Trong lúc mọi người quên cá nhân mình để sống và chiến đấu
cho độc lập, tự do của tổ quốc thì Hoàng lại chăm sóc cá nhân quá kĩ lưỡng: đi tản cư vẫn
dùng thuốc lá thơm và còn đủ thời gian tỉa tót vành ria mép…Đây là lối sống kiểu cách, xa
lạ, vô trách nhiệm, bộc lộ bản chất ích kỉ của mọi người.
Cách sống ấy có liên quan đến cách nhìn, nhìn lệch thì sống lệch. Cái nhìn của Hoàng
không phải là sai cả, nhưng cơ bản Hoàng nhìn rất méo mó về nhân dân (đặc biệt là nông
dân), về kháng chiến. Người xưa nói: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Nhưng
Hoàng lại sông rất vô trách nhiệm, ngôi nhà luôn đóng kín cổng của anh như là biểu tượng
cho thái độ đứng ngoài cuộc, cho cái lạnh lẽo dửng dưng của kẻ đã khước từ kháng chiến.
Ấy thế mà Hoàng thích đứng ngoài để chửi đổng_chửi đổng nhân dân, chửi đổng kháng
chiến. Hoàng sắc sảo đến hiếm có khi giễu cợt nhân dân: nào là chị dâu bị em bị em đuổi
ra vườn mà đẻ, nào là người nhà quê hay nhòm ngó, khách lạ vào làng thì đếm từng nốt
ruồi trên mặt, từng lỗ rách ở ống quần bên trái, nào là người nhà quê thích xét giấy, thích
nói chuyện chính trị…tóm lại toàn là nững người “vừa nhố vừa nhặng xị”. Hoàng còn có
tài bình luận bộc lộ thái độ đánh giá theo kiểu chê bai một cách nồng nhiệt đến trắng trợn “
nỗi khinh bỉ của anh phì ra ngoài theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như
ngửi thấy mùi xác thối”. Đồng minh với thái độ độc ác này là vợ Hoàng, cô ta nghe chồng
kể khoái trá cười đến mức rú lên, cười đến phát ho, đến chảy cả nước mắt….Hoàng càng
tỏ ra sắc sảo càng tỏ ra phiến diện. Độ nhận xét chính xác cách “nhìn đời, nhìn người” của
Hoàng là cách nhìn từ “một phía”, hoàn toàn mù mờ về bản chất tốt đẹp bên trong của
người nông dân kháng chiến, nên anh đã khinh bỉ họ một cách tàn nhẫn, dẫn đến thái độ bi
quan trước tiền đồ của cuộc kháng chiến là một tất yếu. Chính Hoàng tự nhận “tôi bi lắm”.
Bi vì không công nhận vai trò lịch sử của nhân dân, Hoàng chỉ biết sùng bái cá nhân lãnh
tụ. Mà Hoàng sùng bái cụ Hồ một cách ngô nghê, nực cười nhất là lúc Hoàng tỏ ra thương

văn.
Các hình tượng phi vật thể của nghệ thuật vẫn giữ được mối liên hệ với phạm vi hữu hình.
Tác phẩm văn học là sự tổng hợp độc đáo của các hình tượng khắc họa lại cái vô hình và
cái hữu hình. Và nghệ sĩ ngôn từ thường lo lắng sao cho tạo dựng được ở người đọc và
người nghe những biểu tượng hữu hình.
Như vậy các hình tượng ngôn từ thiếu tính trực quan nhưng lại có nhiều nhân tố tích cực.
Vận dụng các hình tượng phi vật thể, các nhà văn đã chiếm lĩnh tầm rộng lớn các phương
diện của đời sống vốn không thể hiện được ra ở bề ngoài hữu hình của thế giới vật thể.
3.Thời gian và không gian trong văn học
Các loại hình nghệ thuật chiếm lĩnh hiện thực trong các chiêu không_thời gian của nó một
cách khác nhau. Hội họa, điêu khắc miêu tả các sự vật một cách tĩnh tại, nêu ra hàng đầu
các đường nét và tỉ lệ không gian của chúng. Lessing nhấn mạnh trong hội họa và điêu
khắc các sự vật tồn tại kề nhau trong không gian. Nhưng trong văn học nghệ thuật thì
không miêu tả sự vật trong trạng thái bất động vì như vậy không có khả năng hấp dẫn
người đọc như miêu tả hành động “Những gì mà con mắt nắm bắt được tức khắc thì nhà
thơ phải trình bày cho chúng ta chậm rãi, theo từng bộ phận sau thì chúng ta quên mất bộ
phận trước. Ở đây đối chiếu các vật thể trong không gian đã vấp phải tính liên tục của lời
nói trong thời gian”. Laokoon đã chỉ ra rằng các nhà thơ lớn đều tránh những sự miêu tả
độc lập tự tại và tìm cách thay thế chúng bằng sự tái hiện hành động. Văn học nghệ thuật
thì trái lại tái hiện các quá trình của đời sống diễn ra trong thời gian tức hoạt động sống của
con người gắn liền với chuỗi cảm thụ, suy nghĩ, ý định, hành vi, sự kiện. Trong tác phẩm
văn học còn có một không gian NT đặc thù.
Tác phẩm văn họccó thể cung cấp những lời bình phẩm tỉ mỉ, chi tiết về một khoảng không
gian cuộc gặp gỡ giữa Hoàng và Độ. Độ từng ngủ chung với công nhân ở xưởng in, nên
khi nằm chung với Hoàng, Độ lo ngay ngáy mấy con rận trong bộ quần áo tây của mình
“du lịch” sang cái chăn bông thoang thoảng mùi nước hoa của Hoàng. Một chi tiết nhỏ
trong khoảng không gian nhỏ hẹp mà đủ dựng lên thế đối lập giữa hai cách sống: chiếc
chăn bông thơm nức sự sang trọng là chân dung một lối sống xa hoa lạc lõng, còn bộ quần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status